TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
TÀI LIỆU BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ)
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH
SỬ Ở TRƯỜNG THCS
(DÀNH CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM NGỮ VĂN (GHÉP VỚI LỊCH SỬ)
HỆ CHÍNH QUY)
Tác giả: ThS. Dương Vũ Thái
Quảng Bình, năm 2017
MỤC LỤC
STT
TÊN MỤC
Trang
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ LÀ MỘT KHOA HỌC .....
1
1.1. Những quan niệm khác nhau về PPDHLS ..........................................................
1
1.2. Phương pháp dạy học lịch sử là một khoa học ...................................................
2
1.2.1. Vì sao đặt ra vấn đề này? ..........................................................................
2
1.2.2. Đối tượng nghiên cứu của PPDHLS .........................................................
3
1.2.3. Chức năng, nhiệm vụ của bộ môn PPDHLS .............................................
2.6.2.Cơ sở phân loại phương pháp dạy học lịch sử ở trưởng phổ thông ...........
24
2.6.3. Phân loại phương pháp dạy học lịch sử ở trưởng phổ thông ....................
25
XÊMINA ............................................................................................................
30
CHƯƠNG 3: NHÓM PHƯƠNG PHÁP THÔNG TIN - TÁI HIỆN LỊCH SỬ ......
31
3.1. Quan niệm về phương pháp dạy học ..................................................................
31
3.2. Vai trò, vị trí của nhóm PP thông tin – tái hiện lịch sử ....................................... 31
3.2.1. Phương pháp tường thuật .........................................................................
36
3.2.2. Phương pháp miêu tả ................................................................................
39
3.2.3. Phương pháp nêu đặc điểm sự kiện, nhân vật lịch sử ...............................
40
3.2.4. Phương pháp giải thích .............................................................................. 41
3.2.5. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan .................................................. 44
CHƯƠNG 4: NHÓM PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN
THỨC LỊCH SỬ VÀ THỰC HÀNH CHO HỌC SINH ............................................ 55
4.1. Vị trí, ý nghĩa của nhóm các PP phát triển khả năng nhận thức và thực hành .... 55
1
4.2. Phương pháp sử dụng SGK Lịch sử ....................................................................
4.3. Phương pháp sử dụng tài liệu ..............................................................................
4.3.1. Các loại tài liệu tham khảo ........................................................................
4.3.2. Phương pháp sử dụng tài liệu lịch sử, văn kiện Đảng, Nhà nước .............
4.3.3. Phương pháp sử dụng tài liệu văn học ......................................................
97
97
98
LỜI NÓI ĐẦU
Học phần trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản và có hệ thống về lý luận và phương
pháp dạy học Lịch sử ở trường THCS; gồm các vấn đề sau: Phương pháp dạy học Lịch sử là một
khoa học; nắm được đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu bộ môn. Nắm
vững nguyên tắc cấu tạo nội dung, chương trình môn Lịch sử, nhiệm vụ của bộ môn, cấu tạo chương
trình và sách giáo khoa Lịch sử ở THCS. Nắm vững đặc trưng cơ bản của bộ môn Lịch sử, con
đường nhận thức lịch sử của học sinh (từ sự kiện lịch sử cụ thể đến khái quát lý luận). Nắm được cơ
sở phân loại phương pháp dạy học lịch sử và các nhóm các phương pháp nghiên cứu và dạy học
lịch sử ở trường THCS; một số quan điểm dạy học hiện đại. Học phần giúp cho người học nhận
thức được tầm quan trọng của bộ môn PPDHLS ở trường THCS và thấy được mối quan hệ của bộ
môn với các môn học khoa học cơ bản và khoa học giáo dục. Giúp người học củng cố ý thức tự giác
rèn luyện, tự học nhằm đáp ứng yêu cầu kỹ năng nghiệp vụ. Có thái độ đúng đắn khi học tập bộ môn
PPDHLS. Biết phê phán những quan điểm sai lầm về PPDHLS. Giáo dục ở sinh viên lòng yêu nghề
dạy học môn Lịch sử. Tiếp tục rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng vận dụng lý luận để tìm hiểu
chương trình lịch sử trường THCS và chuẩn bị cho công tác giảng dạy (làm quen với việc giảng dạy
một số bài trong SGK Lịch sử ở THCS). Tiếp tục rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng tư duy phân
tích, so sánh, đánh giá và các kỹ năng thực hành bộ môn... Đồng thời giới thiệu những vấn đề chung
về phương pháp dạy học Lịch sử với tư cách là một khoa học. Sơ lược quá trình phát triển của bộ
môn PPDHLS. Giới thiệu về bộ môn lịch sử ở trường THCS (mục tiêu, cấu tạo chương trình, nội
dung và nhiệm vụ cơ bản của bộ môn ở THCS). Con đường hình thành tri thức lịch sử cho học sinh,
cách tiến hành giáo dục tư tưởng tình cảm và phát triển tư duy cho học sinh thông qua dạy học lịch
sử. Trang bị cho giáo sinh hệ thống PPDH Lịch sử ở trường THCS. Trong quá trình biên soạn, chắc
chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, mong các thầy cô và các bạn sinh viên góp ý để bài giảng
được hoàn thiện hơn!
SK
THCS
THPT
TLLS
NGHĨA LÀ
Cao đẳng sư phạm
Cách mạng tư sản
Cách mạng vô sản
Công xã Pari
Đại học
Dạy học lịch sử
Giáo dục học
Giáo viên
Giáo viên lịch sử
Học sinh
Khoa học kỹ thuật
Khoa học xã hội nhân văn
Khái niệm lịch sử
Lịch sử địa phương
Lịch sử dân tộc
Lịch sử thế giới
Nghiên cứu khoa học
Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học lịch sử
Phổ thông Việt Nam
Tài liệu tham khảo
Khoa học tự nhiên
Sách giáo khoa
Sự kiện
động dạy học. Quan điểm này trở thành nguyên tắc dạy học nhằm phát huy mọi khả năng
của HS trong học tập, nó khắc phục tình trạng “dạy học lấy GV làm trung tâm” đã tồn tại
trước trong nhiều thế kỷ. Quan điểm “DH lấy HS làm trung tâm” xuất phát từ nhận thức
đúng rằng trong quá trình dạy học HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của nhận thức.
Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm được hiểu là trong quá trình dạy học,
thầy giáo có vai trò giáo dục, hướng dẫn HS, phát huy tính tích cực chủ động của HS đề
tiếp thu kiến thức, bồi dưỡng quan điểm, tư tưởng, phát triển năng lực tư duy hành động.
Dạy học “lấy HS làm trung tâm được tiến hành trên cơ sở nhận thức trình độ của HS về
một môn học; GV lựa chọn nội dung, PP truyền thụ thích hợp, phát huy tối đa năng lực
1
học tập của HS ở trên lớp, cũng như học tập ở nhà nhằm đạt chất lượng cao trong quá
trình đào tạo và giáo dục ở THPT.
* Nội hàm của khái niệm PPDHLS như sau:
- Nhiệm vụ, vai trò của GVLS là cung cấp cho HS những sự kiện lịch sử, các quan
điểm lịch sử cơ bản, hướng dẫn học tập lịch sử phù hợp để phát huy tính tích cực, năng
lực tự học thông minh sáng tạo, rèn luyện quan điểm tư tưởng, giáo dục đạo đức phẩm
chất và phát triển năng lực tư duy hành động của HS.
- HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình nhận thức lịch sử nhưng do đặc
trưng bộ môn các em không thể trực tiếp quan sát quá khứ, không phải phát hiện tài liệu sự kiện mới. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được phát huy tích cực, năng lực độc lập
nhận thức, thông minh sáng tạo để thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo
dục, phát triển của môn học theo chương trình quy định.
- Xác lập mối quan hệ giữa giảng dạy của GV với học tập của HS là nhằm phát
triển sự nhận thức tích cực, độc lập của HS.
- PPDHLS rất đa dạng, sinh động phong phú không thể thực hiện một cách công
thức khô cứng làm mất hứng thú học tập, tính tích cực và khả năng nhận thức của HS.
- PPDHLS gắn liền với nội dung dạy học, với các phương tiện, phương thức DH
để thực hiện mục tiêu giáo dục, mục tiêu môn học và nâng cao chất lượng môn học.
Như vậy nội hàm khái niệm phương pháp DHLS chi phối mối quan hệ giữa các
hành.
+ Những quan điểm, tư tưởng được nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo sẽ
giúp chúng ta xác định được cách giải quyết các nhiệm vụ của việc nghiên cứu bộ môn,
nhằm nhận thức đúng hiện thực khách quan và hành động phù hợp với quy luật.
- Chức năng cơ bản của PPDHLS là:
+ Chức năng nhận thức (Chức năng khoa học): Quy luật chi phối quá trình DH.
Tạo biểu tượng: Trực quan sinh động.
+ Giáo dục: Tìm ra cho được các biện pháp để làm tốt công tác giáo dục tư tưởng,
tình cảm, đạo đức, phát triển nhân cách học sinh (Yêu nước, CNXH).
b. Nhiệm vụ của bộ môn PPDHLS
Nhiệm vụ của bộ môn PPDHLS là một chỉnh thể bao gồm việc nghiên cứu mục
đích, nội dung, cấu tạo chương trình, SGK, các phương pháp và hình thức giáo dưỡng
giáo dục và phát triển, hoạt động của GV và HS trên tất cả các khâu của quá trình dạy
học. Là một bộ môn khoa học, PPDHLS, đồng thời phải trang bị những kỹ năng thực
hành nghiệp vụ cần thiết để đáp ứng những yêu cầu thực tế mà DHLS ở trường phổ
thông đặt ra.
Nói cụ thể hơn, nhiệm vụ của bộ môn PPDHLS thể hiện ở các điểm sau:
+ Trang bị cho GV những kiến thức về việc DHL, cần thiết cho việc giáo dưỡng,
giáo dục và phát triển HS qua môn học.
+ Giúp GV nhận thức những nguyên tắc xây dựng chương trình, việc lựa chọn
kiến thức cơ bản, mối quan hệ giữa SKLS với khái quát lý luận việc rút ra các quy luật
3
phát triển xã hội, bản chất của quá trình lịch sử và những bài học, kinh nghiệm quá khứ
đối với hiện tại và tương lai, việc vận dụng những thành tựu mới của sử học.
+ Trang bị cho GV những hiểu biết khoa học về việc tổ chức, tiến hành các hoạt
động giáo dục, các hình thức sư phạm của việc truyền thụ, tiếp thu, các biện pháp, cách
thức tổ chức kiểm tra, nhận thức và hành động của HS trong quá trình học tập.
nhà nghiên cứu chỉ tác động vào một phần việc nào đó cần thay đổi, còn các yếu tố khác
cần giữ nguyên.
Thực nghiệm toàn phần: tổng hợp, làm thay đổi nhiều mặt, nhiều khâu của quá
trình dạy học làm cơ sở cho một luận điểm, một quan điểm mà nhà nghiên cứu đặt ra.
- Tìm ra các PPDH bộ môn để chuyển tải tri thức lịch sử trong SGK đến học sinh
một cách nhanh nhất và tốt nhất.
1.2.5. Hệ thống khái niệm và thuật ngữ
Các thuật ngữ: Tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút Bài học
lịch sử là thuật ngữ riêng của PPDh Lịch sử (Phát triển năng lực...).
Bộ môn này ra đời sau khoa học lịch sử, bởi vì phải có tri thức lịch sử mới có thể
chuyển tải tri thức lịch sử và còn khá non trẻ -> Có vai trò quyết định trong đổi mới
PPDH Lịch sử hiện nay (Lấy học sinh làm trung tâm).
Khoa học cơ bản: LSVN - LSTG - Dân tộc học - Khảo cổ học.
Khoa học giáo dục: LLDH Lịch sử - PPDH Lịch sử.
1.3. Sơ lược quá trình phát triển của bộ môn PPDH Lịch sử
Sinh viên tự nghiên cứu:
- Trình bày tóm tắt quá trình phát triển của bộ môn DHLS trên thế giới và VN?
Cho nhận xét?
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Hãy giải thích tại sao PPDHLS là một khoa học ?
2. Trình bày đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của bộ môn PPDHL ở trường phổ
thông?
3. Trình bày sơ lược quá trình phát triển của bộ môn PPDHLS trên thế giới và Việt
Nam?
5
CHƯƠNG 2
BỘ MÔN LỊCH SỬ TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM
thành viên.
6
Hay: Các Quốc gia Cham Pa, Lâm Ấp được nói nhiều hơn.
Thay đổi về ngôn ngữ: Trước đây thì nói Mỹ và chư hầu - Nay đổi lại là Mỹ và
Đồng Minh.
b. Vì sao? (Hiểu Sử)
Vì sao phải có nguyên tắc này? Địa phương cần cái gì thì Nhà trường phổ thông
cần đáp ứng cái đó. Chương trình cần sát với yêu cầu của địa phương. Phái phù hợp với
mục tiêu giáo dục.
2.2.1.2. Chương trình xây dựng phải đáp ứng được nguyên tắc: Kết
hợp giữa LSDT và Lịch sử thế giới
a. Biểu hiện
Lớp 6: LSTG -> LSDT
Lớp 7: LSTG -> LSDT
Lớp 8: LSTG -> LSDT
Lớp 9: LSTG -> LSDT
Chương trình bào giờ cũng dạy
LSTG trước rồi mới dạy LSDT. Khi
dạy LSTG có điều kiện phải tìm cách
liên hệ LSDT.
VD: Khi dạy Đường lối NEV của V.Lênin -> Phải liên hệ đường lối đổi mới của
Việt Nam -> Nền kinh tế nhiều thành phần chịu sự quản lý của Nhà nước vô sản.
Hay VD: QHSX TBCN trong lòng CĐPK: Đối với Côn trường thủ công là hình
thức sản xuất chuyên môn hóa của CNTB. Nhưng bị QHSX PK kìm hãm. Thì CNTB
phải tiêu diệt nó đi thông qua CMTS.
Đến CNXH ở thời kỳ đầu phải duy trì nền kinh tế TBCN trong lòng XHCN, bởi
của loài người.
Hay trước đây sự kiện hợp nhất Đảng là do: 3 tổ chức cộng sản chia rẽ; QTCS chỉ
thị; Nguyễn Ái Quốc được QTCS chỉ thị về hợp nhất.
Bây giờ kết luận:
Thứ nhất, vì phát hiện không có công văn chỉ thị của QTCS sau khi Liên Xô sụp
đổ, LB Nga bán kho tư liệu của QTCS.
Thứ hai, Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập tháng 8/1929. Theo logic thời
gian thì vận chuyển công văn xin hợp nhất Đảng từ Việt Nam sang Liên Xô là không đủ
chưa chưa nói đến chuyển công văn về lại Việt Nam. Vì vậy, Khoa học Lịch sử kết luận
lại: Không có việc QTCS chỉ thị mà chỉ có Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhận thức được
nguy cơ chia rẽ cách mạng Việt Nam và tổ chức hội nghị hợp nhất Đảng.
VD: Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII/ 1939, -> Đổi lại là Hội nghị Trung
ương Đảng tháng 11/1939.
Hay sự kiện hợp nhất Đảng cũng vậy. Nếu trước đây từ ngày 6/1 đến ngày 7/2
diễn ra Hội nghị hợp nhất Đảng, nhưng do Đại hội III của Đảng (1960) Bác Hồ nói có lẽ
mồng 3/2 nên lấy ngày này làm ngày thành lập Đảng. Nhưng sau lấy được tư liệu của
QTCS về mới phát hiện ra văn bản Bác ký là ngày 6/1 “chào mừng các Đại biểu về dự
hội nghị...”.
8
Nhưng lấy lý do của ngày 3/2 làm ngày sinh nhất Đảng vì về logic trong các ngày hội
nghị, có thể chọn một trong các ngày đó đều được. Không việc gì phải tranh cãi. Trong khi
đã có Đảng Cộng sản Việt Nam chọn nó rồi. Do đó không bác bỏ sự kiện ngày 3/2.
b. Vì sao?
- Để kiến thức DHLS ở trường phổ thông không bị lạc hậu quá xa so với kiến thức sử
học ở Đại học và Cao đẳng. Bởi vì kiến thức ở Đại học có nhiều phát hiện mới. Người thầy
có thể kết luận hoặc không nhưng nếu giáo dục lịch sử không kế thừa thì sẽ bị lạc hậu.
VD: SGK trước năm 1982 người ta chưa đưa nội dung hội nghị tháng 10/1930 của
+ Trong chương trình học phải ưu tiên dạy kỹ các quốc gia, các vấn đề có quan hệ
với cách mạng Việt Nam.
* Vì sao?
Vì đây là chương trình dùng để dạy cho học sinh Việt Nam.
2.2.1.5. Chương trình xây dựng phải đảm bảo nguyên tắc Đồng tâm kết
hợp với đường thẳng (Nguyên tắc này cũng được GS Lương Ninh gọi là
nguyên tắc Vàng)
a. Đồng tâm
* Biểu hiện
- Nếu xét trong mối quan hệ giữa chương trình THCS và THCS thì bậc học sau
học lại kiến thức cơ bản của bậc học trước -> Gọi là đồng tâm.
VD: Cấp THCS: Học LSTG từ CXNT đến hiện đại.
Cấp THPT học LSTG từ CXNT đến hiện đại.
Lớp 9 nội dung học về Nguyễn Ái Quốc với việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và
tổ chức cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thì ở lớp 12 cùng học về nội dung đó.
Cấp THCS: LSTG + LSVN: Mục này học 2 tiết
5/6
Chuẩn bị về mặt chính
trị, tư tưởng và tổ chức
cho sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam
Vì sao các sự kiện tháng
6/1925, tháng 7/1924,
tháng 10/1923, 1921 lại
là sự chuẩn bị về mặt tổ
chức?
6/1911
* Vì sao?
Do đặc điểm của việc nhận thức lịch sử quy định - Sự kiện trước có mối quan hệ
với sự kiện sau, do đó phải học theo một quá trình.
VD: Bài 12: Phong trào yêu nước -> Bài 13: Phong trào công nhân.
Cấp THCS chỉ cần nắm được các nội dung: PTTS; PTTTS; PTCN; (Chấn hưng
nội hóa bài trừ ngoại hóa; PTTTS tiểu biểu với PT của cụ Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh, tiếng Bom Sa Diện - Ý nghĩa. Phong trào công nhân có cuộc bãi công của công
nhân 1922, 1925 -> Tự phát -> Tự giác với cuộc bãi công 1925 của công nhân Ba Son).
Cấp THCS: Học sinh ngoài phải hiểu như học sinh cấp THCS còn phải mở rộng.
VD: Sự kiện tháng 7/1922, nếu ghi máy móc thì học sinh sẽ không nhớ, nhưng
nếu miêu ta; “... Lúc đó ông Nguyễn Ái Quốc hét lớn bật khóc...” thì học sinh sẽ nhớ.
- Tổng kết nguyên nhân thất bại của PTCN đều thất bại phải làm rõ nguyên nhân
vì sao thất bại. PT của TTS để chứng minh phong trào vô sản thắng lợi.
11
c. Thực hành: Mục II.3. Giải thích Đồng tâm chỗ nào? Đường thẳng chỗ
nào? Thực hành tại chỗ trên lớp1.
2.2.2. Cấu tạo chương trình môn lịch sử ở trường THCS hiện nay
Ở cấp THCS HS được tìm hiểu có hệ thống LSDT từ buổi bình minh, từ thời đầu
dựng nước cho đến ngày nay. Về LSTG, HS chỉ học một cách khái quát lịch sử xã hội
nguyên thủy, cổ đại và trung đại ở lớp 6 và lớp 7, sau đó tập trung vào học phần lịch sử
thế giới cận, hiện đại ở lớp 8 và 9.
Chương trình lịch sử được ban hành ngàu 5/5/2006 của Bộ giáo dục và Đào tạo,
được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng đã nhấn mạnh phải
“đảm bảo cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, có hệ thống, phân biệt trình độ học
tập ở các cấp nên làm nổi bật các mạch nội dung theo nguyên tắc đổng tâm kết hợp với
đường thẳng.
TT
LSTG cận đại
*
4
LSTG hiện đại
*
5
LSVN từ nguồn gốc
đến thế kỷ X
+
+
*
6
LSVN từ thế kỷ X
đến thế kỷ XIX
+
+
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
ở các cấp với một số tiết nội khóa và những hoạt động về công tác LSĐP).
Chương trình lịch sử ở các cấp, được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp
với đường thẳng có phân biệt mức độ, yêu cầu đạt về các chủ đề lịch sử (ngoài chương
trình quy định nội dung dạy học từng môn còn có phần Chuẩn kiến thức, kỹ năng, quy
định “mức độ cần đạt” của chủ đề được học ở mỗi lớp. Đây là phần phân biệt mức độ,
trình độ của học sinh các cấp khác nhau, khi cùng học về một chủ đề.
Mạch nội dung chương trình xác định tính hệ thống của kiến thức lịch sử được
trình bày theo biên niên (theo trình tự thời gian phát triển của lịch sử). Vì vậy, ngay từ
lớp 4,5 HS tiểu học cần tiếp cận với thời nguyên thủy trên đất nước ta; từ lớp 6 đến 12,
bắt đầu học LSTG từ xã hội nguyên thủy, các thời kỳ kế tiếp từ cổ đại đến hiện đại theo
logic phát triển tự nhiên của lịch sử.
2.3. Nhiệm vụ của bộ môn lịch sử ở trường THCS
Nhiệm vụ chủ yếu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông: nghiên cứu, học tập
lịch sử để phụ vụ con người trên các mặt nhận thức, giáo dục và hoạt động thực tiễn.
Trong tình hình nhiệm vụ nhất định, việc nghiên cứu các ngành khoa học và những hoạt
động của xã hội đều phải được phục vụ những nhiệm vụ chung của đất nước, của dân
tộc, của giai cấp và của nhân loại.
Xuất phát từ đặc điểm, chức năng của mình, bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông
có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Nhiệm vụ giáo dưỡng: Cung cấp kiến thức lịch sử khoa học làm cơ sở cho mỗi
người hiểu biết chính xác, cơ bản, tương đối đầy đủ về những sự kiện, con người của quá
khứ. Nhận thức lịch sử là điều kiện cần phải có để con người nhận thức được hiện tại và
dự kiến được tương lai, như Hồ Chủ Tịch từng nói: “Chúng ta nên nhìn lại những đoạn
đường đã qua, rút ra những kinh nghiệm quý báu và ấn định đúng đắn những nhiệm vụ
cách mạng hiện nay và sắp tới để giành lấy những thắng lợi to lớn, hơn nữa, vẻ vang hơn
nữa... ”. Qua tìm hiểu quá khứ để hiểu sâu sắc hơn hiện tại, để tích cực đấu tranh cho
hiện tại và dự đoán tương lai.
2
+ Hai là, không xuất phát từ sự thực lịch sử mà “giải thích” dài dòng, công thức, áp đặt.
Một số người lại cho rằng nhiệm vụ của GV là chỉ cần trình bày SK khách quan là đủ,
hoặc hướng dẫn sự nhận thức của HS một cách chặt chẽ theo các phương hướng đã định mà
không khai thác nhiều nội dung của khóa trình -> Hạ thấp chức năng của bộ môn.
Việc giáo dục tư tưởng tình cảm cho HS thông qua bộ môn Lịch sử có ưu thế rất lớn:
- Tác dụng giáo dục quan trọng của sử học cũng như bộ môn Lịch sử ở trường phổ
thông là giáo dục trí tuệ, tư tưởng chính trị, tình cảm, đạo đức và xác định thái độ đối với
cuộc sống hiện tại. Yêu cầu giáo dục thế hệ trẻ đó hoàn toàn phù hợp với chức năng của
KHLS, với nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng và phát triển của bộ môn Lịch sử ở trường
phổ thông.
14
- Nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm trong giáo dục truyền thống, lịch sử cho thế hệ trẻ.
- Bản thân sử học vốn là cuộc sống của quá khứ diễn ra trên nhiều mặt có liên
quan đến hiện tại. Do đó học lịch sử giúp cho HS nhận thức đúng, rõ đường lối chính trị
của Đảng. Điều này thể hiện sự phục vụ rất tốt cho nhiệm vụ chính trị của bộ môn.
- Bộ môn lịch sử góp phần giáo dục lí tưởng cho thế hệ trẻ thông qua ưu thế là
giảng dạy các SK cụ thể, các khái niệm, quy luật lịch sử, các môn khoa học. Lịch sử sẽ
chứng minh cho sự đúng đắn và tất thắng của lý tưởng. Phải làm cho HS nhận thức rõ và
đúng về quá khứ, thấy được khuynh hướng tất yếu của sự phát triển xã hội loài người.
- Việc giáo dục trí tuệ, tư tưởng chính trị, tình cảm, đạo đức, phẩm chất trong
DHLS bao gồm ba yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau:
+ Trình bày đúng SKLS (chân lý khách quan).
+ Rút ra kết luận khoa học về sự việc khách quan.
+ Sử dụng tri thức để chứng minh, giải thích lý tưởng, tiến hành giáo dục tư tưởng,
tình cảm…
a. Nguyên tắc
- Giáo dục lịch sử phải đáp ứng yêu cầu phục vụ cho dân tộc, cách mạng, Đảng, do
ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử, môi trường sinh sống và mong muốn vươn lên của dân
tộc.
- Tôn trọng đối tượng giáo dục, tránh áp đặt, cưỡng bức, mệnh lệnh. Giáo dục là
hoạt động nhận thức nên chỉ có giáo dục một cách tự nguyện mới đạt hiệu quả cao nhất.
Việc áp đặt là biểu hiện của việc thiếu công bằng, dân chủ trong giáo dục.
- Kết hợp giáo dục lý trí với tình cảm. Điều này thể hiện sự vận dụng đúng tâm lý
học lứa tuổi vì nếu xúc cảm được hình thành trên cơ sở lí tính thì sẽ trở nên vững chắc.
- Giáo dục tư tưởng tình cảm phải kết hợp với hoạt động thực tiễn. Đó là vận dụng
ngyên lý học đi đôi với hành, thống nhất nhận thức với hành động.
- Người giáo dục phải làm gương cho người được giáo dục. Đây là thể hiệ yêu cầu
giáo dục nêu gương.
- Chú ý xây dựng lý tưởng, niềm tin, hình thành nghĩa vụ công dân cho HS.
b. Biện pháp sư phạm
- Thứ nhất, khai thác triệt để nội dung các khóa trình lịch sử theo đúng phương
pháp bộ môn. Phương pháp này góp phần khắc phục bệnh công thức, giáo điều.
- Thứ hai, trên cơ sở tường thuật, miêu tả cụ thể về những tấm gương lao động
sáng tạo, quên mình của các nhà khoa học, các danh nhân trong các khóa trình lịch sử
(Bruno, Galile, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du...), GV làm cho HS hiểu lao động trí óc là một
quá trình lao động gian khổ, hi sinh.
- Thứ bai, gắn liền việc học tập các khóa trình lịch sử với công tác ngoại khóa để
tiến hành việc giáo dục tư tưởng cho HS.
- Thứ tư, phải phối hợp giữa các môn học, với toàn bộ hoạt động giáo dục của nhà
trường phổ thông. Đây cũng là việc thực hiện nguyên tắc liên môn, sự tích hợp kiến thức
16
các môn học trong công tác giáo dục, trước hết là mối liên hệ giữa Văn - Sử Địa GDCD.
- Thứ năm, việc giáo dục tư tưởng, tình cảm thái độ cho HS phụ thuộc một phần
17
+ Thời ba, hợp tác với GV, tự kiểm tra, tự điều chỉnh. GV đóng vai trò hướng dẫn
cho HS học, thảo luận, tìm ra cái mới, để các em ghi nhớ kĩ và hiểu sâu.
Ba thời này không tách rời nhau, ở bất cứ thời nào cũng có vai trò của GV và HS,
chỉ có thời nào vai trò của GV hay HS trỗi hơn mà thôi.
- Các nhà tâm lý học chia ra các loại tư duy như sau: tích cực, chủ động, độc lập, sáng
tạo; tái tạo và sáng tạo... các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh tư duy sáng tạo của HS.
Mỗi môn học phát triển một tư duy đặc thù, môn Lịch sử là phát triển tư duy lịch sử.
- Đặc trưng của tư duy lịch sử là:
+ Biết miêu tả, khôi phục những SKLS của quá khứ với một số tài liệu cơ bản,
được lựa chọn chính xác.
+ Nêu được nguyên nhân xuất hiện, phát sinh của SKLS.
+ Xác định được điều kiện, hoàn cảnh, những mối liên hệ của các SK.
+ Nhận biết tính chất, ý nghĩa bài học, kinh nghiệm rút ra từ SK, nhất là những SK
lớn, quan trọng.
+ Làm sáng tỏ những biểu hiện đa dạng của các quy luật lịch sử.
+ Xác định động cơ hoạt động của các tầng lớp, tập đoàn hay cá nhân trong lịch sử.
+ Biết liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu lịch sử với đời sống hiện nay và rút ra bài
học kinh nghiệm.
- Tư duy lịch sử được hình thành trong học tập lịch sử và có liên hệ chặt chẽ với tư
duy biện chứng. PPDHLS ở phổ thông phải giúp HS nắm vững những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- C.Mác và Ănghen đã khẳng định răng: “các ông chỉ thừa nhận một khoa học duy
nhất là khoa học lịch sử”. Điều này không có nghĩa là các ông chỉ thừa nhận một khoa học
suy nhất mà phủ nhận các khoa học khác, thực ra các ông chỉ nhấn mạnh đến “quan điểm
lịch sử”, “tinh thần lịch sử”, “chủ nghĩa lịch sử”, tức nghiên cứu bất cứ một sự vật, hiện
tượng nào cũng phải tìm hiếu sự ra đời, phát triển và tiêu vong của SK, hiện tượng ấy.
- SK có vai trò quan trọng và được xem là “không khí” của nhà khoa học.
thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Qua việc trình bày các SKLS cơ bản trong các khóa trình, cần làm cho HS hiểu
rằng mâu thuẫn trong xã hội cũng thể hiện mối quan hệ , sự tác động lẫn nhau của các
mặt đối lập, vì đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của sự phát triển xã hội, tự
nhiên và tư duy.
Nô lệ và chủ nô là hai mặt đối lập của xã hội CHNL, sự đấu tranh giữa hai mặt đó
tạo động lực cho sự phát triển xã hội tiến sang CĐPK cao hơn. Không có giai cấp TS và
VS thì không có xã hội TBCN. Mâu thuẫn giữa TS và VS là động lực tất yếu dẫn tới
CMVS -> CNXH sẽ thắng lợi, CNTB diệt vong.
Như vậy, qua học tập Lịch sử, Hs phải hiểu rằng, từ khi xã hội có giai cấp đối
kháng thì cuộc đấu tranh giữa giai cấp bị áp bức với giai cấp áp bức ngày càng diễn ra
mạnh mẽ. Sự thắng lợi của giai cấp bị trị trước giai cấp thống trị làm chuyển biến xã hội
19
từ chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác làm cho lịch sử xã hội loài người không
ngừng đi lên. Đó là quy luật lịch sử.
Cho nên tìm hiểu động lực của sự phát triển xã hội phải tìm trong cuộc đấu tranh
giai cấp. Do vậy, vận dụng quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là
vấn đề quan trọng, cần thiết để hiểu đúng lịch sử, phát triển tư duy biện chứng cho HS
trong quá trình học tập.
+ Tìm mối liên hệ nhân quả, sự phù hợp lẫn nhau giữa các sự kiện lịch sử.
GV phải hướng dẫn cho HS nắm các SK có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một
hệ thống, nhận biết được quy luật phát triển của lịch sử.
VD: ở khóa trình Lịch sử thế giới cổ, Lịch sử lớp 6, GV phải hướng dẫn HS nhận
thức được mối liên hệ biện chứng giữa các SK, mối quan hệ giữa hoàn cảnh địa lý với
sinh hoạt, tổ chức xã hội, mối quan hệ giữa sự phát triển của lao động sản xuất với sự
thay đổi của chế độ xã hội, sự phát triển của công cụ lao động, sự phát triển của sản
xuất...là nguyên nhân xuất hiện chế độ bóc lột và giai cấp, từ đó diễn ra các cuộc đấu
tranh giai cấp...