XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở PHƯỜNG XUÂN LA QUẬN TÂY HỒ TP. HÀ NỘI - Pdf 45

Trêng §¹I HäC néi vô hµ néi
KHOA VĂN HÓA - THÔNG TIN VÀ XÃ HỘI

BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NĂM 2017
ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở PHƯỜNG XUÂN LA
QUẬN TÂY HỒ - TP. HÀ NỘI

Người hướng dẫn

: Ths. Trần Thị Phương Thúy

Chủ nhiệm đề tài

: Phạm Quốc Việt

Lớp

: 1405QLVB

Hà Nội - 2017


Trêng §¹I HäC néi vô hµ néi
KHOA VĂN HÓA - THÔNG TIN VÀ XÃ HỘI

BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NĂM 2017

3
4
5
6
7

TỪ VIẾT TẮT
ĐSVH
HĐND
KHKT
THCS
TW
UBMTTQ
UBND

DỊCH NGHĨA
Đời sống văn hóa
Hội đồng nhân dân
Khoa học kĩ thuật
Trung học cơ sở
Trung ương
Ủy ban mặt trận tổ
quốc
Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, văn hóa đã trở thành một trong nh ững mối
quan tâm lớn nhất của các quốc gia trên thế giới. Nó được coi là một nhân

sống văn hóa ngày càng thêm khởi sắc.
Phường Xuân La được thành lập từ tháng 10 năm 1995 thuộc quận
Tây Hồ, nằm ở phía tây của Hồ Tây. Phường có mặt bằng dân trí tương đ ối
cao, an ninh chính trị tương đối ổn định, kinh tế tăng tr ưởng nhanh. Nhu
cầu hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng cao. Các thiết ch ế văn hóa
luôn được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp. Công tác xây d ựng đ ời s ống
văn hóa cơ sở bước đầu đi vào nề nếp, có ý nghĩa quan trọng đối v ới vi ệc
phát triển đời sống văn hóa vật chất - tinh thần của người dân. Tuy nhiên
trong triển khai thực hiện vẫn còn nhiều bất cập nh ư: Ch ưa có s ự th ống
nhất trong nhận thức của lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền đoàn th ể
về vai trò, tầm quan trọng cũng như tiến trình thực hiện của cuộc v ận
động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa từ ph ường t ới khu dân
cư. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo các các phong trào còn chung chung; công tác
bình xét thi đua và kiểm tra, giám sát còn mang tính ch ất hình th ức, c ơ s ở
vật chất chưa đủ đáp ứng nhu cầu; những tiêu cực và tệ n ạn xã hội còn
diễn biến phức tạp; việc quản lý hoạt động các thiết chế văn hóa còn
nhiều hạn chế; các phong trào, các cuộc vận động chưa thu hút đ ược đ ại
đa số nhân dân tham gia hưởng ứng; việc tổ chức các hoạt động văn hóa,
văn nghệ, thể dục, thể thao chưa phong phú, đa dạng,…
Nhận thấy được điều đó, nhóm chúng tôi là những sinh viên học
chuyên ngành Quản lý văn hóa thuộc khoa Văn hóa thông tin và xã h ội trường Đại học Nội vụ Hà Nội, nằm trên địa bàn của ph ường Xuân La,
bằng với hiểu biết của bản thân kết hợp với việc h ọc tập ở tr ường nhóm
chúng tôi muốn nghiên cứu thực trạng việc xây dựng đời sống văn hóa ở
phường từ đó đề xuất một số giảp pháp góp một phần công sức nh o bé
của mình để hạn chế nh ững tồn tại trong sinh hoạt, đời sống văn hóa c ủa
phường. Đồng thời góp phần làm phát triển hoạt động văn hóa, hướng đời
7


sống nhân dân giữa được bản sắc và phát huy nền văn hóa dân tộc, xóa đói

3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng việc xây dựng đời sống văn hoá tại
phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội. Từ đó đề xuất các gi ải pháp phát
huy những kết quả xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, góp ph ần nâng cao
chất lượng cuộc sống của toàn thể dân cư đang sinh sống và làm vi ệc t ại
đây.
9


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng xây dựng đời sống văn hoá cơ sở tại phường Xuân La,
quận Tây Hồ, Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phường Xuân La quận Tây Hồ, Hà Nội.
- Thời gian: Nghiên cứu kết quả xây dựng đời sống văn hóa 5 năm, t ừ
năm 2010 - 2015.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Xây dựng đời sống văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của địa phương, nghiên cứu thực trạng đời sống văn hoá cơ sở tại phường
Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội để đề xuất giải pháp góp phần nâng cao đ ời
sống vật chất tinh thần người dân của phường nói riêng và của nhân dân
thủ đô nói chung.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống những vấn đề lý luận về xây dựng đời sống văn hóa .
- Khảo sát thực trạng hoạt động xây dựng đời sống văn hoá của
phường Xuân La.
- Đề đề xuất các giải pháp phát huy những kết quả xây d ựng đ ời
sống văn hoá cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của toàn th ể
dân cư đang sinh sống và làm việc tại tại phường Xuân La quận Tây Hồ, Hà

F. Boas định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể
chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân c ấu thành nên
một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ
với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với nh ững
thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau ” [2, tr.149].
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ vi ết, đ ạo đ ức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công c ụ cho sinh
hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn b ộ nh ững
11


sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [3, tr.431].
Với cách hiểu trên, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ nh ững gì do con
người sáng tạo và phát minh ra. Cũng giống nh ư đ ịnh nghĩa c ủa Tylor, văn
hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn th ư” v ề
những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người.
Trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Quốc Vượng, Th ủ
tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô
cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không ph ải là thiên
nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình t ồn t ại, phát
triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm c ả hệ th ống
giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự
nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và b ản
lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo v ệ mình và
không ngừng lớn mạnh” [11, tr.22].
Theo định nghĩa trên thì văn hóa là những cái gì đối lập v ới thiên
nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý th ức tình
cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc.

Khái niệm đời sống văn hóa
“Đời sống văn hoá” với tư cách là một thuật ngữ khoa học được ra đời vào

thế kỷ XX và hiện nay được sử dụng khá phổ biến trên sách, báo, văn kiện của
Đảng, các phương tiện truyền thông của nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay trong
từ điển Việt Nam và nước ngoài vẫn chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh
về thuật ngữ này.
Trước hết về khái niệm “đời sống” được đưa ra trong Từ điển tiếng Việt
(1992), đó là “hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [12,
tr.670]. Còn theo Từ điển bách khoa mở, thì ngoài nghĩa nói trên, “đời sống” còn
được hiểu là phương tiện để sống, lối sống của cá nhân hay tập thể (đời sống xa
hoa, đời sống cần kiệm…)
13


Đời sống của con người bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng có
liên quan mật thiết với nhau, chẳng hạn như: đời sống kinh tế, đời sống chính trị,
đời sống xã hội, đời sống văn hóa… Như vậy, đời sống văn hóa là lĩnh vực quan
trọng của đời sống xã hội.
Tác giả Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu “Mấy vấn đề lý luận và
thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta” cho rằng:
Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn
hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các
yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Xét
về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện
thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [5, tr.268].
Có thể thấy định nghĩa này về cơ bản đã phản ánh được cấu trúc của đời
sống văn hóa, song trong đó vẫn chưa đề cập đến những giá trị văn hóa. Đồng
thời, cách diễn đạt như thế chưa làm rõ được bản chất của đời sống văn hóa vì
chỉ nêu các yếu tố cấu thành ở thể biệt lập.

chức hành chính (xã, phường, trường học, bệnh viện) hay một cộng đồng nhỏ
hơn (gia đình, tổ dân phố, khu dân cư…) đều có thể được xem là đơn vị văn hoá
cơ sở. Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là xây dựng văn hoá ngay từ trong gia
đình và trong cộng đồng dân cư, cộng đồng nghề nghiệp diễn ra sinh hoạt văn
hoá thường nhật của quần chúng nhân dân.
 Quan niệm về cơ sở trong xây dựng ĐSVHCS

Đời sống văn hóa luôn diễn ra trong một không gian dân cư nhất
định. Ở không gian hẹp, đó là các nhóm gia đình, b ạn be, nhóm lao đ ộng,
học tập…; ở không gian rộng, đó là một cộng đ ồng xã h ội, c ộng đ ồng t ộc
người, cộng đồng làng, xã… Bởi vậy, khi nói đến đời sống văn hóa, người ta
luôn phải gắn thêm danh từ chỉ một không gian dân cư nào đó đ ể xác đ ịnh
kiểu dạng, kích thước của đời sống văn hóa.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trước hết nhằm thoa mãn nhu cầu
văn hóa cho nhân dân. Thoa mãn nhu cầu văn hóa cho m ọi người dân là
việc làm tất yếu mà bất cứ xã hội nào muốn tồn tại đều ph ải tiến hành.
Tuy nhiên, cũng như mọi nhu cầu cơ bản khác, nhu cầu văn hóa ch ỉ có th ể
15


trở thành hiện thực khi con người cùng đồng loại tổ chức tiến hành các
hoạt động sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm văn hóa. Xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở là một biện pháp tạo ra môi trường cho các cá nhân tho ả mãn
được nhu cầu tinh thần của chính họ.
Điều đáng chú ý là trong việc xác định môi tr ường thoa mãn nhu cầu
văn hóa cho nhân dân, chúng ta đã rất sáng suốt khi nh ấn m ạnh vào d ạng
địa bàn cơ sở là các cộng đồng làng, bản, những nhóm cư trú địa v ực đã có
thời gian tồn tại lâu dài trong lịch sử ở những vùng nông thôn.
Mặt khác, làng, trong lịch sử là một thành phần trong cấu trúc của
phương thức sản xuất lệ nông. Sự thay đổi của phương th ức sản xuất m ới

nói riêng không phải là công việc một sớm một chiều. Bởi vậy, tiếp tục duy
trì, phát triển phong trào xây dựng làng văn hóa, gắn phong trào này v ới
cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là việc làm
cần thiết, là mục tiêu hàng đầu của sự nghiệp văn hóa hiện nay.
1.1.3. Quan điểm của Đảng và nhà nước về xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những ch ủ tr ương l ớn
của Đảng, Nhà nước đặt ra từ đại hội Đảng toàn quốc lần th ứ V (1981).
Đây là một công việc quan trọng, có ý nghĩa chiến l ược đ ối v ới s ự nghi ệp
xây dựng văn hóa, lối sống, con người Việt Nam. Xây d ựng đ ời s ống văn hóa
cơ sở chính là thực hiện nhiệm vụ đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống,
làm cho văn hóa ngày càng trở thành yếu tố khăng khít của đ ời s ống xã h ội.
Khi đất nước vừa thống nhất, ở Đại hội IV, cùng với những chủ
trương xây dựng nền kinh tế mới, Đảng đã đề ra những phương h ướng xây
dựng đời sống văn hóa cho nhân dân. Đến Đại hội V, v ấn đề này l ại đ ược
đặt ra một cách bức thiết, triệt để, có tính ch ất quy ết định ph ương h ướng
chỉ tiêu kế hoạch: “Đảm bảo mỗi nhà máy, công tr ường, lâm tr ường, đ ơn v ị
17


lực lượng vũ trang, cơ quan, trường học, xã, phường, hợp tác xã, ấp đ ều
phải có đời sống văn hóa”. Trong Đại hội VI, Nghi quy ết của Đ ảng ti ếp t ục
nhấn mạnh: “Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đ ưa văn hóa, văn
nghệ đến các vùng kinh tế mới, vùng căn cứ cách mạng cũ, vùng các dân
tộc thiểu số, các vùng xa xôi, hẻo lánh...”
Ở Đại hội VII, vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đã được định
hướng cụ thể vào một đơn vị cơ sở nho nhất của xã hội là gia đình tại Nghị
quyết Hội nghị Trung ương IV, khóa VII để từ đó, đưa ra những định hướng
mục tiêu chung cho các hoạt động văn hóa: “Bằng mọi cách, đưa những giá
trị văn hóa, văn nghệ dân tộc, thế giới đến với nhân dân...”.

động lực có tính quyết định cho việc xây dựng nền văn hóa của dân t ộc
Việt Nam tiên tiến, hiện đại mà vẫn mang bản sắc Việt Nam.
Đến đại hội XI, đời sống văn hóa cơ sở đã được chỉ đạo theo hướng
nâng cao chất lượng toàn diện việc xây dựng đời sống văn hóa, môi trường
văn hóa thông qua đẩy mạnh phong trào thi đua yêu n ước, cu ộc v ận đ ộng
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá. Đẩy mạnh việc xây d ựng
môi trường văn hóa trong gia đình, trong các c ộng đồng dân c ư, xây d ựng
nếp sống văn minh trong xã hội, nhất là nơi công cộng, đa d ạng hóa các
hoạt động phong trào toàn dân đoàn kết, xây d ựng đời sống văn hóa, xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú trong tình hình m ới.
Tuy nhiên, đời sống xã hội nói chung của đất n ước trong th ời kỳ đ ổi
mới cũng có nhiều đổi thay. Mặt bằng dân trí được nâng cao, sở tr ường,
năng lực cá nhân con người được khuy ến khích tôn trọng; tính năng động
xã hội kinh tế, tính tích cực công dân được kh ơi dậy, phát huy thay cho tâm
lý thụ động, ỷ lại trong cơ chế cũ. Không khí dân chủ, cởi m ở trong xã h ội
tăng. Đời sống văn hóa xã hội vì thế cũng phong phú, đa dạng. Trong sự
phong phú, đa dạng của đời sống văn hóa cùng với việc định hướng phát
19


triển mới, khái niệm đời sống văn hóa cơ sở cũng được mở rộng trên
những căn cứ khoa học hơn.
1.1.4. Nội dung xây dựng đời sống văn hóa
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là công tác vô cùng quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà hiện nay, nó trực tiếp tác
động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống của cộng đồng dân cư. Đảng
và Nhà nước ta coi nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa là nhiệm vụ then
chốt để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định xã hội,
xây dựng nhân cách con người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
tộc.

và các sinh hoạt xã hội; giữ gìn và phát huy thuần phong mĩ tục, đạo lý truyền
thống tốt đẹp của dân tộc; không thực hiện các hành vi tín ngưỡng ở những
địa điểm ngoài khuôn viên thờ tự đã quy định như đặt bát hương, cúng lễ nơi
công sở, nơi làm việc, tự ý xây các bệ thờ, tiến hành việc cúng lễ nơi công
cộng khi không được phép của cấp có thẩm quyền.
Thứ tư: Xây dựng môi trường văn hóa sạch - đẹp - an toàn. Xây dựng ý
thức vệ sinh nơi ở và công cộng, không gây mất trật tự và làm mất mĩ quan
như lấn chiếm vỉa he, lề đường, đất công, treo dán, viết vẽ quảng cáo, rao vặt
tùy tiện; tham gia bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cách
mạng và khu bảo tồn thiên nhiên; không sử dụng văn hóa phẩm cấm lưu
hành, không tham gia vào các hoạt động dịch vụ văn hóa trái với quy định của
pháp luật; tích cực phòng chống tệ nạn xã hội như mê tín hủ tục, mại dâm,
nghiện hút, cờ bạc, rượu che, tham nhũng...
Thứ năm: Xây dựng các thiết chế văn hóa- thể thao và nâng cao chất
lượng các hoạt động văn hóa - thể thao ở cơ sở.
Xây dựng bộ máy cán bộ, hệ thống thiết chế, cơ sở vật chất kỹ thuật
để tổ chức hoạt động văn hóa của nhân dân. Các thiết chế văn hóa gồm: Nhà
văn hóa, sân bãi thể thao, trạm truyền thanh, phòng truyền thống, tủ sách,
phòng đọc sách, điểm bưu điện văn hóa đội thông tin văn nghệ quần chúng
và các câu lạc bộ...


Các phong trào cụ thể:

Căn cứ vào nội dung đã nêu, cần tập trung xây dựng đời sống văn hóa
thông qua 7 phong trào cụ thể sau đây:
- Phong trào người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến;
21



22


hình thành với cơ sở hạ tầng được đầu tư, cơ cấu kinh tế nông nghiệp thu
hẹp, hoạt động kinh tế dịch vụ, hàng tiêu dùng, xây d ựng, tài chính, v ận t ải
ngày một phát triển. Ngoài ra, dưới tác động của c ơ chế th ị tr ường, nhi ều
vấn đề xã hội như: lao động, việc làm, tệ nạn xã hội, mâu thuẫn n ội bộ
nhân dân... diễn biến rất phức tạp. Dân số tăng nhanh, trong khi c ơ ch ế
quản lý, phối hợp quản lý còn nhiều bất cập (nhất là khu tập th ể, khu dân
cư mới) cộng với việc thực hiện giải phóng mặt bằng ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống sinh hoạt của nhân dân. Nếp sống đô thị đang dần hình thành
trong khi nếp sống làng xã vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm.
1.2.2. Đặc điểm phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội
Kinh tế ổn định và ngày một phát triển đáng kể. Hoạt động văn hóa,
xã hội phát triển nhanh và dần đi vào chiều sâu. An ninh, trật t ự an toàn xã
hội được đảm bảo. Hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà n ước c ủa chính
quyền được nâng lên. Đời sống vật chất và tinh th ần của nhân dân đ ược
cải thiện.
Phường Xuân La không phải là trung tâm kinh tế nên không có nh ững
cơ sở sản xuất công nghiệp. Cơ sở kinh tế do phường quản lý quy mô nh o,
chủ yếu là sản xuất thủ công, buôn bán lẻ và dịch vụ các loại hàng tạp hóa,
đồ dùng gia dụng, vật liệu xây dựng, cửa hàng ăn uống, luy ện thi, d ạy
nghề, photo copy…
Các hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh t ế
luôn ổn định và tăng trưởng; một số dịch vụ phát triển nhanh; được
quận tạo điều kiện cho các loại hình kinh doanh d ịch v ụ ho ạt đ ộng
tại chợ Xuân La; từng bước thu hút sắp xếp các hộ vào chợ kinh
doanh theo hướng văn minh thương mại. Thường xuyên chú trọng
công tác quản lý thị trường, phòng chống buôn bán hàng cấm, hàng
giả, gian lận thương mại, góp phần lành mạnh thị trường.

chỉnh trang trụ sở phường; vận động các cơ quan, tr ường học trên đ ịa bàn
phường chỉnh trang công sở. Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng người Hà Nội thanh lịch - văn
minh.
24


Tiểu kết chương 1
Trong những năm qua, công tác xây dựng đời sống văn hóa ở c ơ s ở đã
được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và quần chúng trên đ ịa bàn
phường Xuân La quan tâm đặc biệt. N hu cầu văn hóa của nhân dân từng
bước được đáp ứng, mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được nâng lên,
các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng và nâng cấp. Góp phần ngày
càng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Tạo nên môi
trường văn hóa lành mạnh để hạn chế những tác động tiêu c ực c ủa n ền
kinh tế thị trường, tạo động lực quan trọng để đẩy nhanh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status