Đánh giá và triển khai công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Phường Yên Phụ- Q.Tây Hồ- TP.Hà Nội giai đoạn 01072004-30062008 - Pdf 33

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dụng các cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh, quốc
phòng điều đó thể hiện rõ tầm quan trọng của đất đai trong đời sống xã hội.
Vì vậy hiện nay ở nhiều nước trên thế giới đã ghi nhận vấn đề đất đai vào
hiến pháp của nhà nước mình nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng đất đai có
hiệu quả.
Đất đai là sản phẩm tự nhiên. Lao động của con người không thể tạo ra
đất đai, đất đai có giới hạn về không gian và số lượng của chúng cũng có
giới hạn.
Trong khi đó dân số nước ta ngày càng tăng nhưng diện tích lại có hạn
(33.121.159 ha theo niên giám thống kê năm 2007). Cùng với tốc độ gia
tăng dân số đã làm cho diện tích bình quân đất/đầu người ngày càng giảm,
đặc biệt là nhu cầu về đất ở và đất canh tác [ ].
Những năm gần đây, do chính sách mở cửa nền kinh tế. Việc đẩy nhanh
công cuộc công nghiệp hoá, đô thị hoá đất nước dẫn đến việc xây dựng các
cơ sở hạ tầng diễn ra ồ ạt. Cùng với nó là nhu cầu sử dụng đất cho các hoạt
động: Nhà ở, kinh doanh, dịch vụ ngày càng phát triển dẫn đến quỹ đất nông
nghiệp ngày càng giảm mạnh. Trong khi đó nhu cầu về lương thực ngày
càng tăng đã tạo nên áp lực lớn đối với nhà quản lý đất đai. Đồng thời nó đã
làm cho giá trị về quyền sử dụng đất tăng lên nhanh chóng.
Vấn đề cấp bách đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về đất đai là phải
có những biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả. Nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng đất cũng như tránh xảy ra tranh chấp đất đai gây mất trật tự xã
hội.
Luật Đất đai năm 2003 ra đời thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thông qua việc đưa vào luật những nội
dung mới, sửa đổi bổ sung các điều luật không còn phù hợp với tình hình

- Nắm vững các quy định trong Luật đất đai và các văn bản dưới luật
về công tác ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ;
2
- Tìm hiểu, thu thập tình hình, số liệu khách quan trung thực;
- Phân tích, so sánh, đánh giá lấy các quy định trong văn bản pháp
luật đất đai của các cấp, các ngành làm chuẩn.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Đối với việc học tập: Việc hoàn thành đề tài sẽ là cơ hội cho sinh viên
cũng cố kiến thức đã học trong nhà trường đồng thời là cơ hội để sinh viên
bước đầu tiếp cận với thực tế nghề nghiệp trong tương lai.
- Với thực tiễn sản xuất: Đề tài đánh giá và phân tích những thuận lợi khó
khăn của công tác ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ từ đó đề xuất những giải pháp
thích hợp với thực tế địa phương góp phần hoàn thành công tác trong thời
gian tới.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của công tác ĐKĐĐ và cấp
GCNQSDĐ
2.1.1. Cơ sở khoa học
Tại Khoản 20 của Điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định: “Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng đất”.
Tại Khoản 19 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định về đăng ký quyền sử
dụng đất là: “Việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa
đất xác nhận vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất”.
Thông qua công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ là cơ sở để xác lập mối
quan hệ pháp lý đầy đủ giữa nhà nước và người sử dụng đất. Đây là cơ sở

và hiện nay để tháo gỡ những vướng mắc trong công tác cấp GCNQSD đất
Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/CP ngày 25/5/2007. Có thể nói đây là
một văn bản đã phần nào tháo gỡ những khó khăn, bất cập của các địa
phương trong hoạt động kê khai cấp GCNQSD đất, tạo điều kiện thuận lợi
về thủ tục hồ sơ để các địa phương có thể đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSD
đất.
- Đối với công tác điều tra, đo đạc thì kết quả điều tra, đo đạc là cơ sở
kỹ thuật cho việc xác định vị trí, hình thể kích thước, diện tích, loại đất và
tên chủ sử dụng đất để phục vụ yêu cầu tổ chức kê khai xét duyệt đăng ký
đất đai.
- Đối với công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đó sẽ là căn cứ
định hướng cho việc giao đất để đảm bảo việc sử dụng quỹ đất một cách ổn
định, hợp lý có hiệu quả. Do vậy thông qua việc giao đất, quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất có tác động gián tiếp đến công tác đăng ký đất để đảm
bảo cho việc thiết lập nên hệ thống hồ sơ địa chính ban đầu ổn định. Quy
hoạch kế hoạch cũng trực tiếp ảnh hưởng đến đăng ký đất vì thiếu quy
hoạch sử dụng đất cũng sẽ không thể giải quyết triệt để các trường hợp sử
dụng đất có nguồn gốc không rõ ràng, bất hợp pháp, do vậy sẽ không thể
hoàn thành nhanh gọn, dứt điểm nhiệm vụ đăng ký đất đai ban đầu.
5
- Trong công tác phân hạng và định giá đất đó là cơ sở cho việc xác
định trách nhiệm tài chính của người sử dụng đất trước và sau khi đăng ký
cấp GCNQSDĐ: đồng thời là cơ sở để xác định trách nhiệm của người sử
dụng đất trong quá trình sử dụng như việc nộp thuế sử dụng đất và các loại
thuế khác khi chuyển quyền sử dụng đất.
- Là cơ sở để thực hiện công tác thanh tra và giải quyết tranh chấp đất
đai. Bởi vì khi các mâu thuẫn đất đai xẩy ra thì để giải quyết các mâu thuẫn
này thì trước hết phải dựa vào các thông tin về đất đai mà cơ quan Nhà nước
đã quản lý trong hệ thống hồ sơ địa chính. Mặt khác trong quá trình thực
hiện đăng ký đất ban đầu, công tác thanh tra và giải quyết tranh chấp đất đai

Nam và thực hiện chia lại ruộng đất cho Nhân dân.
Ngày 04/02/1954 Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua luật
cải cách ruộng đất và ngày 19/12/1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh
ban hành luật cải cách ruộng đất.
Đến năm 1960 Hiến pháp ra đời và đã quy định 3 hình thức sở hữu ruộng
đất đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Sự ra đời của
hiến pháp này đã giúp nhân dân miền Bắc yên tâm tập trung sản xuất, nâng
cao năng suất sản xuất nông nghiệp đảm bảo nhu cầu lương thực cho cả
nước.
Sau khi miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn độc lập Đảng
và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đất đai cho phù hợp với điều
kiện mới của đất nước. Ngày 20/6/1977 Chính phủ đã ban hành quy định
169/CP với nội dung thống kê đất đai trong cả nước.
Năm 1980 Hiến pháp ra đời đã quy định hình thức sở hữu duy nhất đối
với đất đai. Đó là hình thức sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản
lý.
Điều 19 của Hiến pháp năm 1980 quy định: “Đất đai, núi rừng, sông hồ,
hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất ở vùng biển và thềm lục địa
cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc
quyền sở hữu của toàn dân”.
Điều 20 của Hiến pháp năm 1980 cũng quy định: “Nhà nước thống nhất
quản lý đất đai theo quy định chung”.
Để thực hiện tốt hiến pháp năm 1980 và công tác quản lý đất đai, Chính
phủ đã ban hành các văn bản liên quan đến công tác này như: Ngày
01/07/1980 Chính phủ ra quyết định số 201/CP về thống nhất tăng cường
7
công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Trong đó quy định vấn đề cấp
GCNQSDĐ là một nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Tiếp theo Quyết định 201/CP ngày 10/11/1980 Thủ tướng Chính phủ ra
chỉ thị 299/TTG về công tác đo đạc phân hạng và đăng ký thống kê ruộng

đai.
- Ngày 20/2/1998 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 10/CT-TTG về một số
biện pháp đẩy nhanh và hoàn thiện công tác giao đất, ĐKĐĐ, cấp
GCNQSDĐ.
- Công văn 1725/LB-QLB ngày 17/12/1998 của bộ xây dựng và tổng cục
Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên & Môi trường) về việc hướng dẫn một số
biện pháp đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà và sử dụng đất.
- Chỉ thị 18/1999/CT-TTG ra ngày 1/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ việc
đẩy nhanh và hoàn thiện việc cấp GCNQSDĐ, sở hữu nhà và sử dụng đất
nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở nông thôn vào năm 2000.
- Công văn 776/CV-Cp ngày28/7/1999 của Chính phủ về cấp GCNQSDĐ
và sở hữu nhà ở đô thị.
- Thông tư 464/1998/TT-TCĐC về hướng dẫn thủ tục ĐKĐĐ và cấp
GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính.
- Thông tư liên tịch số 1442/1999/TTLT-TCĐC-BTC ngày 21/09/1999 của
liên Bộ tài chính và Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi
trường) hướng dẫn cấp giấy chứng nhận theo chỉ thị 18/1999/CT-TTg.
- Thông tư 1990/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính (nay
là Bộ Tài nguyên & Môi trường) về việc hướng dẫn ĐKĐĐ và cấp
GCNQSDĐ.
Ngày 26/11/2003 Luật Đất đai năm 2003 được thông qua và có hiệu lực từ
ngày 1/7/2004.
Tại Khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 quy định “Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”.
Bên cạnh đó ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ là một trong 13 nội dung của quản
lý Nhà nước về đất đai. (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)[8]
Tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Nội dung quản lý
nhà nước về đất đai bao gồm:
- Nội dung 1: Ban hành những văn bản pháp luật về quản lý và sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện;

địa chính.
2.1.2.2. Những quy định về công tác cấp GCNQSDĐ trong Luật Đất đai
2003
10
Sự ra đời của Luật Đất đai năm 2003 đã đánh giấu sự hoàn thiện hơn về
chính sách và pháp luật đất đai ở nước ta trong giai đoạn đổi mới: Giai đoạn
của phát triển và hội nhập nhất là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên
của tổ chức thương mại thế giới WTO. Nó đã thể hiện được quan điểm về
việc quản lý đất đai của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn đổi mới. Đây sẽ
là tiền đề, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và nó sẽ là những tiền đề,
động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và nó sẽ có những đóng góp
không nhỏ vào công cuộc kiến thiết đất nước.
Những quy định về công tác cấp giấy GCNQSDĐ trong Luật Đất đai
2003 gồm:
 Điều kiện được cấp GCNQSDĐ:
Theo điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì điều kiện để được cấp
GCNQSDĐ là:
- Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất ổn định được uỷ ban nhân dân
(viết tắt là UBND) xã (phường, thị trấn) xác nhận là không có tranh chấp
và phải có một trong số các giấy tờ sau thì được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
+ Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10
năm 1993 do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trong quá trình thực
hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính
phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
+ Giấy hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn
liền với đất; giấy tờ giao đất tình nghĩa gắn liền với đất;

- Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất được giải quyết như sau:
+ Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng
mục đích, sử dụng không hiệu quả;
+ Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đó sử dụng làm đất ở cho UBND
huyện , quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để quản lý;
- Đối với tổ chức kinh tế lựa chọn hình thức thuê đất thì cơ quan quản lý
đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương làm thủ tục ký hợp đồng
thuê đất trước khi cấp GCNQSDĐ.
12
- Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ khi có các điều
kiện sau đây:
+ Cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động;
+ Có đề nghị bằng văn bản của tổ chức tôn giaó có cơ sở tôn giáo đó;
+ Có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi cú đất về nhu cầu sử
dụng đất của cơ sở tôn giáo đó.
 Nguyên tắc cấp GCNQSDĐ.
Nguyên tắc cấp GCNQSDĐ được quy định tại điều 48 có nội dung sau:
- GCNQSDĐ được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất
trong cả nước đối với mọi loại đất.
- GCNQSDĐ do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành.
- GCNQSDĐ được cấp theo từng thửa đất.
Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì
GCNQSDĐ phải ghi cả họ tên vợ và họ tên chồng.
Trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng
thì GCNQSDĐ được cấp cho từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng tổ chức
đồng quyền sử dụng.
Trường hợp hợp quyền sử dụng đất thuộc cộng đồng thì cấp chung cho cả
cộng đồng và trao cho từng người đại diện.
Trường hợp là cơ sở tôn giáo thì GCNQSDĐ được cấp chung cho cơ sở

vụ của tổ đăng ký đất đai là trực tiếp giúp UBND cấp xã triển khai thực hiện
toàn bộ công việc chuyên môn trong quá trình tổ chức kê khai đăng ký đất
đai, lập hồ sơ địa chính, chuẩn bị hồ sơ để trình lên cấp có thẩm quyền xét
cấp GCNQSDĐ
Tổ đăng ký đất đai gồm các thành viên sau:
+ Cán bộ địa chính cấp xã : Tổ trưởng.
+ Các thành viên khác trong tổ gồm các cán bộ của UBND am hiểu tình
hình đất đai như: cán bộ kế hoạch, các biểu thống kê, cán bộ thuế, chủ
nhiệm HTX, trưởng thôn, bản, ấp, tổ trưởng dân phố,.v.v. số lượng người
tuỳ thuộc vào quy mô của địa bàn kê khai đăng ký.
Xây dựng phương án, kế hoạch tổ chức kê khai đăng ký đất đai.
Thu thập các tài liệu có liên quan phục vụ cho công tác kê khai đăng ký
đất đai và tổ chức xét duyệt hồ sơ.
Chuẩn bị vật tư, kỹ thuật, biểu mẫu sổ sách, văn phòng phẩm cần thiết.
Tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ tham gia.
14
Quán triệt chủ trương, kế hoạch và biện pháp thực hiện trong tổ chức
Đảng, Chính quyền đến quần chúng Nhân dân.
Bước 2: Kiểm tra tài liệu hiện có
Các tài liệu cần kiểm tra, đánh giá gồm:
+ Đối với bản đồ mới đo đạc cần kiểm tra hình thể, diện tích các thửa đất.
+ Với các loại bản đồ tài liệu đo đạc đó lâu thì không tổ chức đăng ký
ngay mà cần kiểm tra phát hiện, đo đạc chỉnh lý các trường hợp biến động
đất đai.
Bước 3: Tổ chức kê khai đăng ký
 Đối tượng và phạm vi áp dụng:
Hộ gia đình và cá nhân: Là toàn bộ diện tích đang sử dụng vào toàn bộ
các mục đích.
Các tổ chức: tất cả các tổ chức dang sử dụng đất nhưng chưa kê khai
đăng ký quyền sử dụng đất và chưa được cấp GCNQSDĐ.

ký sử dụng đất đai(theo mẫu ban hành), kết luận của Hội đồng đồng đăng
ký đất đai phải được ít nhất 2/3 số thành viên biểu quyết tán thành.
UBND cấp xã căn cứ vào biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký
đất đai để xác nhận vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất.
Kết thúc việc xét đơn đăng ký quyền sử dụng đất , UBND cấp xã công
bố công khai kết quả xét đơn tại trụ sở UBND cấp xã để mọi người dân
được tham gia ý kiến.
Thời gian công khai là 15 ngày, hết thời gian này UBND cấp xã phải
lập biên bản kết thúc việc công bố công khai hồ sơ (theo mẫu ban hành).
Những trường hợp có khiếu nại, UBND cấp xã phải kiểm tra xác minh, giải
quyết.
* UBND cấp xã lập hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ trình UBND cấp có thẩm
quyền cấp GCNQSDĐ hồ sơ gồm có:
- Tờ trình của UBND cấp xã kèm theo danh sách đề nghị cấp
GCNQSDĐ
- Biên bản xét duyệt đơn của Hội đồng đăng ký đất đai.
- Hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất của người sử dụng đất.
Thời hạn hoàn thành việc lập hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đối với các
trường hợp đủ giấy tờ hợp lệ là không quá 7 ngày và các trường hợp khác
là không quá 15 ngày.
* Thẩm định hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ:
Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài nguyên và Môi trường có
trách nhiệm thẩm định hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ.
16
Nội dung thẩm định gồm: Mức độ đầy đủ, chính xác, xác định đủ điều
kiện hay không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ.
Kết qủa thẩm định được ghi vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất.
Sau khi hoàn thiện việc thẩm định, sở Tài nguyên và Môi trường, phòng
Tài nguyên và Môi trường chuyển hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đã được thẩm
định đến UBND cùng cấp kèm theo các văn bản, tài liệu sau:

mới cơ bản, giảm phiền hà trong cấp GCNQSDĐ. Do vậy tiến độ cấp
GCNQSDĐ được đẩy nhanh hơn trong vòng ba năm trở lại đây nếu như
trước Luật Đất đai 2003 ra đời thì tiến độ cấp GCNQSDĐ trên toàn quốc
vẫn còn chậm ,thì tính đến 30/9/2007 cả nước đã cấp được 25.680.731
GCNQSD đất cho các cá nhân, gia đình, tổ chức; gồm các loại đất: nông
nghiệp, lâm nghiệp, đất ở đô thị, đất ở nông thôn, đất chuyên dùng, đất cơ
sở tín ngưỡng, đất nuôi trồng thuỷ sản. Hiện nay có 43/64 tỉnh, thành phố đã
cơ bản hoàn thành việc cấp GCNQSD đất nông nghiệp, đạt hơn 85% diện
tích. Đối với đất sản xuất nông nghiệp đã cấp 13.686.351 giấy với diện tích
7.485.643ha, đạt 82,1% so với diện tích cần cấp; Trong đó cấp cho hộ gia
đình, cá nhân là 13.681.327 giấy với diện tích 6.963.330 ha, cấp cho tổ chức
5.024 giấy với diện tích 522.313 ha. Có 31 tỉnh đạt hơn 90%, 11 tỉnh đạt từ
80 đến 90%, 8 tỉnh đạt từ 70 đến 80%, 12 tỉnh đạt từ 50 đến 70%, hai tỉnh
còn lại đạt dưới 50%. Nhìn chung công tác cấp GCNQSDĐ còn chậm nhất
là các loại đất chuyên dùng, đất ở tại đô thị và đất lâm nghiệp. Một số địa
phương chưa triển khai đồng bộ cấp giấy chứng nhận cho tất cả các loại đất
mà tập trung vào một số loại chính như đất sản xuất nông nghiệp, đất ở
nông thôn và đất ở đô thị. Một số tỉnh, thành phố còn tồn đọng nhiều giấy
chứng nhận do người sử dụng đất chưa đến nhận hoặc do UBND cấp xã đã
nhận được nhưng chưa trao cho người sử dụng đất được cấp giấy.
()[13]
Nhiều địa phương hiểu không đúng và không đầy đủ những quy định của
luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, dẫn tới những vận
dụng không đúng quy định khi cấp giấy CNQSDĐ (nhất là trong việc xác
định điều kiện được cấp GCNQSDĐ với những trường hợp không có giấy
tờ về quyền sử dụng đất; xác định diện tích đất ở đối với trường hợp thửa
đất có vườn, ao gắn liền; xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai) và khi lập
hồ sơ địa chính.
18
Một số địa phương chưa ban hành đầy đủ các quy định cụ thể hoá pháp

các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tuy nhiên, Hà Nội đứng đầu cả nước về
19
tỷ lệ quỹ đất đã đưa vào sử dụng. Theo số liệu thống kê đất đai năm 2006,
toàn bộ quỹ đất của thành phố đã được giao, cho thuê hoặc cấp GCNQSDĐ
cho các đối tượng sử dụng (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư) là 78.682 ha, chiếm 85,4% diện tích đất tự nhiên của thành phố và giao
cho các đối tượng quản lý (UBND phường, xã, thị trấn; tổ chức phát triển
quỹ đất) là 13.426 ha, chiếm 14,6% diện tích tự nhiên. Cơ cấu sử dụng đất
đa dạng; trên địa bàn thành phố có gần như đầy đủ các loại đất theo quy
định của luật đất đai 2003. Trong đó các loại đất chủ yếu là:
+ Đất nông nghiệp chiếm 50% diện tích đất tự nhiên.
+ Đất phi nông nghiệp chiếm 47,7% diện tích đất tự nhiên, là tỷ lệ cao
nhất trong cả nước; trong đó riêng diện tích đất ở chiếm số lượng lớn là
13.190,06 ha chiếm 14,3% diện tích đất tự nhiên.
+ Đất chưa sử dụng có diện tích nhỏ (2.140,05 ha) chiếm 2,3% diện tích
đất tự nhiên, chủ yếu là diện tích đất đồi núi, núi đá không có rừng.
Về quỹ nhà ở:
Thành phố Hà Nội có quỹ nhà lớn thứ hai trong cả nước (sau thành phố
Hồ Chí Minh), hình thức sở hữu nhà đa dạng, đan xen giữa sở hữu nhà
nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Theo số liệu điều tra, toàn bộ quỹ
nhà trên địa bàn thành phố khoảng 35 triệu m
2
, gồm:
+ Nhà thuộc sở hữu tư nhân: Khoảng 20 triệu m
2
.
+ Nhà thuộc sở hữu nhà nước cho thuê để ở, để sản xuất kinh doanh:
Khoảng 1,9 triệu m
2
.

cấp được 175.237 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các
hộ gia đình, cá nhân. Những trường hợp còn lại thuộc khu vực nằm trong
quy hoạch phát triển đô thị hoặc đã có quyết định thu hồi đất để triển khai
các dự án xây dựng ; theo quy định không cấp giấy chứng nhận.
 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tư nhân:
- Tổng số hồ sơ kờ khai đến 30/6/2007: 449.023 hồ sơ, trong đó có
27.300 hồ sơ chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở.
- Đến hết ngày 30/6/2007 đã cấp được 417.928 giấy chứng nhận đạt
99,1% so với tổng số hồ sơ kê khai đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, gồm:
+ Số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cấp theo Luật Đất đai
1993 là: 55.000 giấy chứng nhận tại khu vực nông thôn, chiếm 13,5% số hồ
sơ đủ điều kiện.
+ Số lượng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
cấp theo nghị định 60/CP là: 227.339 giấy chứng nhận tại khu vực đô thị,
chiếm 56% số hồ sơ đủ điều kiện.
+ Số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cấp theo Luật Đất đai
2003 là: 135.589 giấy chứng nhận, chiếm 29,6% số hồ sơ đủ điều kiện.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cấp cho các hộ mua nhà thuộc sở
hữu nhà nước theo nghị định 61/CP của Chính phủ:
- Tổng số căn hộ thuộc sở hữu Nhà nước được phép bán: 150.000 căn hộ,
trong đó có 15.000 căn hộ nhà ở cấp IV của các cơ quan tự quản không có
đầu mối quản lý hoặc người ở thuê đã tự phá đi xây dựng mới theo chính
sách Tài chính quy định tại Nghị định 61/CP của Chính phủ
21
- Đến hết ngày 30/6/2007 đã bán được 104.400 căn hộ, đạt 70% và cấp
được 77.581 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
đạt 51,7%.
 Số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các tổ chức
là: 1410 giấy chứng nhận, đạt 23,8% số tổ chức cần cấp.
Như vậy tính hết năm 2006 thành phố đã hoàn thành công tác cấp giấy

định 181/2004/NĐ-CP và Nghị định 90/2006/NĐ-CP); quy định về việc
thực hiện các quyền của người sử dụng đất, sở hữu nhà theo Luật Đất đai,
Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản chưa đồng bộ.
- Về phía chủ quan: Có nơi, có lúc việc tuyên truyền, phổ biến chính sách
và điều kiện, trình tự, thủ tục về công tác cấp giấy chứng nhận cho người
dân chưa tốt; cán bộ địa chính cơ sở còn thiếu và lúng túng; cá biệt một số
cán bộ trực tiếp với dân còn biểu hiện sai phạm, gây phiền hà, nhũng nhiễu
làm bức xúc trong nhân dân và dư luận (UBND thành phố đã giao nhiệm vụ
cho các ngành, các cấp thường xuyên kiểm tra phát hiện và xử lý nghiêm
khắc những tổ chức cá nhân có hành vi, vi phạm và đến nay các quận,
huyện đã xử lý, kỷ luật nghiêm khắc một số cán bộ vi phạm). (Báo cáo việc
chấp hành pháp luật về cấp GCNQSDĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội,
2007)[6]
( Nguồn: Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất TP.Hà Nội)
2.2.3. Tình hình cấp GCNQSDĐ của quận Tây Hồ- TP Hà Nội
Quận Tây Hồ là đơn vị hành chính cấp quận (huyện ) được lập theo
Nghị định số 69/CP ngày 28/10/1995 của Chính phủ và chính thức đi vào
hoạt động từ ngày 01/01/1996. Quận được hình thành trên cơ sở 5 xã thuộc
huyện Từ Liêm và 03 phường thuộc quận Ba Đình tách ra, đến nay quận
Tây Hồ gồm 08 phường : Yên Phụ, Tứ Liên, Quảng An, Nhật Tân, Phú
Thượng, Xuân La, Bưởi và phường Thụy Khuê.
 Về vị trí địa lý:
- Phía Bắc của quận giáp với 3 xã của huyện Đông Anh là xã Hải Đôi,
xã Vĩnh Ngọc và xã Tầm Xá.
- Phía Nam quận là trung tâm chính trị Ba Đình với các phường giáp
ranh là Cống Vị, Ngọc Hà, Quán Thánh, Trúc Bạch và Phúc Xá.
- Phía Đông và phía Đông Bắc giáp ranh với phường Ngọc Thuỵ của
quận Long Biên.
- Phía Tây quận giáp huyện Từ Liêm với các xã giáp ranh là Đông
Ngạc, Xuân Đỉnh và phường Nghĩa Đô của quận Cầu Giấy.

1.3 Hồ sơ đang thụ lý 168
- Đã trình phòng Tài nguyên 19
- Đã thảo đang in vẽ 6
24
- Đang kiểm tra 125
1.4 Hồ sơ vướng mắc 69
-Đi kiểm tra thực địa (chuyển mdsd sau 15/10/1993) 10
- Chờ chính sách (hoặc tranh chấp) 10
- Chờ chuyển phường chỉnh sửa 59
2. Hồ sơ chưa đủ điều kiện đã công khai 12
IV. GCN đó cấp do chia tách 263
V. GCN cấp đổi, cấp lại 68
VI. Hồ sơ chuyển thẳng năm 2007 đó cấp GCN 485
- Khu đụ thị nam Thăng Long 65
- Hồ sơ 61 (công ty KDN) 368
- Hồ sơ Quân Đội 21
- Hồ sơ IDC 4
- Hồ sơ đấu giá khu 18.6 ha 24
- Hồ sơ đấu giá nhỏ lẻ xen kẹt 03
( Nguồn : Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Tây Hồ)
Qua bảng 2.1 ta thấy công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn toàn quận đã
đạt được những thành tựu đáng kể tuy nhiên bên cạnh đó công tác cấp GCN
còn chậm do một số nguyên nhân chính:
- Về phía công dân:
+ Một số công dân chưa có trách nhiệm trong việc kê khai cũng như bổ
sung giấy tờ hoàn thiện hồ sơ cấp GCNQSDĐ.
+ Tranh chấp về QSDĐ vẫn còn tồn tại.
- Về phía cơ quan quản lý nhà nước:
+ Năng lực quản lý của cán bộ địa chính còn hạn chế trong khi phải thực
hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ chuyên môn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status