ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 10/1/ 2007, trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương
mại Thế giới – WTO cùng với những thành tựu đạt được sau 20 năm đổi mới
đã tạo ra rất nhiều thuận lợi cho kinh tế Việt Nam phát triển. Nền kinh tế càng
phát triển thì nhu cầu vốn càng lớn.
Bên cạnh những thuận lợi do hội nhập kinh tế đem lại thì nền kinh tế
Việt Nam cũng gặp không ít những khó khăn, đặc biệt đối với các doanh
nghiệp nhỏ và vừa - chiếm bộ phận lớn trong tổng số doanh nghiệp ở Việt
Nam, nhưng đang trong tình trạng có vốn đầu tư nhỏ và kĩ thuật lạc hậu. Sự
xâm nhập của các công ty đa quốc gia có vốn đầu tư lớn, có kĩ thuật công
nghệ hiện đại làm cho các doanh nghiệp đã khó khăn lại càng khó khăn hơn,
cạnh tranh trở lên khốc liệt hơn. Điều tất yếu là: muốn tồn tại được trong điều
kiện đó thì buộc các DNN&V phải nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ thuật
công nghệ, mở rộng sản xuất. Để thực hiện được ngoài nguồn vốn tự có
(thường là rất nhỏ) các DNN&Vphải phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn đi
vay từ các TCTD.
Đối với các NHTM, sự ra đời của hàng loạt các TCTD với những hình
thức khác nhau và sự xâm nhập của hàng loạt các ngân hàng nước ngoài –
quy mô vốn lớn, khả năng cho vay đối với các doanh nghiệp cao trong thời
gian qua khiến cho sự canh tranh trở lên trở lên gay gắt hơn. Đồng thời các
Ngân hàng Cổ phần với chính sách cho vay hấp dẫn hấp dẫn đã tạo áp lực lớn
cho hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng quốc doanh. Trong điều kiện đó
đòi hỏi Ngân hàng quốc doanh phải có những biện pháp tìm kiếm khách hàng
mới phù hợp với khả năng của mình, DNN&V là một trong những đối tượng
khách hàng rất phù hợp.
Vì thế, đề tài : “ Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay
trung và dài hạn đối với DNN&V tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ ”
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
1
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
là những cơ sở sản xuất – kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì
mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định
tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được
trong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia”.
Như vậy có thể nói, tiêu thức phân loại doanh nghiệp được sử dụng phổ
biến trên thế giới là:
+ Vốn sản xuất
+ Số lao động thường xuyên
+ Doanh thu
+ Lợi nhuận
+ Giá trị gia tăng
Trong số các tiêu thức trên thì quy mô vốn và số lượng lao động là
những tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất. Ở mỗi nước, sự phân chia
DNN&V cững không giống nhau và còn phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh,
ví dụ như: ở Nhật Bản các DNN&V thuộc khu vực sản xuất phải có số vốn
dưới 1 triệu USD và số lao động không quá 300 người, còn khu vực thương
mại dịch vụ thì có vốn dưới 300.000USD và lao động không quá 100 người.
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
3
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
Tại Đài Loan, các doanh nghiệp trong ngành xây dựng có số vốn dưới 1,4
triệu USD, lao động dưới 300 người; trong khu vực công nghiệp khai khoáng
có số vốn dưới 1,4 triệu USD và không quá 500 lao động là DNN&V.
Tại Việt Nam, Nghị định số 90/2001/NĐ – CP ra ngày 23/11/2001 quy
định rõ: “DNN&V là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh
doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn dăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc có
số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người ”.
Theo quy định này, DNN&V ở nước ta gồm các loại hình cơ sở sản xuất
kinh doanh tồn tại trong tất cả các thành phần kinh tế, và thuộc các hình thức
sở hữu sau:
- Vốn đầu tư ban đầu của DNN&V tuy ít nhưng mang lại hiệu quả kinh
tế cao, thu hồi vốn nhanh do đó có khả năng thu hút nhiều cá nhân, tổ chức ở
mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực này.
1.1.2.2 Những bất lợi:
- Khả năng cạnh tranh thấp dó tiềm lực về kinh tế yếu: DNN&V có
vốn chủ sở hữu ít, mặt khác thường thiếu tài sản thế chấp nên rất khó để
vay vốn ngân hàng, còn việc huy động vốn trên thị trướng chứng khoán
cũng rất khó khăn. Nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động được chủ yếu
là từ người thân, bạn bè. Do đó DNN&V luôn thiếu vốn làm hạn chế
cũng như bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh, không đáp ứng được yêu cầu mở
rộng sản xuất, dẫn đến khả năng tự tích lũy của các doanh nghiệp cũng bị
hạn chế.
- Khả năng hạn hẹp trong việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nghiên
cứu, cải tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm: do hạn chế về vốn nên có những
kế hoạch và chiến lược phát triển tốt bị bỏ qua dẫn đến khả năng cạnh tranh
trên thị trường của các doanh nghiệp này thấp.
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
5
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
- DNN&V với quy mô kinh doanh không lớn, khả năng tài chính hạn
hẹp, sức cạnh tranh thấp do đó trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụ
thuộc vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn.
1.1.3 Vai trò của DNN&V
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, song với những lợi thế của mình các
DNN&V ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia, kể cả nước có trình độ phát triển cao. Nhật Bản và các quốc gia
châu Á đều đánh giá cao vai trò của DNN&V trong quá trình phát triển kinh
tế của mình, trong đó Đài Loan được nhắc đến như là một điển hình tành
công, là vương quốc của DNN&V. Năm 2000, DNN&V Đài Loan chiếm
khoảng 96% tổng số doanh nghiệp, tạo ra khoảng 40% sản lượng công
trọng tương đối lớn, do đó việc phát triển DNN&V có vai trò quan trọng trong
sự phát triển của nền kinh tế.
- Thu hút lao động, tạo ra nhiều việc làm với chi phí đầu tư thấp, góp
phần giảm thất nghiệp. Nhìn chung, theo các số liệu thống kê ở một số
nước châu Á thì các DNN&V chiếm khoảng 81 – 98% số doanh nghiệp,
thu hút khoảng 30 – 60% lao động. Ở Việt Nam, số lượng DNN&V chiếm
khoảng 97% trong tổng số doanh nghiệp đã đăng kí hoạt động, đóng góp
khoảng 26% GDP của nền kinh tếvà thu hút khoảng 26% lực lượng lao
động trong cả nước.
- Tạo nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư, góp phần giảm
bớt chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư, tạo sự phát triển đồng
đều giữa các vùng trong cả nước do DNN&V có khả năng tận dụng những
tiềm năng sẵn có tại địa phương. Việc phát triển các doanh nghiệp thuộc
ngành nghề truyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong những hướng
quan trọng và được Nhà nước hết sức hỗ trợ vì không những làm tăng thu
nhập cho người dân mà còn góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc.
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
7
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
- DNN&V hỗ trợ các doanh nghiệp lớn nâng cao hiệu quả kinh tế. Thực
tiễn cho thấy một nền kinh tế có công nghệ hiện đại sẽ không hoàn chỉnh và
không hiệu quả nếu không có những doanh nghiệp lớn và những doanh
nghiệp có quy mô nhỏ hơn. Mối liên hệ thể hiện thông qua việc doanh nghiệp
lớn cung cấp nguyên liệu sơ chế, thành phẩm, thiết bị, máy móc cho các
doanh nghiệp nhỏ. Đồng thời các DNN&V tiếp nhận việc xây dựng cơ sở sản
xuất và trang thiết bị, chế tạo các bộ phận đơn giản, cung cấp các dịch vụ
công nghiệp như lắp đặt, sửa chữa bảo dưỡng, … cho các doanh nghiệp lớn.
Ngoài ra, DNN&V còn đóng vai trò làm đại lý, vệ tinh cho các doanh nghiệp
lớn, giúp tiêu thụ hàng hóa, thâm nhập vào các ngõ ngách của thị trường mà
các doanh nghiệp lớn không tới được.
1.2.1Các vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
1.2.1.1 Khái niệm cho vay trung, dài hạn của ngân hàng
Cho vay là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa hai chủ
thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng
trong thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản ca kết hoàn trả
theo thời gian đã thỏa thuận.
Cho vay trung, dài hạn là các khoản cho vay của ngân hàng có thời hạn từ
một năm trở lên. Việc phân chia cụ thể hoạt động cho vay trung, dài hạn tùy
thuộc vào quy định của từng quốc gia, thông thường:
Cho vay trung hạn là những khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm
để tài trợ mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kĩ thuật, mở rộng công
trình có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên được sử
dụng để xây dựng, cải tạo hay hoàn thiện đồng bộ dây chuyền công nghệ.
1.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay trung, dài hạn của NHTM
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
9
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
Có nhiều căn cứ để phân loại hoạt động cho vay của NHTM, nếu căn cứ
vào thời hạn thì có thể phân thành: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và
cho vay dài hạn. Cho vay trung và dài hạn là những khoản vay có kỳ hạn vay
từ 12 tháng trở lên, có những đặc điểm sau:
a, Về đối tượng cho vay: Những khoản cho vay trung, dài hạn chủ yếu
được tài trợ cho những hoạt động đầu tư trung và dài hạn kéo dài từ 1 năm trở
lên như mua sắm thiết bị , đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, thực hiện các dự án đầu tư.
b, Về lãi suất cho vay: Do mức độ rủi ro cao nên lãi suất cho vay trung,
dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Lãi suất cho vay trung, dài
hạn có thể là lãi suất cố định hoặc lãi suất quy định thay đổi theo mức lãi suất
thị trường. Việc quy định mức lãi suất cụ thể của từng ngân hàng có thể dựa
cạnh đó, ngân hàng cũng cần kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của khách
hàng để đảm bảo nó được thực hiên đúng như những thoả thuận ghi trong hợp
đồng tín dụng và không trái với các quy định pháp luật hiện hành.
d, Dự án vay vốn vay trung, dài hạn có hiệu quả kinh tế - xã hội cao:
Một dự án , kế hoạch kinh doanh muốn được vay vốn để thực hiện thì nó
phải có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, những dự án có hiệu quả thấp không
được phép vay vốn vì nó sẽ dẫn đến sự hoàn trả vốn khó khăn và gây ra hậu
quả xấu cho nền kinh tế và có thể không được phép thực hiện.
Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án là một tiêu chí quan trọng để thẩm
định dự án vay vốn, nó cho phép dự báo nguồn trả nợ trong tương lai do dự án
đem lại và những đóng góp củaviệc thực hiện dự án vào sự phát triển kinh tế
và giải quyết những vấn đề xã hội như: tạo việc làm và tăng thu nhập cho
người lao động …
e, Việc sử dụng vốn vay trung, dài hạn phải tuân theo kì hạn đã thỏa
thuận:
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
11
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
Theo quy định hiện hành, nguồn vốn vay trung, dài hạn là nguồn vốn vay
có kì hạn từ 12 tháng trở lên. Kì hạn cụ thể của từng khoản vay sẽ do khách
hàng và ngân hàng thoả thuận và được ghi trong hợp đồng tín dụng. Sở dĩ
phải có kì hạn cụ thể cho từng khoản vay là do nguồn huy động của ngân
hàng là có kì hạn, khi đến hạn ngân hàng phải hoàn trả cho người gửi thậm
chí phải trả ở bất kì thời điểm nào nếu người gửi yêu cầu. Mặt khác, xác định
rõ kì hạn cho vay trung, dài hạn nhằm giảm thiểu rủi ro mất vốn, rủi ro nợ xấu
cho các ngân hàng.
1.2.1.3 Các điều kiện vay vốn trung và dài hạn
NHTM cho vay trung, dài hạn đối với các doanh nghiệp chủ yếu là để tài
trợ cho đầu tư đổi mới, hiện đại hoá máy móc, trang thiết bị, thực hiện sản
xuất kinh doanh mới …
Chỉ tiêu tỉ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) cũng là một chỉ tiêu thường được
dùng khi thẩm định dự án. IRR cho biết tỷ lệ sinh lời hàng năm trên một đồng
vốn bỏ đầu tư bỏ ra có được từ việc đầu tư vào dự án hay nói cách khác IRR
cho biết lợi nhuận tương đối của dự án, IRR là mức lãi suất mà tại đó giá trị
hiện tại ròng NPV=0. Một dự án được lựa chọn để đầu tư khi có tỉ suất hoàn
vốn nội bộ lớn hơn lãi suất chiết khấu.
Bên cạnh việc sử dụng chỉ tiêu NPV và IRR, khi đánh giá hiệu quả của
một dự án người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác như: thời gian hoàn vốn,
chỉ số doanh lợi và phân tích điểm hoà vốn, … Hiện nay, một trong những
phương pháp được sử dụng phổ biến khi đánh giá hiệu quả của dự án đó là
phương pháp phân tích độ nhạy trên cơ sở lượng hoá mức độ rủi ro của dự án,
từ đó lượng hoá được sự thay đổi của các dòng tiền thu trong tương lai và
lượng hoá được sự thay đổi của các chỉ tiêu NPV, IRR. Có nhiều yếu tố ảnh
hưởng tới dòng tiền của dự án. Theo phương pháp phân tích độ nhạy, các yếu
tố này được thiết lập trên cơ sở phân bố xác suất và tính kì vọng chứ không
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
13
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
thể biết chắc chắn được. Ví dụ, khi một biến quan trọng như: lượng hàng bán
ra thay đổi sẽ dẫn tới dòng tiền thu thay đổi và NPV, IRR cũng thay đổi theo.
Thực hiện phương pháp phân tích độ nhạy là chỉ ra chính xác các chỉ tiêu tài
chính thay đổi như thế nào khi các biến đầu vào như nguyên liệu và biến đầu
ra như lượng hàng tiêu thụ thay đổi. Khi áp dụng phương pháp này và phân
tích yếu tố nào là nhạy cảm với sự thay đổi của dòng tiền nhất, và dự kiến
mức xấu nhất, trung bình và tốt nhất có thể xảy ra để đánh giá hiệu quả của
dự án trong các trường hợp đó.
b. Về tài sản đảm bảo
Cho vay trung, dài hạn có mức độ rủi ro rất cao nên để đảm bảo có
nguồn thu nợ thứ hai khi mà nguồn thu nợ thứ nhất là nguồn thu nợ từ thu
nhập của dự án không đạt được thì các NHTM thường yêu cầu bên vay phải
trong quá trình thành lập cũng như tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp cần có một số vốn nhất định để mua máy móc thiết bị, nguyên
vật liệu, thuê lao động. Khi tiến hành sản xuất, doanh nghiệp cần vốn để duy
trì hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục.
Tuy nhiên, nhu cầu vốn của doanh nghiệp thay đổi trong các thời kì khác
nhau. Những thay đổi của môi trường kinh doanh cũng như chính sách tài
chính, chu kì kinh tế, thay đổi thời vụ, … cũng ảnh hưởng đáng kể tới nhu cầu
vốn của doanh nghiệp. Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế hiện nay, trước
những thách thức của thị trường, doanh nghiệp cần có những bước đi táo bạo
trong kinh doanh, dó đó nhu cầu vốn trung, dài hạn sẽ rất lớn. Trong khi đối
với DNN&V thì vốn tự có thường là rất thấp, không được hỗ trợ như các hình
thức doanh nghiệp khác nên cácDNN&V không thể chỉ trông chờ vào vốn tự
có của mình mà còn phải chú ý vào kênh huy động vốn khác để có một nguồn
tài chính ổn định và đáp ứng được nhu cầu kinh doanh .
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
15
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
Thực tế cho thấy, để huy động vốn doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều hình
thức khác nhau như: tín dụng thương mại, huy động vốn từ dân cư (qua con
đường phát hành chứng khoán) hay từ các trung gian tài chính mà điển hình là
Ngân hàng thương mại. Ngày nay, tín dụng ngân hàng là sự lựa chọn của khá
nhiều doanh nghiệp vì nó rất linh hoạt và nhiều trường hợp vay vốn tại ngân
hàng là sự lựa chọn tốt nhất của doanh nghiệp.
Trong xu thế mở rộng và phát triển kinh tế, số lượng các DNN&V không
ngừng tăng lên ở nhiều quốc gia và thành phần kinh tế này đựoc Nhà nước
khuyến khích phát triển, tạo điều kiện kinh doanh bình đẳng với các DNNN.
Chính vì thế nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất của các DNN&V không ngừng
tăng lên, tạo điều kiện để mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng đối với
các doanh nghiệp này.
b, Xuất phát từ nhu cầu của NHTM
hiện biện pháp quản lý trước, trong và sau khi cho vay nhằm kiểm tra tính
đúng đắn trong mục đích sử dụng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp để có biện pháp xử lý kịp thời. Chính những vấn đề này đặt
doanh nghiệp trong điều kiện phải nỗ lực hết mình, nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn một cách tối ưu thông qua hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
b. Đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, tạo điều kiện mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh của DNN&V
Thông thường, quy mô vốn của các doanh nghiệp đặc biệt các
DNN&V là rất thấp do vậy DNN&V bị hạn chế nhiều trong việc mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhiều trường hợp doanh nghiệp có
phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả song không thể huy động đủ vốn
để thực hiện. Nhu cầu vốn của doanh nghiệp chủ yếu nhằm tài trợ cho tài
sản lưư động và tài sản cố định. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các
DNN&V có thể cần vốn đầu tư vào hang dự trữ, ngân quỹ, các khoản
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
17
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
phải thu, … do vậy phát sinh nhu cầu vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp mở
rộng quy mô hoạt động. Trường hợp khác, DNN&V có thể có phương án
mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện một dự án đầu tư phát triển
vào một lĩnh vực nhất định, lúc này phát sinh nhu cầu vốn trung, dài hạn
để đầu tư vào tài sản lưu động ròng. Do vậy, nguồn vốn vay từ ngân hàng
đóng vai trò rất quan trọng đối với kết quả và quy mô hoạt động của các
DNN&V trong tương lai. Hơn thế nữa trong trường hợp đầu tư dài hạn,
nhu cầu vốn lớn, nếu tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng thì chi phí
có thể thấp hơn các nguồn khác.
Có thể thấy, nguồn vốn vay từ ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng đối
với hoạt động của DNN&V. Không những vậy, thông qua việc hỗ trợ cho
DNN&V, qua đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
tốt, kết quả thẩm định đáng tin cậy thì sẽ tạo thuận lợi cho ngân hàng khi ra
quyết định cho vay và có thể mạnh dạn cho vay đối với các khách hàng mới.
Còn nếu như kết quả thẩm định vẫn chưa hoàn toàn đáng tin cậy thì việc tiếp
cận với những khách hàng mới sẽ mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng.
1.3.1.4 Công nghệ trang thiết bị và chiến lược Marketing:
Công nghệ trang thiết bị hiện đại là điều kiện để đơn giản hóa các thủ tục, rút
ngắn thời gian giao dịch, đem lại sư tiện lợi tối đa cho cả khách hàng và ngân
hàng. Đó là tiền đề để thu hút thêm khách hàng, mở rộng hoạt động cho vay.
Một ngân hàng với cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại sẽ tạo được niềm tin đối
với khách hàng đồng thời là vũ khí cạnh tranh hiệu quả. Bên cạnh đó, chiến
lược Marketing sẽ cung cấp những thông tin cần thiết đến với khách hàng, tạo
điều kiện thuận lợi cho khách hiều biết về ngân hàng từ đó tìm kiếm thêm
khách hàng mới.
1.3.2 Nhân tố khách quan
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
19
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.2.1 Về phía doanh nghiệp:
a, Nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp:
Các loại hình doanh nghiệp đều có nhu cầu đầu tư phát triển mở rộng sản xuất
kinh doanh. Điều quan trọng là ngân hàng phải tiếp cận, tìm hiểu và gợi mở
những nhu cầu đó đồng thời tạo điều kiện đáp ứng đựoc nhu cầu của doanh
nghiệp. Mở rộng cho vay đối với các DNN&V đòi hỏi các ngân hàng phải
quan tâm đến những dự án đầu tư và xem xét khả năng đầu tư của các
DNN&V từ đó có thể xác định được khách hàng tiềm năng của mình.
b, Năng lực của các DNN&V:
Ngân hàng chỉ có thể cho doanh nghiệp vay vốn khi doanh nghiệp đáp ứng
được các điều kiện vay vốn. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả đồng thời phải có tài sản đảm bảo
cho khoản vay. Ngoài ra, năng lực quản lý và khả năng tài chính của doanh
chính sách kinh tế, … Mỗi nước có những biện pháp hỗ trợ khác nhau để tăng
cường khả năng tiếp cận nguồn vốn vay NHTM của các DNN&V. Trong thời
gian qua, nhiều nước ttrên thế giới luôn đánh giá cao vai trò của DNN&V
trong quá trình phát triển kinh tế đất nước:
1.4.1Tại Đức
Khu vực DNN&Vgóp một phần quan trọng trong việc tạo ra thu nhập cho nền
kinh tế, đóng góp 50% vào GDP, chiếm hơn hẳn thu nhập chịu thuế của
doanh nghiệp, cung cấp các loại hàng hóa dịch vụ đpá ứng nhu cầu đa dạng
của người tiêu dung. Để có được những kết quả như vậy, Chính Phủ đã áp
dụng nhiều chính sách, chương trình khuyến khích và thúc đẩy DNN&V phát
triển.
Vì các doanh nghiệp này không đủ điều kiện thế chấp tài sản để có thể nhận
được các khoản tín dụng lớn bên cạnh những khoản tín dụng ưu đãi nên ở
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
21
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
nước này còn phát triển các tổ chức bảo lãnh tín dụng. Những tổ chức này ra
đời và hoạt động dưới sự kết hợp chặt chẽ của phòng Thương mại, Hiệp hội
doanh nghiệp - ngân hàng và chính quyền liên bang. Nguyên tắc hoạt động cơ
bản là vì khách hàng và DNN&V sẽ nhận được sự bảo lãnh của một tổ chức
bảo lãnh để nhận được khoản vay. Với sự giúp đỡ này, Đức đã khắc phục
được rất nhiều khó khăn trong việc đi vay của các DNN&V cũng như trong
việc cho vay của các ngân hàng.
1.4.2 Tại Nhật Bản
Các chính sách hỗ trợ cho DNN&V ở Nhật Bản được hình thành từ những
năm 1950 nhằm giúp các doanh nghiệp này tháo gỡ những khó khăn, cản trở
việc phát vốn cũng như khả năng tiếp cận tín dụng thấp, thiếu sự đảm bảo về
vay vốn, … các biện pháp hỗ trợ này đã được thực hiện thông qua hình thức
hỗ trợ tín dụng và các tổ chức tài chính công cộng phục vụ DNN&V. Hệ
thống này giúp cho các doanh nghiệp tiếp cận được với các nguồn tín dụng,
NHNo&PTNT Láng Hạ
2.1.1 Bối cảnh ra đời của Chi nhánh
Năm 1996 hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đã có bước phát
triển mới, góp phần không nhỏ đáp ứng yêu cầu cung cấp vốn cho các thành
phần kinh tế trên mọi miền đất nước mà đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn và nông dân.
Ngày 15/11/1996 theo quyết định số 280/QĐ-NHNN của thống đốc
Ngân hàng nhà nước Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền đổi tên
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn Việt Nam. Với tên gọi mới, Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn Việt Nam đựơc xác định thêm nhiệm vụ mới: đầu tư phát
triển đối với khu vực nông thôn qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Để thực hiện nhiệm vụ xây dựng ngân hàng trong giai đoạn mới nhằm
đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đất nước sau 10 năm đổi mới, đòi hỏi các tổ
chức tín dụng phải đa năng hơn trong hoạt động kinh doanh nhằm tạo lợi thế
cạnh tranh, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển bền vững đổi mới
kinh tế dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII. Trong bối cảnh
đó Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam đã thể hiện
định hướng chiến lược có ý nghĩa quan trọng: củng cố và giữ vững thị trường
nông thôn, tiếp cận nhanh và từng bước chiếm lĩnh thị phần tại thị trường
thành thị, phát triển kinh doanh đa năng, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng,
góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước.
Phạm Thu Nga – TCDN45B Khoa NH – TC
24
ĐHKTQD Chuyên đề tốt nghiệp
Từ thực tiễn trên, cùng với việc ra đời của một số chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp tại các thành phố lớn, khu đô thị và trung tâm kinh tế trên mọi
miền đất nước trong giai đoạn 1996-1997. Ngày 1/8/1996 tại quyết định số
334/QĐ-NHNo-02 của Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển