Quản lý tài chính tại Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ HOÀI PHƯƠNG

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI
TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2017


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT
LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM KIỂM
ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ........................................................................5
1.1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC ................................................................................................................5
1.2. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC ...............................................................................................................10
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM KIỂM
ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC - ĐHQGHN (Giai đoạn 2014-2016) ..........22
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG TÂM KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC-ĐHQGHN .............................................................................................22

Cơ sở đào tạo

3

CSGD

Cơ sở giáo dục

4

CTĐT

Chương trình đào tạo

5

ĐBCL

Đảm bảo chất lượng

6

ĐBCLGD

7

ĐGN

8


14

KBNN

Kho bạc Nhà nước

15

KĐCL

Kiểm định chất lượng

16

KĐCLGD

17

KĐV

18

KHCN

Khoa học Công nghệ

19

NSNN


Triệu đồng

25

TĐG

Tự đánh giá

Đảm bảo chất lượng giáo dục
Đánh giá ngoài
Đại học Quốc gia Hà Nội
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định viên


DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số hiệu sơ
đồ

Tên sơ đồ

Trang

Sơ đồ 2.1

Tổ chức bộ máy của ĐHQGHN

22


35

Bảng 2.4

Tổng chi thường xuyên của Trung tâm giai đoạn 2014-2016

40

Bảng 2.5

Nội dung và tỷ trọng chi thanh toán cá nhân

42

Bảng 2.6

Nội dung và tỷ trọng chi nghiệp vụ chuyên môn

43

Bảng 2.7

Tổng chi sự nghiệp giai đoạn 2014-2016

45

Bảng 2.8

Cơ cấu chi sự nghiệp giai đoạn 2014-2016

gia hoặc không tham gia vào quá trình giáo dục. Chất lượng cũng luôn là một vấn
đề đối với Chính phủ và các cơ quan, nơi hoạch định các chính sách giáo dục và
nghiên cứu giáo dục.
Kiểm định chất lượng giáo dục được coi có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng
khi Nhà nước chủ trương giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục theo năng lực và
kết quả KĐCLGD. Với tầm quan trọng của việc kiểm định cơ sở GDĐH đối với xã
hội, Bộ GD&ĐT đã ra quyết định thành lập và cấp phép hoạt động cho 04 Trung
tâm KĐCLGD trong cả nước. Các Trung tâm KĐCLGD do Bộ GD&ĐT thành lập
là các đơn vị sự nghiệp công lập có thu tự bảo đảm một phần chi thường xuyên.
Dù đóng vai trò và ý nghĩa lớn trong sự nghiệp phát triển giáo dục nhưng tại
Việt Nam cụm từ KĐCLGD là một khái niệm còn tương đối mới mẻ, xa lạ. Đến nay
các Trung tâm KĐCLGD chưa nhận được sự quan tâm đầu tư tương xứng với vị trí
và vai trò của mình. Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng chưa ban hành văn bản quy định
nào liên quan đến hoạt động KĐCLGD khiến các Trung tâm gặp nhiều vướng mắc
trong quá trình triển khai nhiệm vụ. Tính tới thời điểm hiện tại, các trung tâm mới
đi vào hoạt động từ 2-4 năm, kinh phí hỗ trợ ban đầu từ đơn vị chủ quản hạn chế,
phải tự cân đối thu chi. Trước tình hình thực tế cùng những yêu cầu đặc thù thuộc
lĩnh vực KĐCLGD, các trung tâm đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức
trong việc đảm bảo nguồn kinh phí vận hành và phát triển đơn vị. Để vượt qua được
những khó khăn, thách thức ấy, các Trung tâm KĐCLGD cần phải khắc phục những
hạn chế, bất cập của mình, đặc biệt là khâu quản lý tài chính. Nhà nước cũng cần
tăng cường hỗ trợ, đầu tư và đổi mới cơ chế quản lý tài chính tại các đơn vị sự
nghiệp dịch vụ công lập trong lĩnh vực GDĐH, từ đó tạo điều kiện cho các đơn vị này

1


đáp ứng tốt các đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên đề tài nghiên cứu: “Quản lý tài chính
tại” đã được lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ. Trung tâm Kiểm định chất lượng



Trung tâm KĐCLGD - ĐHQGHN nói riêng, và có thể nhân rộng ra các Trung tâm
KĐCLGD khác trong cả nước.
Luận văn hướng đến các mục tiêu cụ thể sau:
- Về lý luận: Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu, tổng hợp và làm rõ hơn
cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại các Trung tâm KĐCLGD công lập.
- Về thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Trung
tâm KĐCLGD - ĐHQGHN trong giai đoạn 2014-2016, chỉ ra những thành công,
hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện việc quản lý tài chính tại
KĐCLGD - ĐHQGHN giai đoạn 2017-2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý tài chính tại Trung tâm KĐCLGD ĐHQGHN.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu đối với các hoạt động tài
chính gắn với tự chủ của các Trung tâm KĐCLGD do Bộ GD&ĐT thành lập.
Về không gian, luận văn chỉ nghiên cứu giới hạn trong phạm vi các Trung tâm
KĐCLGD công lập; còn thực tiễn chỉ tập trung phân tích đánh giá thực tế quản lý tài
chính tại Trung tâm KĐCLGD - ĐHQGHN giai đoạn 2014-2016, các giải pháp hoàn
thiện quản lý tài chính tại đơn vị được nghiên cứu áp dụng cho những năm tiếp theo.
Về thời gian, những tư liệu phục vụ nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý
tài chính tại Trung tâm KĐCLGD - ĐHQGHN các năm 2014-2016; trên cơ sở đó đề
xuất các giải pháp tăng cường quản lý tài chính của trung tâm giai đoạn 2017-2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng nhiều phương pháp
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa và suy luận logic
để nghiên cứu cơ sở lý luận.
- Sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh và suy
luận logic để tổng kết, đánh giá thực trạng các vấn đề nghiên cứu, xác định rõ

Chương 1: Tổng quan các vấn đề cơ bản về Kiểm định chất lượng giáo dục
và quản lý tài chính tại Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục.
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm kiểm định chất lượng
giáo dục - ĐHQGHN (giai đoạn 2014-2016)
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Trung tâm
kiểm định chất lượng giáo dục - ĐHQGHN.

4


Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM
KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
1.1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC
1.1.1. Nhận thức chung về Kiểm định chất lượng giáo dục
1.1.1.1. Các khái niệm
a) Khái niệm về Giáo dục:
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một trong những lĩnh vực hoạt
động xã hội nhằm kế thừa, duy trì và phát triển nền văn hóa xã hội, văn minh nhân
loại. Giáo dục là nhân tố cốt lõi, là phần tồn tại khách quan trong mọi giai đoạn phát
triển xã hội.
Theo nghĩa chung nhất: “Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước
vào cuộc sống lao động và sinh hoạt xã hội; là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài
người, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội”. [2]
b) Khái niệm về Chất lượng giáo dục:
Chất lượng giáo dục là “Sự đáp ứng mục tiêu của cơ sở giáo dục hoặc
chương trình giáo dục, đáp ứng các yêu cầu của Luật giáo dục, Luật sửa đổi, bổ

nước),... Ở Hoa Kỳ, tất cả các Trung tâm KĐCLGD đều không thuộc Nhà nước.
Tuy nhiên, hầu hết các Trung tâm KĐCLGD của các nước khác đi vào hoạt động
trong 20 năm gần đây đều do Nhà nước thành lập (Thái Lan, Mông Cổ, Úc, Ấn Độ,
Malaysia, Indonesia), nhưng sau đó trở thành các Trung tâm Kiểm định độc lập
(Úc, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia,…), nhưng vẫn được nhận kinh phí hỗ trợ của Nhà
nước (Australia, Ấn Độ, Indonesia). Hoa Kỳ có 6 Trung tâm Kiểm định vùng,
nhưng hầu như các nước khác, nhất là các nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương, có xu hướng chỉ có một tổ chức quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục (ví
dụ : Thái Lan, Indonesia, Căm-pu-chia). Một số nước khác như Nhật Bản,
Phillippines, Malaysia có 2 tổ chức KĐCLGD, một trong số đó đã được thành lập khá
nhiều năm trước. Nhưng gần đây, Malaysia đã sáp nhập hai tổ chức lại thành một tổ
chức mới. Một số nước có những Trung tâm Kiểm định của các hiệp hội, tổ chức
chuyên môn hoạt động bên cạnh các tổ chức quốc gia KĐCLGD nhưng với quy mô
nhỏ (ví dụ : Thái Lan).
b) Trong nước:
Vì tầm quan trọng của việc kiểm định trường đại học đối với xã hội, cũng
như sự cần thiết phải làm rõ hai vấn đề Các Tiêu chí dùng để làm công cụ đánh giá

6


và Các Quy trình kiểm định, từ năm 2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã
có các văn bản quy định và hướng dẫn cụ thể những vấn đề này. Tháng 5 năm 2013
Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ GD&ĐT ban hành công
văn số 462 (về Quy trình) và công văn số 527 (về Tiêu chí) đã đánh dấu sự hoàn
thiện về quá trình chuyển giao các phương pháp đánh giá của Bộ GD&ĐT dành cho
các trường đại học trên cả nước, chuẩn bị tiến đến kiểm định chất lượng toàn diện.
c) Hợp tác quốc tế trong công tác đảm bảo và Kiểm định chất lượng giáo dục:
Từ những năm 2000, thông qua các hội thảo, các đợt tập huấn Việt Nam đã
nhận được mô hình các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng do các chuyên gia trên thế

- Văn bản số 06/VBHN-BGDĐT ngày 04/03/2014, quy định về tiêu chuẩn đánh
giá chất lượng giáo dục trường đại học. Hiện tại, đã được thay thế bởi Thông tư số
12/2017/TT-BGDÐT ngày 19/05/2017, ban hành quy định về KĐCL cơ sở GDĐH;
- Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/3/2016, quy định về tiêu chuẩn
đánh giá chất lượng CTĐT các trình độ của GDĐH.
1.1.2. Mục tiêu hoạt động của Kiểm định chất lượng giáo dục
Hoạt động KĐCLGD được chia thành 4 mục tiêu cụ thể như sau: i) đảm bảo
và nâng cao chất lượng GDĐH; ii) xác nhận mức độ cơ sở GDĐH hoặc CTĐT đáp
ứng mục tiêu GDĐH trong từng giai đoạn nhất định; iii) làm căn cứ để cơ sở
GDĐH giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và xã hội về thực
trạng chất lượng đào tạo; iv) làm cơ sở cho người học lựa chọn cơ sở GDĐH,
CTĐT và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực.
1.1.3. Các Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục tại Việt Nam
Như nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam không giao cho Bộ GD&ĐT
trực tiếp thực hiện KĐCLGD các trường đại học, việc này được các Trung tâm
KĐCLGD thực hiện theo quy trình độc lập.
1.1.3.1. Khái niệm
Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục là “Đơn vị hoạt động trong lĩnh
vực kiểm định chất lượng giáo dục theo các quy định của Bộ GD&ĐT, có chức
năng đánh giá và công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt tiêu
chuẩn chất lượng giáo dục”. [12]
Kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục là “Người hành nghề liên
quan đến lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện
hành nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về kiểm định viên KĐCLGD
(sau đây gọi tắt là KĐV)”. [12]
1.1.3.2. Phân loại Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục
Trung tâm KĐCLGD bao gồm Trung tâm KĐCLGD do Nhà nước thành lập
và tổ KĐCLGD do tổ chức, cá nhân thành lập.

8

Việt Nam.
1.1.4. Thành quả và ý nghĩa của hoạt động Kiểm định chất lượng giáo dục
Tổng hợp đến 30/06/2017, cả nước có 50 trường đại học được ĐGN. Trong số
các trường đã được đánh giá, có 30 trường được cấp Giấy chứng nhận KĐCLGD.

9


Kết quả từ những hoạt động tự đánh giá và chuẩn bị cho công tác kiểm định
chất lượng của đoàn đánh giá ngoài đem lại cho các đơn vị trong các trường đại học
là rất lớn. Ngoài việc tạo được một báo cáo đánh giá đầy đủ theo quy tắc của Bộ
Giáo dục gồm 10 tiêu chuẩn được xây dựng từ 61 tiêu chí, cùng với cơ sở dữ liệu
hoàn thiện của một trường đại học để giúp xã hội có một bức tranh từ tổng thể đến
chi tiết, thì những ý nghĩa to lớn hơn là giúp mỗi đơn vị trong trường nhận thức
được rằng đã đến lúc mỗi đơn vị phải tự chịu trách nhiệm trước những gì đang diễn
ra và phải có những việc làm thiết thực để vừa tự hào trước trách nhiệm đó vừa đem
lại lợi ích thiết thực cho những bên liên quan. Mà hai đối tượng trước hết cần được
quan tâm đó là người học và các nhà sử dụng nhân sự do trường đại học đào tạo ra.
1.2. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM KĐCLGD CÔNG LẬP
Trung tâm KĐCLGD do Nhà nước thành lập là những đơn vị sự nghiệp công
lập có thu tự bảo đảm một phần chi thường xuyên. Các trung tâm này là đơn vị trực
thuộc đại học 2 cấp.
1.2.1. Khái niệm quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập
Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là
khâu quản lý mang tính tổng hợp. Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả
nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá
trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định. Việc
quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực tiếp đến
hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế,
ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn

áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước.
+ Mở tài khoản tại KBNN để phản ánh các khoản kinh phí thuộc NSNN;
được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc KBNN để phản ánh các khoản thu,
chi của hoạt động dịch vụ.
+ Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành
của Nhà nước, được chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội
bộ cho các khoản chi hoạt động thường xuyên cao hơn hoặc thấp hơn quy định,
trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng; đảm bảo hoạt động thường xuyên,
thực hiện nhiệm vụ được giao, phù hợp với đặc điểm đơn vị, tăng cường công tác
quản lý và sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả.
+ Cơ chế tự chủ tài chính cho phép các đơn vị được quyết định việc xây
dựng quỹ tiền lương, tạo ra cơ sở pháp lý để tăng thu nhập cho người lao động. Từ
đó tạo động lực khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động, nâng cao
chất lượng và hiệu quả công việc.[18]

11


1.2.3. Mục tiêu, nguyên tắc quản lý tài chính
1.2.3.1. Mục tiêu quản lý tài chính
Có 4 mục tiêu cơ bản về quản lý tài chính được quy định tại Nghị định số
43/2006/NĐ-CP đối với ĐVSN như sau:
Một là, làm cho các đơn vị hoạt động có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đỏi hỏi
ngày càng cao của xã hội về các hoạt động dịch vụ KĐCLGD.
Hai là, tạo động lực khuyến khích các đơn vị tích cực, chủ động tổ chức hoạt
động hợp lý, xác định số biên chế cần có, sắp xếp, tổ chức và phân công lao động
khoa học, nâng cao chất lượng công việc nhằm sử dụng kinh phí tiết kiệm.
Ba là, nêu cao ý thức trách nhiệm, tăng cường đấu tranh chống các hiện
tượng tiêu cực, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng tài chính.
Bốn là, tạo điều kiện để người lao động trong các đơn vị phát huy khả năng,

Nội dung quản lý tài chính của các Trung tâm KĐCLGD bao gồm: (i) Quản
lý thu; (ii) Quản lý chi.
1.2.4.1. Quản lý thu
a) Tạo lập các nguồn tài chính của Trung tâm KĐCLGD
Mô hình đại học 2 cấp như ĐHQGHN, ĐHQG tp HCM,... bao gồm các đơn vị
thành viên và đơn vị trực thuộc, hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao.
Các trường đại học và các viện nghiên cứu thành viên thuộc đại học 2 cấp là
các CSĐT, nghiên cứu khoa học có tư cách pháp nhân và quyền tự chủ như các
trường đại học, viện nghiên cứu khác được quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo
dục đại học và Luật Khoa học - Công nghệ; được đảm bảo bởi nguồn NSNN. Nguồn
tài chính bao gồm: (i) Nguồn NSNN cấp; (ii) Các nguồn ngoài NSNN.
Các đơn vị phục vụ, dịch vụ trực thuộc đại học 2 cấp hoạt động như các đơn
vị sự nghiệp công lập khác, có tư cách pháp nhân độc lập, có con dấu và tài khoản
riêng. Tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo, giảng dạy song các đơn
vị này thực hiện cung cấp các dịch vụ nhằm phục vụ cho sự nghiệp GDĐT. Hoạt
động của các đơn vị này không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu mang tính chất
phục vụ. Do hoạt động hầu hết chỉ mang tính chất phục vụ nên các đơn vị dịch vụ
công số thu thường không đảm bảo và không có tính chất ổn định. Kinh phí hoạt
động của các đơn vị này được đơn vị chủ quản phê duyệt theo quyết định giao dự
toán thu chi NSNN hằng năm, có thể cấp toàn bộ hoặc một phần. Cũng giống như
các đơn vị thành viên, nguồn tài chính của đơn vị trực thuộc bao gồm: (i) Nguồn
NSNN cấp; (ii) Các nguồn ngoài NSNN.
Khác với các đơn vị thành viên được đảm bảo bởi nguồn NSNN cấp cho hoạt
động đào tạo, giảng dạy thì nguồn NSNN cấp cho các đơn vị trực thuộc lại dựa trên
chức năng, nhiệm vụ được giao. Mỗi năm, căn cứ theo tình hình triển khai kế
hoạch, nhiệm vụ của mình, các đơn vị trực thuộc lập dự toán thu, chi NSNN và dự

13



tạo lập nguồn tài chính như đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực GDĐH.

14


➢ Nguồn Ngân sách Nhà nước:
Nguồn NSNN được cấp hàng năm cho các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt
động trong lĩnh vực GDĐH và phân bổ theo nguyên tắc công khai, tập trung dân
chủ, căn cứ vào quy mô và điều kiện phát triển của từng đơn vị.
Tuy nhiên, các Trung tâm KĐCLGD do Bộ GD&ĐT thành lập, kinh phí
thường xuyên từ nguồn NSNN chỉ được đơn vị chủ quản hỗ trợ trong những năm
đầu hoạt động. Số năm và số kinh phí hỗ trợ còn tùy thuộc tình hình hoạt động của
các Trung tâm và nguồn tài chính của đơn vị chủ quản.
Chi thường xuyên: Chi thường xuyên tại Trung tâm KĐCLGD nhằm bảo đảm
kinh phí cho các trung tâm này hoạt động, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được
giao. Cụ thể, theo nội dung kinh tế, bao gồm:
- Chi thanh toán cá nhân: là những khoản chi quan trọng trong các yếu tố
đầu vào của bất kỳ tổ chức, cơ quan nào muốn tồn tại và hoạt động. Là các khoản chi
theo chế độ mà Nhà nước đã quy định bao gồm: (i) chi tiền lương, tiền công; (ii) chi
phụ cấp; (iii) các khoản nộp theo lương: BHXH, BHYT,... Nội dung chi này nhằm
đảm bảo đời sống vật chất và tái tạo sức lao động cho người lao động tại trung tâm.
- Chi cơ sở vật chất, dịch vụ thuê ngoài bao gồm các khoản chi thường xuyên
hàng tháng như: điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, chuyển phát nhanh,... và
các khoản chi phát sinh phục vụ công tác chuyên môn như mua sắm trang thiết bị
làm việc, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định, sửa chữa phòng làm việc,...
- Chi nghiệp vụ chuyên môn: Chi nghiệp vụ chuyên môn là các khoản chi
thường xuyên phục vụ cho công tác quản lý và nghiệp vụ chuyên môn về hoạt động
KĐCLGD bao gồm: (i) chi hội nghị, hội thảo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn về
KĐCLGD; (ii) chi phí nghiệp vụ chuyên môn khác.
Chi không thường xuyên:

biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu. Trên cơ sở báo cáo quyết toán,
phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi tiêu cho công tác đào tạo rút ra
ưu nhược trong quá trình quản lý làm cơ sở lập kế hoạch năm sau sát hơn.
➢ Ngoài nguồn Ngân sách Nhà nước:
Giáo dục là lĩnh vực nhận được sự ưu tiên đầu tư từ NSNN. Tuy nhiên, trong
bối cảnh thu NSNN còn hạn hẹp, Nhà nước khó có khả năng bảo đảm toàn bộ kinh
phí cho giáo dục. Để đáp ứng đủ nguồn lực tài chính cho giáo dục, cần có sự tham
gia của các nguồn lực ngoài ngân sách. Nguồn thu này do các đơn vị được phép tiến
hành và tự khai thác từ khả năng của mình, căn cứ theo các chức năng, nhiệm vụ
được giao. Sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế, đơn vị được sử dụng cho các nhiệm vụ
của mình, không phải nộp NSNN nhưng phải tuân theo các quy định của Nhà nước
về quản lý tài chính. Ngoài nguồn NSNN cấp, các Trung tâm KĐCLGD còn có các
nguồn thu như sau:

16


Nguồn thu sự nghiệp:
- Thu từ hợp đồng cung cấp dịch vụ KĐCLGD cho các CSGD và CTĐT theo
quy định bao gồm: (i) thẩm định báo cáo TĐG, ĐGN, thẩm định và công nhận
kết quả KĐCLGD; (ii) thu từ các hoạt động đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng ngắn
hạn về KĐCLGD; (iii) thu từ hoạt động tư vấn cải tiến nâng cao chất lượng giáo
dục; (iv) thu từ việc tổ chức hoặc tham gia tổ chức các hoạt động đánh giá chất
lượng giáo dục ở trong nước và quốc tế; (v) Các nguồn thu hợp pháp khác.
- Thu từ hoạt động sự nghiệp khác như: lãi được chia từ các hoạt động
liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ…
Cùng với nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, các nguồn thu sự nghiệp khác
cũng tạo thêm nguồn tài chính đối với các trung tâm để tăng cường đầu tư cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động KĐCLGD và cải thiện đời sống của đội
ngũ viên chức, người lao động tại đơn vị.

cấu, tỷ trọng các khoản chi khác nhau.
- Cơ cấu, tỷ trọng các nguồn lực tài chính huy động được tại trung tâm:
+ Tùy vào tình hình hoạt động của các trung tâm KĐCLGD mà số kinh phí hỗ
trợ từ đơn vị chủ quản sẽ giảm theo lộ trình hàng năm hoặc bị cắt bỏ. Vì vậy, căn cứ
theo số kinh phí được phê duyệt mỗi năm mà phương thức điều hành các khoản chi
NSNN cũng có những thay đổi căn bản.
+ Tại các trung tâm này nguồn lực tài chính ngoài NSNN chiếm tỷ trọng lớn.
Hiện tại, nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ vẫn dừng ở mức lấy thu bù chi và
có tích lũy, nhưng không đáng kể. Nguồn thu này không đảm bảo được sự vận hành
của đơn vị do tính ổn định chưa cao. Cơ cấu và tỷ trọng các khoản chi từ thu sự
nghiệp sẽ căn cứ vào số thu sự nghiệp mỗi năm.
- Cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công
lập: Trong điều kiện cải cách mạnh mẽ tài chính theo xu hướng tăng quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập, hướng việc quản lý tài chính
theo kết quả đầu ra, thì phương thức điều hành các khoản chi cũng có những thay
đổi căn bản, lấy hiệu quả làm chính.
- Chủ trương cải cách GDĐH: Là nhân tố quyết định đến mức chi, cơ cấu chi
cho hoạt động đảm bảo chất lượng của GDĐH. Từ đó, lộ trình tính giá dịch vụ
KĐCLGD không còn dừng ở mức lấy thu bù chi mà còn có tích lũy đảm bảo sự vận
hành và phát triển của các trung tâm.
Tóm lại, có nhiều yếu tố tác động đến hình thành cơ chế quản lý các khoản
chi tại Trung tâm KĐCLGD. Nội hàm của cơ chế quản lý chi bao gồm:
- Xác lập dự toán chi. Theo truyền thống dự toán chi được xác lập hàng năm
căn cứ vào tình hình tài chính của năm trước; các chỉ tiêu, kế hoạch nhiệm vụ do

18


các trung tâm dự kiến trong năm kế hoạch và các chính sách, chế độ hiện hành của
Nhà nước liên quan đến hoạt động tài chính của đơn vị.

19


b) Chi cơ sở vật chất, dịch vụ thuê ngoài:
Khoản chi thanh toán dịch vụ công cộng bao gồm: chi điện nước, vệ sinh,
mua vật tư văn phòng, chi phí thuê mướn, chuyển phát nhanh, thông tin liên lạc,
tuyên truyền, cước phí điện thoại, fax,…
Các khoản chi phát sinh phục vụ công tác quản lý và chuyên môn như mua
sắm trang thiết bị làm việc, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định, sửa chữa phòng
làm việc,...
c) Chi nghiệp vụ chuyên môn:
Do đặc thù ngành nghề là KĐCLGD nên các trung tâm cần phải chi trả các
khoản liên quan đến nghiên cứu chuyên môn như chi hội nghị, hội thảo nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn về KĐCLGD; chi hỗ trợ Cục Khảo thí & KĐCLGD, Bộ
GD&ĐT xây dựng các văn bản, ngân hàng đề thi KĐV,...
d) Các khoản chi hoạt động dịch vụ:
Nguồn thu chủ yếu tại các Trung tâm KĐCLGD bao gồm: đào tạo, bồi dưỡng
KĐV KĐCLGD và dịch vụ KĐCLGD. Để thực hiện những hoạt động này, các trung
tâm phải thuê giảng viên, chuyên gia theo từng hợp đồng thuê khoán cụ thể, phải chi trả
cho Hội đồng KĐCLGD và các chi phí liên quan khác.
- Các khoản chi đào tạo KĐV KĐCLGD căn cứ dự toán được duyệt theo
từng khóa đào tạo bao gồm: chi giảng viên; chi biên soạn chương trình, bài giảng;
chi ra đề; chấm bài; chi các khoản khác phục vụ lớp học như: thuê phòng, thuê thiết
bị, in ấn, photo tài liệu,…
- Các khoản chi dịch vụ KĐCLGD bao gồm: thuê chuyên gia thẩm định báo
cáo tự đánh giá; thuê chuyên gia đánh giá ngoài; chi họp Hội đồng KĐCLGD và
các chi phí liên quan khác như: chi họp đoàn, in ấn, photo tài liệu, công tác phí, thuê
phòng hội nghị, hỗ trợ chuyên môn,…
1.2.5. Tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài chính tại Trung tâm KĐCLGD
Có 3 tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài chính tại Trung tâm KĐCLGD là:

tất cả các đơn vị.
➢ Hệ thống kiểm soát nội bộ của Trung tâm KĐCLGD: Hệ thống kiểm soát
nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng và áp dụng
nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm
soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có
hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ thống kiểm soát nội bộ là chìa khóa để quản lý tài
chính ở ĐVSN thực hiện hiệu quả, đúng chế độ, chính sách của Nhà nước.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status