Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Pietrain kháng stress và Duroc nuôi tại Trung tâm Giống lợn chất lượng cao – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc, lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS. Đỗ Đức Lực và BSTY. Hà Xuân
Bộ, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình
thực hiện đề tài và hoàn thiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi và Nuôi
trồng Thuỷ sản, đặc biệt các thầy cô giáo trong Bộ môn Di truyền – Giống vật
nuôi, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, những người đã dìu dắt và chuẩn
bị hành trang nghề nghiệp cho tôi trong 4 năm trên giảng đường đại học.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy PGS.TS Bùi Hữu Đoàn giám đốc
và toàn thể cán bộ công nhân Trung tâm giống lợn chất lượng cao – Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi
thực hiện đề tài tại cơ sở.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè tôi đã luôn ở
bên động viên, khích lệ tinh thần và giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành tốt
khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 08 năm 2013
Sinh viên
Cao Thị Hảo
i
MỤC LỤC
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Sơ đồ tạo dòng Pietrain ReHal 6
Hình 2.2: Thành phần cấu tạo năng suất sinh sản của lợn nái 15
Bảng 4.1. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain kháng stress và Duroc 30
Bảng 4.2. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain kháng 37
stress và Duroc ở lứa 1 37
Bảng 4.3. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain kháng 38
stress và Duroc ở lứa 2 39

BC: Backcross
CC: kiểu gen CC
CT: kiểu gen CT
GnRH: Gonadotropine Releaser Hormone
FSH: Follicculine Stimuline Hormone
LH: Luteine Hormone
PL: ProLactine Hormone
SCDR/ổ: số con đẻ ra/ổ
SCDRS/ổ: số con đẻ ra sống/ổ
SCCS/ổ: số con cai sữa/ổ
PSS/ổ: khối lượng sơ sinh/ổ
PCS/ổ: khối lượng cai sữa/ổ
PSS/con: khối lượng sơ sinh/con
PCS/con: khối lượng cai sữa/con
KP: khẩu phần ăn/ngày
TSSS: tỷ lệ sơ sinh sống
TLCS: tỷ lệ cai sữa
v
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cơ cấu ngành chăn nuôi Việt Nam, ngành chăn nuôi lợn chiếm tỷ
trọng lớn nhất, cung cấp trên 65% lượng thịt tiêu thụ trên thị trường. Trong
những năm qua, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã có sự tăng trưởng vượt bậc.
Trong vòng 10 năm từ năm 2000 – 2011, tổng số đầu lợn của cả nước tăng từ
20,19 triệu con lên 27,63 triệu con ( Viện Chăn nuôi Việt Nam )
Cục chăn nuôi cho biết: mục tiêu đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ
bản chuyển sang sản xuất trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu
thực phẩm đảm bảo chất lượng cho tiêu dung và xuất khẩu. Tỷ trọng chăn
nuôi trong nông nghiệp đến năn 2020 đạt 42%, Trong đó năm 2010 đạt 32%

Pietrain kháng stress (Pietrain ReHal). Dòng lợn này có nhiều ưu điểm so với
Pietrain cổ điển là tỷ lệ nạc cao, chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn, giảm được hao
hụt trong quá trình chăn nuôi và vận chuyển.
Tháng 11/2011 Trung tâm giống lợn chất lượng cao – Trường ĐH Nông
nghiệp Hà Nội đã nhập đàn lợn giống ông bà Duroc và Pietrain kháng stress
về nhân giống. Đực Pietrain kháng stress lai với nái Duroc tạo ra con lại PiDu
cho chất lượng thịt rất cao. Đây là hai dòng lợn mới, những nghiên cứu về
chúng ở Việt Nam còn ít.
Để tạo ra những con giống có chất lượng tốt, phù hợp với thị trường và
làm cơ sở cho chiến lược chăn nuôi bền vững, lâu dài của nhà nước, chúng tôi
tiến hành đề tài: “ Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Pietrain kháng
stress và Duroc nuôi tại Trung tâm Giống lợn chất lượng cao – Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội”
2
1.2. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
 Đánh giá khả năng sinh sản của 2 dòng lợn nái: Pietrain kháng stress và
Duroc được nuôi tại trung tâm
 Theo dõi, thu thập và phân tích đầy đủ, chính xác các số liệu về khả
năng sinh sản của nái Pietrain kháng stress và nái Duroc.
 Nắm được quy trình, cách thức và phương pháp tiến hành nghiên cứu.
3
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm của các giống lợn Pietrain và Duroc
2.1.1. Giống lợn Pietrain
Đây là giống lợn xuất hiện vào khoảng năm 1920 và được công nhận là
một giống mới ở Bỉ năm 1956, mang tên làng Pietrain vùng Wallon, Brabant .
Lợn Pietrain có màu lông da trắng đen xen lẫn từng đám không đều. Lợn
Pietrain ngắn, song có thân hình thể hiện rất rõ khả năng cho thịt với phần
mông và vai rất phát triển.

chất lượng thịt tốt. có khả năng tăng trọng từ 750-800 g/ngày, 6 tháng tuổi
heo thịt có thể đạt 105-125 kg. Duroc trưởng thành con đực nặng tới 370 kg,
con cái 250-280 kg.
Duroc được coi là giống heo tốt trên thế giới hiện nay và được nuôi rất
phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt nuôi theo hướng nạc và sử dụng thịt nướng.
Giống heo này đã được nhập vào nước ta vào khoảng 1956 ở miền Nam, sau
đó đến 1975,được nhập vào nước ta qua nhiều chương trình và các công ty
chăn nuôi. Giống Duroc được chọn một trong những giống tốt để thực hiện
chương trình nạc hóa đàn heo ở Việt Nam. Tuy nhiên, nuôi heo Duroc cần có
chế độ dinh dưỡng cao và chăm sóc tốt mới đạt được kết quả tốt.
2.1.3. Sơ đồ dòng Pietrain ReHal
Từ nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của locus Halothane, đặc biệt là về
năng suất, chất lượng thịt, sự biến đổi của giá trị pH sau khi giết thịt của
Pietrain cổ điển. Trường Đại học Liege – Vương quốc Bỉ đã tạo ra dòng
Pietrain mới kháng stress, dòng lợn này có tên là Pietrain kháng stress hay
Pietrain ReHal.
Dòng này được tạo ra từ việc lai trở ngược từ backcross 4 (BC4) để
chuyển một allene N từ locus Halothane của lợn Large White vào bộ gen của
5
Pietrain (Hanset và cộng sự. 1995a, 1995b, 1995c; Leroy và cộng sự, 1999a,
1999b, 2000). Leroy và cộng sự (1999a) đã khẳng định rằng Pietrain Rehal
thể hiện tất cả các ưu điểm của Pietrain cổ điển, nhưng đặc tính nhạy cảm với
stress đã giảm và pH sau khi giết thịt đã cải thiện.
Large White x Pietrain
(CC) (CT)
(1/2) CT x P (TT)

(3/4) TT CT x P (TT)

(7/8) TT CT x P (TT)

thục về tính lúc 7 – 8 tháng tuổi. Tuổi thành thục về tính được đánh dấu bằng
hiện tượng động dục đầu tiên. Tuy vậy trong lần động dục này hầu như lợn
nái không chửa đẻ, vì vậy nó chỉ báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của
lợn cái.
2.2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự thành thục về tính
 Các yếu tố di truyền
Gia súc thuộc các giống khác nhau thì có sự thành thục về tính dục khác
nhau. Sự thành thục về tính của các gia súc có tầm vóc nhỏ thường sớm hơn
các gia súc có tầm vóc lớn. Ở cùng một giống thì gia súc cái thành thục về
tính sớm hơn gia súc đực.
 Yếu tố ngoại cảnh
7
Ngoài yếu tố di truyền thì yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất rõ ràng
và có ý nghĩa đến tuổi thành thục về tính. Chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, bệnh
tật, phương thức phối giống, lứa đẻ, mùa vụ,… đều ảnh hưởng tới các chỉ tiêu
sinh sản của lợn nái.
 Chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc
Chế độ nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới tuổi thành thục về tính. Những
lợn được nuôi dưỡng tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn những lợn nuôi
dưỡng kém. Để lợn sinh trưởng và phát triển bình thường thì phải đảm bảo
cung cấp đầy đủ về nhu cầu năng lượng, protein, khoáng, vitamin. Nhu cầu
dinh dưỡng phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn để chúng phát
triển tốt nhất và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
 Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sánh tới tuổi động dục
Theo Schmidt (1974), lợn cái sinh ra trong mùa xuân thành thục về tính
sóm hơn lợn cái sinh ra vào các mùa khác. Điều đó chúng tỏ yếu tố thời tiết,
mùa vụ ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính. Ngoài ra tuổi thành thục về tính
còn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và thời gian chiếu sáng trong ngày.
Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính, thời
gian chiếu sáng trong ngày là 12 giờ bằng ánh sáng tự nhiên hay nhân tạo đều

tính, nghĩa là sau khi con vật thành thục về tính thì vẫn thành thục về thể vóc.
Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi không nên cho gia súc sinh sản
quá sớm, vì nếu phối giống quá sớm khi cơ thể gia súc cái chưa thành thục về
thể vóc sẽ có những ảnh hưởng xấu như: trong thời gian mang thai có sự phân
tán dinh dưỡng, ưu tiên cho phát triển bào thai, ảnh hưởng xấu tới sự phát
triển của cơ thể mẹ, do đó sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng, kết
quả mẹ yếu con nhỏ. Mặt khác, khung xương chậu chưa phát triển hoàn
chỉnh, nhỏ hẹp làm gia súc khó đẻ.
Do đó việc quy định tuổi phối giống lần đầu có ý nghĩa rất lớn trong
chăn nuôi. Tuổi phối giống lần đầu đối với lợn nái nội 7 – 8 tháng, đạt thể
trọng 40 – 50 kg, lợn nái ngoại 8 – 9 tháng, đạt thể trọng 100 – 110 kg.
2.2.3. Chu kỳ tính và sự điều tiết chu kỳ tính
2.2.3.1. Chu kỳ tính
Khi lợn cái tới tuổi thành thục về tính thì có hiện tượng động dục. Ở
buồng trứng có trứng chín và rụng. Hiện tượng trứng chín và rụng xảy ra
một quy trình tự thời gian nhất định kèm theo biểu hiện bên ngoài cơ thể
9
thay đổi có tính quy luật gọi là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính. Thời gian
một chu kỳ tính là từ lần rụng trứng trước tới lần rụng trứng sau. Lợn có
chu kỳ động dục trung bình là 21 ngày dao động trong phạm vi 18 – 23
ngày và trải qua 4 giai đoạn.
 Giai đoạn trước động dục (kéo dài 1- 2 ngày)
Là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu hủy tới lần động dục tiếp theo, chuẩn bị
điều kiện cho đường sinh dục cái tiếp nhận trứng và tinh trùng. Đây là giai
đoạn đầu của chu kỳ động dục, nó xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý,
tính thành thục như:
 Âm hộ bắt đầu sưng lên, hơi mở, niêm mạc có màu hồng tươi và có lớp
nhờn loãng chảy ra.
 Lợn bắt đầu lười ăn, hay kêu, thích nhảy lên lưng con khác nhưng
không cho con khác nhảy lên lưng nó.

hành vi sinh dục.
2.2.3.2. Sự điều tiết chu kỳ tính
Chu kỳ tính của lợn cái được điều khiển bởi thần kinh và thể dịch theo
cơ chế điều hòa ngược.
Trong quá trình động dục các nhân tố ngoại cảnh tác động vào vỏ não
kích thích vùng dưới đồi (hypothalamus) giải phóng ra GnRH (Gonadotropine
Relear Hormone). GnRH kích thích thùy trước tuyến yên giải phóng FSH
(Folliculine Stimuline Hormone) và LH (Luteine Hormone)
FSH kích thích noãn bao phát triển và gây tiết Hormone Oestrogen.
LH kích thích trứng chín và rụng.
Hai hormone này có tỷ lệ ổn định (trứng rụng khi tỷ lệ FSH/LH từ 2/1 –
3/1) FSH tiết ra trước LH tiết ra sau, chúng có tác động hỗ trợ nhau.
Nếu trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai, nó
sinh ta Progesteron tác động ngược trở lại tuyến yên làm ngừng tiết FSH và
LH làm cho trứng không chín, gia súc ngừng động dục đến khi đẻ và sau khi
cai sữa thì động dục trở lại.
Nếu trứng không được thụ tinh thì sau 15 ngày thể vàng tiêu biến bởi
tác động của Prosglandine do sừng tử cung tiết ra. Một chu kỳ mới lại
được bắt đầu.
11
2.3. KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Thông số các chỉ tiêu dưới đây được đề cập để đánh giá khả năng sinh
sản của lợn nái:
 Tuổi đẻ lứa đầu
Trung bình là 12 tháng tuổi, nếu lợn đẻ sớm khi chưa thành thục về thể
vóc làm cho lợn con sinh ra nhỏ ảnh hưởng tới chất lượng đàn con. Cho lợn
đẻ muộn cũng không tốt vì giảm khả năng sinh sản, giảm số lượng con được
sinh ra/nái. Chỉ tiêu này đánh giá tuổi thành thục về tính và thể vóc của từng
giống, đánh giá tốc độ sinh sản của lợn.

 Số con sống đến 60 ngày tuổi/ổ (con)
 Khối lượng sơ sinh/con (kg)
Là khối lượng lợn con được cân vào ngày sau khi đẻ ra, lau khô, cắt rốn
và chưa cho bú sữa đầu.
 Khối lượng cai sữa/con (kg)
Là khối lượng lợn con được cân vào ngày cai sữa, trước khi cho ăn.
 Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng nuôi dưỡng thai của con mẹ, kỹ thuật
chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai của người chăn nuôi.
 Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
Chỉ tiêu này phản ánh tính nuôi con khéo, chất lượng sữa của con mẹ, kỹ
thuật chăm sóc nái nuôi con và lợn con theo mẹ của người chăn nuôi, ngoài ra
còn phản ánh chất lượng cám tập ăn của cơ sở chăn nuôi.
 Thời gian cai sữa (ngày)
Là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái do liên
quan đến số lứa của lợn nái hàng năm và một phần liên quan đến số con đẻ ra
mỗi lứa.
 Khả năng tiết sữa
13
Đây là chỉ tiêu nói lên đặc tính của giống, giống khác nhau khả năng tiết
sữa khác nhau.
Đánh giá khả năng tiết sữa của lợn nái dựa vào khối lượng toàn ổ lợn
con lúc 21 ngày. Dựa vào thời gian này vì thông thường lượng sữa tiết ra của
lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất vào tuần thứ ba, sau đó có xu
hướng giảm dần. Bởi vậy khối lượng lợn con trong giai đoạn này phụ thuộc
chính vào số lượng cũng như chất lượng sữa tiết ra.
 Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
KLLM sau khi đẻ 24 giờ - KLLM lúc cai sữa
Tỷ lệ hao hụt = x 100%
KLLM sau khi đẻ 24 giờ

lứa đẻ
Thời
gian
cai
sữa
ai
Tỷ
lệ
đẻ
gi
a g
Thời
gian
chửa
gian
gian
Thời
gian từ
CS đến
PG có
KQ
Tỷ lệ
chết
cho
đến cai
sữa
Số
con
đẻ ra
còn

gian
Số
thai
chết
ai
gian
15
Lai giống sẽ cho sức sản xuất cao hơn nhân giống thuần chủng nhưng
trong trường hợp lợn ngoại cho lai với lợn cái nội thì số con đẻ ra có thể cao
hơn lợn ngoại nhưng khối lượng thì nhỏ hơn lợn ngoại và cao hơn lợn nội.
 Tỷ lệ thụ tinh
Xác định thời điểm phối giống thích hợp sẽ quyết định tỷ lệ thụ tinh
trong một chu kỳ động dục của lợn nái. Trong điều kiện bình thường tỷ lệ thụ
tinh có thể đạt 90% - 100%, điều này phù hợp với kết quả của Hancook
(1961). Nếu cho lợn phối giống trực tiếp thì tỷ lệ thụ tinh thường cao hơn
10% - 20% so với phối nhân tạo. Kỹ thuật phối giống nhân tạo, môi trường
pha loãng tinh dịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh (Nguyễn Tấn
Anh, Nguyễn Thiện và Lưu Kỳ, 1993). Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào mùa vụ
phối giống, nếu cho phối vào các tháng 6 – 8 thì tỷ lệ thụ tinh giảm 10% so
với phối giống ở các tháng 11 – 12.
 Tỷ lệ chết phôi và tỷ lệ chết thai
Khi nghiên cứu giai đoạn 9 – 13 ngày sau khi phối giống, (Johanson,
1980) cho rằng: đây là giai đoạn khủng hoảng trong sự phát triển của phôi, vì
phần lớn các trường hợp chết phôi diễn ra ở giai đoạn này. Ngày nay, các
nghiên cứu đều xác định là 30 – 40% phôi thai bị chết trong thời gian làm tổ ở
sừng tử cung (Perry, 1954) và (Joakimsen, 1954) cho biết vào ngày thứ 13 –
18 sau thụ tinh. Tỷ lệ thai chết tỷ lệ thuận với số con còn sống ở thời kỳ đầu
bào thai (Đặng Vũ Bình, 1994); (Perry, 1954) cho rằng tỷ lệ thai chết thường
cao hơn ở những sừng tử cung chứa trên 5 bào thai.
 Số trứng rụng trong 1 chu kỳ

Khoảng cách lứa đẻ là thời gian để lợn nái hoàn thành một chu kỳ sinh
sản gồm: thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, thời gian
phối giống có chửa và thời gian mang thai. Trong 4 yếu tố đó thì thời gian
mang thai là không thay đổi, 3 yếu tố còn lại có thể thay đổi. Cai sữa sớm cho
lợn con là biện pháp tích cực nhằm tăng số lứa đẻ/nái/năm.
17
 Tuổi đẻ lứa đầu và khối lượng phối giống lần đầu
Tuổi đẻ lần đầu và khối lượng phối giống lần đầu quá sớm hay quá
muộn, quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái.
Nếu lợn hậu bị đưa vào khai thác quá sớm khi cơ thể phát triển chưa hoàn
thiện nên số trứng rụng ít, tỷ lệ thụ thai kém. Hơn nữa nó còn ảnh hưởng đến
sự phát triển thể chất, thể vóc sau này của con mẹ. Nếu lợn hậu bị đưa vào
khai thác muộn sẽ làm giảm hiệu quả kinh tế.
 Điều kiện thời tiết khí hậu và mùa vụ
Nhiệt độ thích hợp cho lợn nái sinh sản là 18 – 20
o
C, độ ẩm từ 70 – 75%.
Nếu nhiệt độ lớn hơn 30
o
C thì sẽ làm giảm khả năng thu nhận thức ăn của lợn
nái, tỷ lệ hao hụt sẽ tăng từ đó kéo dài thời gian động dục trở lại sau cai sữa,
giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi (Pistoni, 1997). Do đó vào mùa hè
tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra/lứa thường thấp hơn các mùa khác. Nếu
nhiệt độ quá thấp (dưới 18
o
C) thì tỷ lệ lợn con chết do lạnh và tiêu chảy sẽ
cao hơn.
 Xác định thời điểm phối giống và phương pháp phối giống
 Xác định thời điểm phối giống
Căn cứ vào chu kỳ động dục, thời gian rụng trứng thời gian sống cũng

mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể, rồi tham gia vào cấu tạo nên các mô
trong cơ thể cũng như tạo ra sản phẩm: phát triển phôi thai, tiết sữa… đối với
lợn cần 10 axit amin không thể thay thế đó là: lyzin, methyonin, cystin,
threonin, phenylalanine, histidin, tryptophan, lơxin, izolơxin, valin, arginin.
Nếu cung cấp thiếu hay thừa protein đều ảnh hưởng tới năng suất sinh
sản của lợn nái. Nếu thiếu protein ở giai đoạn mang thai sẽ làm khối lượng sơ
sinh thấp, số con đẻ ra ít, thể trạng yếu ớt. Nếu thiếu protein ở giai đoạn nuôi
con thì sẽ ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng sữa từ đó ảnh hưởng tới khả
năng nuôi con của lợn mẹ và sức sống của đàn con. Nếu thừa protein ở giai
19
đoạn mang thai sẽ làm tăng tỷ lệ thai chết, gây lãng phí protein, không đem lại
hiệu quả kinh tế.
Hàm lượng protein có trong khẩu phần thức ăn tùy thuộc vào từng
giai đoạn nuôi dưỡng của lợn nái. Theo tiêu chuẩn Việt Nam (1994) thì
hàm lượng protein trong thức ăn đối với lợn nái chửa là 14%, đối với lợn
nái nuôi con là 16%.
 Năng lượng
Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu của lợn nái ở từng giai đoạn có ý
nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý bình thường và nâng cao được
năng suất sinh sản. Nếu cung cấp thừa hay thiếu năng lượng đều không tốt, nó
ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản của lợn nái. Cung cấp thừa năng
lượng trong thời gian mang thai sẽ làm cho lợn nái béo gây chết phôi, đẻ khó,
sau khi đẻ sẽ kém ăn làm giảm khả năng tiết sữa, đặc biệt là sữa đầu, từ đó
ảnh hưởng tới sức sống cũng như sự phát triển của đàn con, đàn con có tỷ lệ
ỉa chảy cao do sữa nhiễm mỡ. Cung cấp thiếu năng lượng cho lợn nái trong
giai đoạn mang thai sẽ làm cho lợn nái quá gầy, không đảm bảo cho quá trình
sinh trưởng, phát triển của thai, nếu thiếu trầm trọng có thể dẫn đến tiêu thai,
sẩy thai.
 Vitamin
Vitamin là yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu. Thiếu vitamin A dẫn tới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status