TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
F 7 G
GIÁO TRÌNH
PHƯƠNG PHÁP DẠY-HỌC
LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG(Dùng cho SV ngành Sư phạm Sử)
CAO THẾ TRÌNH – HOÀNG THỊ NHƯ Ý 2002
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 2 -
MỤC LỤC
1. Vai trò của phương tiện trực quan trong quá trình dạy học 24
2. Phân loại các loại phương tiện trực quan 24
3. Hướng dẫn sử dụng: Mỗi loại có một cách sử dụng khác nhau: 25
4. Phương pháp khai thác sử dụng các loại tài liệu học tập 30
5. Phương pháp thực hành 32
Chương IV 33
I. Tạo biểu tượng lòch sử 34
II. Hình thành khái niệm 36
III. Nêu quy luật và bài học lòch sử 37
Chương V 38
I. Thấu suốt nguyên lý giáo dục trong dạy học lòch sử ở trường phổ thông 39
1. Nguyên lý giáo dục của Đảng 39
2. Nguyên lý giáo dục trong nội dung dạy học lòch sử ở trường phổ thông 39
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 3 -
II. Chức năng giáo dục của bộ môn lòch sử ở trường trung học phổ thông 42
1. Môn lòch sử với việc giáo dục thế hệ trẻ 42
2. Nội dung giáo dục tư tưởng tình cảm cách mạng qua môn Lòch sử ở trường
phổ thông
43
3. Những nguyên tắc và biện pháp giáo dục học sinh trong dạy học lòch sử 46
Chương VI 48
I. Bộ môn lòch sử với việc phát triển học sinh 48
II. Phát triển tư duy học sinh trong học tập lòch sử 48
1. Đặc điểm của tư duy lòch sử 48
2. Nội dung các vấn đề phát triển tư duy học sinh trong học tập lòch sử ở
III. Sưu tầm, nghiên cứu lòch sử đòa phương-một hình thức quan trọng của việc
dạy học lòch sử, của hoạt động ngoại khóa nói riêng
82
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 4 -
IV. Xây dựng phòng học lòch sử 87
1. Phòng lòch sử, vai trò của nó trong dạy học lòch sử ở trường phổ thông 87
2. Trang thiết bò trong phòng học lòch sử gồm ba loại chủ yếu 88
Chương IX 90
I. Ý nghóa của kiểm tra và đánh giá kết quả học tập 90
1. Ý nghóa 90
2. Nhiệm vụ 90
II. Nội dung kiểm tra, đánh giá kết qủa học tập lòch sử 91
1. Quan niệm 91
2. Nội dung 91
III. Tổ chức, hình thức và phương pháp kiểm tra kết qủa học tập lòch sử 92
1. Kiểm tra miệng 92
2. Kiểm tra viết 93
3. Yêu cầu đối với việc đặt các loại câu hỏi 94
Chương X 96
I. Nhận thức đúng về lòch sử và phương pháp học giỏi môn lòch sử 96
II. Các phương pháp học tốt lòch sử 98
III. Một số biện pháp được thực hiện để học bài tốt 99
Chương XI 100
I. Những yêu cầu chung 100
II. Nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên lòch sử 101
nhau chỉ ở chỗ một bên là gọi theo lối Hán Việt (1) và một bên là cách gọi “Việt”
hơn. Nói một cách khác, cách gọi (3) / (4) chỉ là việc dòch cách gọi (1) ra cho dễ
hiểu hơn. Các cách gọi (3) và (4) chỉ khác nhau ở một dấu gạch ngang nối (-) giữa
hai từ “dạy” và “học”, song chính dấu ngang nối đó nhằm nhấn mạnh hai mặt của
một quá trình thống nhất - hoạt động truyền thụ kiến thức của thầy giáo (dạy) và
hoạt động tiếp thu tri thức của học sinh (học). Tuy nhiên, nếu không quá chi ly, vẫn
cũng có thể xem cách cách diễn đạt (1), (3) và (4) như là một cách gọi. Và như
vậy, về bản chất là có hai hình thức thể hiện tên gọi môn học - phương pháp giảng
dạy và phương pháp dạy-học. Trong hai cách gọi này, cách gọi trước - hiển nhiên là
phiến diện, vì nó chỉ mới quan tâm tới hoạt động dạy của người thầy giáo, mà bỏ
qua hoạt động hoặc của người học. Do vậy, cách gọi sau (P
2
D-H) là toàn diện hơn,
phản ánh đúng đắn bản chất của môn học hơn.
3. Một vấn đề đặt ra nữa là, môn học này có thật là quan trọng và cần
thiết không? Có một thực tế không thể phủ nhận là trong số khoảng 2 triệu giáo
viên ở Việt Nam hiện nay, có một số lượng không nhỏ các thầy cô giáo không phải
xuất thân từ các trường sư phạm (riêng ở Lâm Đồng, con số này cũng đã là hàng
trăm); và thực tế cũng không thể nói rằng các thầy cô đó là dạy dở hay dở hơn các
thầy cô khác được đào tạo “nghiêm chỉnh” hơn. Cố nhiên trong số các thầy cô
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 6 -
không xuất thân từ các trường sư phạm vẫn có nhiều người dạy giỏi, thậm chí giỏi
hơn cả nhiều thầy cô học sư phạm ra
1
ngại không dám làm một điều gì táo bạo vì e phạm pháp? Có thể nói ngay, những
vấn đề đặt ra trong giáo trình này chỉ là những phương án, thậm chí là những gợi
ý còn thực tế sinh động của quá trình dạy học vẫn là những khoảng trời mênh
mông cho những sáng tạo của giáo viên, miễn sao là các sáng tạo đó không vi
phạm các nguyên tắc của quá trình nhận thức và khung nội dung chương trình quy
đònh. Không phải ngẫu nhiên mà nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói - nghề
dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong
những nghề sáng tạo, bởi nó sáng tạo ra những con người sáng tạo.
1
Trên một số của Tạp chí “Thời đại mới” cách đây mấy năm còn có một bài viết
nói về một thầy gáo rất có uy tín với sinh viên, giờ giảng của thầy bao giờ số
sinh viên cũng chật ních giảng đường Khi được hỏi bí quyết nào đã giúp thầy
có được thành công như vậy ? Vò giáo sư nọ đã không ngần ngại trả lời: Tôi có
may mắn hơn các anh các chò là “tôi chưa bao giờ phải học môn P
2
D-H(!)
2
Lời của Khổng Tử trong Luận ngữ.
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 7 -
4. Như vậy, trong ba phương diện của quá trình giáo dục - mục tiêu, nội
dung và phương pháp, giáo trình này chủ yếu đề cập tới phương diện thứ ba -
phương pháp dạy học hay nói một cách khác, nhiệm vụ của giáo trình này không Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 8 -
CHƯƠNG I
VỊ TRÍ CỦA BỘ MÔN LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Vò trí của các môn học trong chương trình giáo dục trước hết phụ thuộc vào
mục tiêu giáo dục hay nói cụ thể hơn là người ta muốn hình thành nên ở học sinh
những nhân cách gì. Hiển nhiên, đến lượt mình, điều này lại phụ thuộc vào điều
kiện lòch sử cụ thể của những giai đoạn phát triển của xã hội, vào tính chất của hệ
thống giáo dục. Nếu như mục tiêu giáo dục chỉ nhằm trang bò cho thế hệ chuẩn bò
bước vào đời những kỹ năng, phương tiện kiếm sống (“cần câu cơm”), thì chương
trình giáo dục thường phiến diện, người ta chỉ dồn vào những gì cần thiết cho điều
đó. Chẳng hạn, trước đây, do mục tiêu của việc học chỉ dừng lại ở chỗ chiếm lấy
bằng sắc, làm quan để vinh thân, phì gia, nhà trường phong kiến chỉ tập trung vào
trang bò cho họ những kiến thức và cách thức thi cử mà vứt ra bên ngoài chương
trình đào tạo những nguồn tri thức thiết thực với cuộc sống. Chính Nguyễn Trường
Tộ - một người có tư tưởng duy tân ở cuối thế kỷ trước đã lên án lối học từ chương,
cử tử không thiết thực này. Sang thời cận hiện đại, người ta đã vượt qua những hạn
chế nói trên của chế độ khoa cử trung cổ, đưa vào chương trình đào tạo những môn
học “cách trí” , song vẫn không tránh được tính thực dụng của hệ thống giáo dục
hết là do chức năng của khoa học lòch sử đối với việc hình thành nhân cách của lớp
người mới lớn. Không phải ngẫu nhiên mà trong lòch sử giáo dục của nhân loại -
nói chung, ở nước ta - nói riêng, bộ môn lòch sử bao giờ cũng chiếm giữ một vò trí
trân trọng trong chương trình đào tạo (dưới thời phong kiến, việc học còn được
đồng nhất với “dùi mài kinh sử”, “nấu sử, sôi kinh”; ở nhiều nước tư bản, khi thực
hiện giáo dục phân ban, thì cùng với văn, toán, lòch sử là môn học bắt buộc cho mọi
cấp học, ngành học ). Và cho tới hôm nay, khi nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI
- thế kỷ của tin học, của tự động hóa, của công nghệ sinh học lòch sử vẫn là một
bộ phận tri thức tất yếu trong hành trang trí tuệ của thế hệ trẻ để họ vững bước
tiến vào tương lai.
1. Chức năng của bộ môn lòch sử trong trường phổ thông
Về cơ bản, chức năng của bộ môn lòch sử trong trường phổ thông cũng
trùng hợp với chức năng chung khoa học lòch sử, tức là chức năng nhận thức (giải
thích thế giới) và chức năng cải tạo thế giới (góp phần hình thành nhân cách ở lớp
người trẻ tuổi). Cụ thể:
1.1. Trước hết, bộ môn lòch sử phải cung cấp cho học sinh một khối lượng
tri thức cơ sở, phổ thông, toàn diện, có hệ thống và những quan niệm đúng đắn về
quá trình lòch sử mà nhân loại đã trải qua nhằm vũ trang cho họ thế giới quan cách
mạng (chức năng nhận thức hay chức năng giáo dưỡng). Cụ thể, giáo viên lòch sử
phải khắc họa được vai trò của lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người và
xã hội loài người và sự phát triển của quá trình sản xuất vật chất là nhân tố quyết
đònh sự phát triển của xã hội loài người (cái cối xay bằng tay đưa lại chế độ PK
cái máy hơi nước đưa lại chế độ tư bản ), đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy
sự phát triển của mọi xã hội có giai cấp, quần chúng nhân dân lao động là người
quyết đònh sự phát triển của lòch sử, sự phát triển của lòch sử nhân loại là sự thay
thế của các hình thái kinh tế-xã hội, con đường đi lên của nhân loại là xu hướng
tất yếu song không phải theo đường thẳng đơn tuyến mà vòng vèo theo đường xoắn
sản cao cả
- Rèn luyện phương pháp tư duy khoa học thông qua việc phân tích, so
sánh, khái quát và đánh giá các sự kiện, hiện tượng và các quá trình lòch sử, rút ra
quy luật và bài học lòch sử từ các tri thức đó;
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hành: thái độ trân trọng, bảo vệ
những di sản văn hóa, các thành quả của các thế hệ cha ông, tự rút ra được bài học
kinh nghiệm từ trong quá khứ và để giải thích đúng đắn và tham gia tích cực vào
công cuộc xây dựng và cải tạo xã hội hôm nay.
3. Vò trí của khóa trình lòch sử dân tộc trong việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của bộ môn lòch sử ở trường phổ thông
Trong khóa trình lòch sử ở trường phổ thông hiện nay, phần lòch sử Việt
Nam chiếm tới già nửa chương trình. Một bố cục như vậy là hợp lý và cũng phù
hợp với thông lệ trên Thế giới - Mục tiêu hàng đầu của giáo dục bao giờ cũng phải
là đào tạo ra những công dân tốt phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước. Mở đầu tác phẩm Lòch sử nước ta (viết theo lối diễn ca vào năm 1941 tại Pắc
Pó - Cao Bằng), Bác Hồ cũng đã viết:
Dân ta phải biết sử ta
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 11 -
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Rõ ràng, công dân Việt Nam trước hết phải nắm vững lòch sử dân tộc mình.
Hơn một thế kỷ trước, nhà duy tân Nguyễn Trường Tộ cũng đã từng phê phán lối
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 12 -
CHƯƠNG II
CÁC NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO
QUÁ TRÌNH DẠY-HỌC LỊCH SỬ
Dạy học là một nghề trong hệ thống các nghề nghiệp khác nhau của xã
hội. Và tương tự như mọi nghề nghiệp khác, một khi đã là nghề, bao giờ nó cũng
phải có những quy tắc hành nghề. Đó chính là những chuẩn mực đòi hỏi người giáo
viên phải tuân thủ hàng đầu trong quá trình dạy học. Quy tắc hành nghề ở đây
chính là các nguyên tắc chỉ đạo quá trình dạy-học. Về cơ bản, các nguyên tắc dạy-
học lòch sử (NTD-HLS) của chúng ta hiện nay được xây dựng dựa trên cơ sở của
nhận thức luận mác-xít, các nguyên lý, phương châm giáo dục của Đảng và Nhà
nước ta, các quy luật tâm lí, giáo dục học, đặc điểm tâm lý của lứa tuổi mới lớn và
đặc thù của môn học. Cụ thể gồm có các nguyên tắc dưới đây:
I. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính Đảng Cộng sản.
Nguyên tắc này đòi hỏi người giáo viên trước hết phải trang bò cho học sinh
những tri thức thông tin chính xác, có cơ sở tư liệu tin cậy và giải thích các sự kiện,
hiện tượng, biến cố, quá trình lòch sử một cách khách quan, không được phép lý
giải một cách tùy tiện, chủ quan , kiên quyết không được xuyên tạc, bóp méo, tô
hồng hay bôi đen bức tranh của quá khứ. Để thực hiện nguyên tắc này, người giáo
hội”. Rõ ràng nguyên lý giáo dục trên đây phản ánh bản chất của một nền giáo dục
hiện đại, thiết thực, chống lại lối học nhồi sọ, học vẹt, chạy đua theo bằng cấp một
cách vô bổ, không cần thiết.
Tuy nhiên, vận dụng nguyên lý này vào quá trình dạy học lòch sử không
đơn giản, bởi đặc thù của bộ môn lòch sử là phần lớn nội dung của nó đều đề cập
tới những thời kỳ đã lùi sâu vào quá vãng hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí là hàng
vạn năm về trước. Để thực hiện được nó, đòi hỏi nhận thức của người thầy giáo
phải quán triệt mối liên hệ biện chứng giữa quá khứ - hiện tại và tương lai. Trong
mối liên hệ đó, hiện tại là sự tiếp tục của những quá trình đã diễn ra trong quá khứ
và là tiền đề đi tới tương lai. Nhận thức này phải được người thầy giáo dạy sử quán
triệt trong mỗi bài giảng, cho dù bài giảng đó đề cập tới những thời kỳ xa xăm xăm
nhất trong lòch sử nhân loại - thời kỳ xã hội hội nguyên thủy.
Chẳng hạn, trong phần giới thiệu về xã hội nguyên thủy, người thầy giáo
vẫn tìm thấy ở đó mối liên hệ với cuộc sống hôm nay: tính thuận tay của một số
loài vượn, quá trình phát triển của bào thai người, các quan niệm dân gian về lưỡi
tầm sét, vai trò của lao động trong việc sáng tạo và hoàn chỉnh loài người, tục dùng
lửa xông trong một số quan niệm “đốt via”, “đuổi ma, trừ tà” (trong đánh giá vai
trò của việc phát hiện ra lửa và sự thần thánh hóa vai trò của nó) Những điều đó
có tác dụng giúp các em hiểu bài hơn và tăng thêm lòng yêu lao động, thái độ trân
trọng với những người lao động, thái độ phê phán trước những biểu hiện phi khoa
học, mê tín, dò đoan
Mặt khác, người thầy giáo dạy sử hôm nay phải am tường đời sống kinh tế-
xã hội của đất nước và đòa phương trường đóng để kòp thời có sự liên hệ giữa nội
dung bài giảng với thực tế đòa phương, với những chủ trương chính sách hiện hành
của Đảng và Nhà nước, liên hệ với những diễn biến trong đời sống chính trò, kinh
tế,văn hóa, xã hội của các quốc gia khác trong khu vực và trên Thế giới.
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
chúng ta vẫn bắt gặp hậu duệ của những người anh hùng dân tộc, những nghóa sỹ
Cần Vương từ cuối thế kỷ trước, chúng ta vẫn tìm thấy những người đã tham gia
vào các phong trào Duy Tân, Kháng thuế ở đầu thế kỷ hay những người đã trực
tiếp tham gia vào 2 cuộc kháng chiến thánh thần của dân tộc chống bọn xâm lược
Pháp và đế quốc Mỹ Và để thực hiện nguyên tắc này, người thầy giáo dạy sử
còn phải là những “nhà đòa phương học”, am tường mọi vấn đề liên quan tới lòch sử,
văn hóa của vùng miền trường đóng; thông thạo tên gọi các đòa danh, tên đất, tên
sông, tên phố, tên phường, các thắng cảnh, nhân vật hay hay sản vật nổi tiếng của
đòa phương
III. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ hệ thống
Tính hệ thống của bộ môn lòch sử trước hết được thể hiện trong cấu tạo
chương trình, qua từng cấp học. Ở bậc tiểu học là những câu chuyện kể về những
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 15 -
danh nhân nổi tiếng, những sự kiện nổi bật để gây hứng thú cho các em nhỏ. Bắt
đầu từ bậc trung học, hệ thống bài giảng được cấu tạo theo nguyên tắc đồng tâm
(xoáy lại và nâng cao). Ở bậc THPT, chương trình lòch sử bắt đầu được giới thiệu
một cách có hệ thống kể cả lòch sử thế giới và lòch sử dân tộc từ thời kỳ nguyên
thủy cho tới hiện đại. Cả 2 phần này thường được tiến hành theo lối xen kẽ - học
kỳ I học sinh học lòch sử Thế giới, học kỳ II - lòch sử Việt Nam.
Tuy nhiên, trong quá trình học tập, cả thầy và trò đều tiến hành theo từng
bài và mỗi bài đều có tính độc lập tương đối, bởi vậy nó gây nên những gián đọan
nhất đònh trong việc nhận thức của học sinh, tạo nên một cảm giác lòch sử chỉ là
cũng là phần đông của lớp đó). Tinh thần cơ bản phải hiểu là năng lực của các em
tới đâu, thầy cô giáo phải đáp ứng tới đó
3
.
Để đảm bảo nguyên tắc vừa sức, yêu cầu thầy/cô giáo dạy sử phải:
1) Chọn lọc tri thức theo phương châm tinh giản- vững chắc, tránh khuynh hướng
quá tham sự kiện, ôm đồm, nhồi nhét, rờm rà, rối rắm Các cô/thầy giáo trẻ phải
hết sức “cảnh giác” với điều này, bởi nhiều khi vì lòng hăng hái, nhiệt tình, các
thầy cô sẽ làm cho các em bò “bội thực”, không tiêu hóa xuể. Mặt khác các khái
niệm, nguyên lý, quy luật đưa ra cũng phải chọn lọc, cách giải thích phải đơn
giản, dễ hiểu phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh. Tuyệt đối tránh khuynh
hướng khoa trương để tỏ ra ta đây là “thông kim, bác cổ”, uyên bác tầm cỡ bác
học
2) Phương thức trình bày phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ
thể đến khái quát, trừu tượng (phương pháp quy nạp), từ những điều đã biết “bắc
cầu” sang những điều đã biết
V. Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan
Đây là một nguyên tắc xuất phát từ quy luật của quá trình nhận thức là từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Quy luật này càng trở nên cần thiết đối
với lứa tuổi phổ thông. Tuy nhiên, lòch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ, trừ
một số người là nhân chứng của lòch sử hay trực tiếp tham gia trong một sự kiện
hay biến cố nào đó liệu học sinh có thể có thể tiếp cận với những gì đã xẩy ra
trong khoá khứ hay không?
Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi lời giảng của giáo viên phải sinh
động giàu hình ảnh, giáo viên phải sử dụng các đồ dùng trực quan (tranh ảnh,
tượng, bản đồ, đồ thò, sơ đồ ) trong quá trình dạy - học.Trong trường hợp có thể
thông tin đó phải đi đến việc hình thành khái niệm, phạm trù và rút ra được quy
luật, bài học lòch sử (nếu có).
Trong quá trình dạy-học, người giáo viên phải quán triệt nguyên tắc đặt
người học vào tình huống có vấn đề, đặt câu hỏi (phát vấn) để kích thích học sinh
phải động não suy nghó, tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra (dạy học nêu vấn đề),
tránh tình trạng bao biện, suy nghó thay người học. Trong một số trường hợp, giáo
viên có thể biến một phần giờ giảng thành một hình thức thảo luận bằng cách nêu
vấn đề và lấy những ý kiến nhận xét/đánh giá khác nhau của học sinh, tổng kết lại,
chỉ ra điểm đúng, điểm sai của từng lời phát biểu hay biến vấn đề dưới dạng “trắc
nghiệm”, lấy “biểu quyết” tán đồng /phản đối
Chẳng hạn, đánh giá về nguyên nhân nước ta bò mất nước ở nửa sau thế
kỷ XIX, có ý kiến cho đó là một “đònh mệnh”, vậy quan điểm của học sinh là thế
nào xung quanh vấn đề này? Các học sinh khác nhau hẳn sẽ có những luồng ý kiến
trái ngược nhau. Giáo viên sau khi chất vấn lý do của từng quan điểm sẽ thử lấy
“biểu quyết” thông qua giơ tay và đưa ra “phán quyết của mình
Tương tự khi bàn về mối quan hệ giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách
quan trong thành công của cách mạng tháng Tám 1945, giáo viên có thể nêu câu
hỏi: trong hai nhân tố trên, nhân tố nào giữ vai trò quan trọng. Đại đa số học sinh
sẽ cho rằng đó là nhân tố chủ quan. Song, vấn đề không chỉ ở chỗ nó là nhân tố
quan trọng, mà là nhân tố giữ vai trò quyết đònh.
Những giờ giảng khai thác được nhiều tình huống như vậy hẳn sẽ làm
cho nội dung bài giảng sâu sắc hơn, giúp học sinh nắm vấn đề một cách chắc chắn
hơn, để lại ấn tượng mạnh mẽ hơn trong tâm trí của họ.
II. Phương pháp trình bày miệng (phương pháp sử dụng ngôn từ)
1. Vò trí (tầm quan trọng) của phương pháp trình bày miệng:
Trong hệ thống các phương pháp dạy học, phương pháp trình bày miệng (hay
phương pháp sử dụng ngôn từ/ diễn giảng) chiếm giữ vò trí chủ đạo nhất, bởi lời nói
sinh động chẳng những là nguồn kiến thức vô tận mà còn là có tác động mạnh mẽ
tới tư tưởng, tình cảm của người học. Nói một cách khác, nó có một vai trò rất lớn
trong việc thực hiện chức năng giáo dục. Người ta có thể dạy “chay”, song không
thể diễn kòch câm trong một tiết học mà có thể đạt được kết quả mong muốn được.
Trong tương lai, nhiều công đoạn của quá trình dạy học có thể được thay thế bởi
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 19 -
những thiết bò, máy móc hiện đại, song không một phương tiện hiện đại nào có thể
thay thế được lời giảng của người thầy giáo.
2. Ở đây, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh vai trò của lời nói sinh động
và phương pháp sử dụng ngôn từ trong quá trình dạy -học.
Lời nói có vai trò quan trọng đặc biệt quan trọng bởi nó có thể thực hiện
các chức năng kể chuyện, miêu tả Lời nói có thể thay thế mọi đồ dùng trực quan,
nhưng không một đồ dùng trực quan nào có thể thay thế lời nói. Lời nói còn thực
hiện chức năng lô gích, gợi ý cho học sinh tìm tòi, suy nghó, phát hiện vấn đề, góp
phần phát triển tư duy. Lời nói có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giáo dục tình
cảm (yêu/ghét, căm giận, thán phục, tự hào ) ở học sinh. Lời nói tâm huyết, nhiệt
thành sẽ tác động mạnh mẽ tới tư tưởng, tình cảm của người nghe; ngược lại, lời
động mạnh mẽ tới tư tưởng tình cảm của người nghe, không tạo được ấn tượng sâu
sắc để người học xúc động, nhớ lâu, nhớ kỹ (so sánh giữa việc thông báo Tự Đức
chết - 19.7.1883, và đồng chí Lê Duẩn từ trần - 1986. Chẳng lẽ sự ra đi của một nhà
cách mạng lớn của dân tộc cũng được thể hiện bằng một sắc thái tình cảm tương tự
như cái chết của một tên bán nước?). Cố nhiên, không thể có một tiết học mà từ
đầu chí cuối giáo viên chỉ sử dụng một hình thức duy nhất là thông báo.
b) Tường thuật:
Khác với thông báo, tường thuật là phương pháp cung cấp thông tin một
cách đầy đủ với những nội dung phong phú, những tình tiết cụ thể, gây hấp dẫn đối
với người nghe, người học. Chẳng hạn, tường thuật về vụ Nhật đảo chính Pháp đêm
9/3/1945, về Tổng khởi nghóa giành chính quyền ở Hà Nội (19/8/1945), về vụ án
Tống Văn Sơ, về lễ thoái vò của Bảo Đại ở Huế 30/8/1945, vụ ám sát Toàn quyền
Méc-lanh tại Quảng Châu - Trung Quốc - 19/6/1924 Sau đây là một thí dụ:
Trong những ngày tháng Tám 1945, đối lập với không khí cách mạng sục
sôi của nhân dân mọi miền đất nước, hoàng cung Huế phấp phỏm bao nỗi lo toan
và cố nhiên, kể cả con người vô lo nhất thế gian ở đó - Hoàng đế Bảo Đại, cũng
không giấu được sự bồn chồn, khắc khoải. Số phận của ông cùng những người trong
hoàng tộc sẽ bò cách mạng đối xử như thế nào? Liệu ông có bò đưa lên đoạn đầu
đài như Hoàng đế Lu-i XVI trong Đại cách mạng tư sản Pháp hồi 1789, hay vua
Sác Lơ I trong cách mạng tư sản Anh, gia đình Nhi cô lai Đệ Nhò trong cách mạng
tháng Mưới Nga 1917 Ông đã tự an ủi bằng lời sấm ngữ của Trạng Trình với
chúa Nguyễn Hoàng từ thế kỷ XVI- Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân, nhưng
có người lại chiết tự chữ “vạn” có 13 nét, tương ứng với 13 triều vua, mà ông chính
là người thứ XIII
Nhưng rồi cái gì đến sẽ phải đến. Ông đã tiếp nhận điện văn của Chính
phủ Lâm thời yêu cầu thoái vò và sẽ đảm bảo an toàn về tính mạng. Tiếp đó, đại
thuật tốt, giáo viên phải dành khá nhiều thời gian vào khâu chuẩn bò. Trước hết là
thu thập các nguồn tài liệu có liên quan tới sự kiện/biến cố mà giáo viên đònh
tường thuật. Tiếp đó là khâu xử lý được các trường hợp mâu thuẫn trong các nguồn
tư liệu (nếu có), gặp gỡ những người tham gia hoặc nhân chứng để làm sáng tỏ
thêm những điều nghi vấn (nếu có điều kiện) Sau cùng là soạn một bài tường
thuật theo một cấu trúc:
1. Mở đầu,
2. Tình tiết phát triển
3. Tình tiết phát triển cao (thắt nút),
4. Sự căng thẳng của tình tiết giảm xuống (mở nút).
5. Kết thúc.
Ngôn ngữ sử dụng trong tường thuật cần súc tích, chắt lọc chu đáo, tránh
tham lam, rờm rà, dài dòng văn tự để “cây che mất rừng”. Tuyệt đối không được
kể lể “con cà con kê” và nhất là không được xen vào những câu nói bậy hay chửi
đổng cho sướng miệng. Để tái hiện lại không khí lòch sử, cần khai thác được ngôn
ngữ của người đương thời, tránh việc dùng từ ngữ hôm nay gắn vào miệng người
xưa (đại loại cần tránh lối diễn đạt về một “hội nghò quân sự đặc biệt” nào đó do
Thi Sách chủ trì. Sau khi phân tích thế đòch, thế ta, Thi Sách đã đi đến kết luận
chắc nòch: “Phải nhất tề vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghóa giành chính quyền về
tay nhân dân trong cả nước!”. Nghe cách trình bày trên đây, học sinh sẽ có cảm
giác như đồng chí Lê Duẩn đang chủ trì hội nghò Bộ Chính trò cuối năm 1974 - đầu
năm 1975).
c) Miêu tả:
Khác với tường thuật, miêu tả không cần cốt truyện mà tập trung vào việc
chỉ ra những đặc trưng của một đối tượng cụ thể (sự vật, nhân vật, trang phục, công
cụ sản xuất, vũ khí, công trình kiến trúc, cảnh quan nơi diễn ra một trận đánh, quê
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 22 -
pháp thông báo. Chẳng hạn, Chi e là con quỷ lùn khát máu, Quá trình thống nhất
Đức là sự liên minh giữa một con mãnh thú (Phổ) với 6 con cáo, 20 con thỏ và chuột
nhắt, đặc trưng của giai cấp tư sản Việt Nam là “sinh sau, đẻ muộn, yếu ớt về kinh
tế, cho nên bạc nhược về chính trò”, thành quả nổi bật của cách mạng tháng Tám
1945 là “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vò”, đặc trưng nổi bật của đế
quốc Pháp là “cho vay nặng lãi”, đặc trưng của đế quốc Anh là “mặt trời không
bao giờ lặn”
e) Giải thích:
Là làm sáng tỏ nội hàm của các khái niệm, thuật ngữ, phạm trù lòch sử,
thông qua đó góp phần giúp cho học sinh hiểu sâu sắc nội dung bài giảng. Chẳng
hạn các khái niệm “đồ đá cũ”, “đồ đá mới” hay “cách mạng đá mới” ở thời
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử
Phương pháp dạy-học lòch sử ở trường phổ thông - 23 -
nguyên thủy; các thuật ngữ “car-ten”, “xanh-đi-ca”, “tờ-rớt”, “chủ nghóa đế quốc”,
chính thể “quân chủ lập hiến” hay “dân chủ đại nghò” trong thời cận đại; môn học
“cách trí” trong chương trình học tập của trường Đông Kinh nghóa thục (1907); các
phạm trù “tự phát”, “tự giác”, “vô sản hóa” trong phong trào công nhân Giải
thích cũng làm sáng rõ những nội dung chưa rõ nghóa trong các nguồn tài liệu.
Chẳng hạn, tôn chỉ của Duy Tân Hội là “cốt sao đánh đuổi được giặc Pháp, khôi
phục Việt Nam, ngoài ra chưa có chủ nghóa gì khác”. Chữ “chủ nghóa” trong trường
hợp này của cụ Phan Bội Châu dùng có nghóa là chính thể của nước Việt Nam
trong tương lai sau khi giành được chính quyền.
Để giải thích tốt cho học sinh, đòi hỏi người giáo viên chẳng những dày
công tìm tòi tư liệu, nghiên cứu thấu đáo vấn đề mà phải sắm những loại sách
III. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
1. Vai trò của phương tiện trực quan trong quá trình dạy học
Đặc trưng của quá trình nhận thức tri thức lòch sử là học sinh không thể trực
tiếp tri giác với những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ. Do vậy, hiện vật, phương
tiện trực quan lòch sử đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành
biểu tượng lòch sử chính xác cho học sinh, nó hạn chế được tình trạng “hiện đại
hóa” lòch sử do các em đang sống trong một thời đại hoàn toàn khác với nhiều sự
kiện đề cập tới trong chương trình lòch sử.
Đồ dùng trực quan góp phần nâng cao nhận thức tri thức lòch sử. Cố nhiên,
đồ dùng trực quan chưa phải là toàn bộ quá khứ, mà chỉ là những “mảnh”, “mẩu”
đã vỡ ra từ một nguyên thể, song từ đó cũng có thể giúp học sinh hình dung ra phần
nào xã hội thời xưa. Từ những hình ảnh bên ngoài, sẽ là chiếc cầu nối dẫn dắt họ
tới những khám phá bản chất bên trong của sự vật và hiện tượng, bởi trong nhận
thức không có ranh giới tuyệt đối giữa hiện tượng và bản chất, mà bản chất cũng
biểu hiện thông qua hiện tượng.
Đồ dùng trực quan giúp cho học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những tri thức lòch
sử. Hình ảnh mà học sinh lưu giữ trong trí não khi xem xét những hiện vật trực quan
sẽ khó mờ phai trong tâm trí của họ, nhất là những hình ảnh tác động mạnh mẽ tới
tư tưởng tình cảm của họ.
Đồ dùng trực quan giúp cho học sinh tăng cường khả năng quan sát, trí
tưởng tượng và óc tư duy sáng tạo.
Đồ dùng trực quan giúp học sinh hình thành cảm xúc thẩm mỹ và hứng thú
nghệ thuật. Nhiều đồ dùng trực quan là những tác phẩm nghệ thuật tạo hình (tranh,
ảnh, tượng, công trình kiến trúc ), những thành tựu rực rỡ trong nền văn hóa của
cha ông và nhân loại, nên có tác dụng không nhỏ tới rung cảm thẩm mỹ và có thể
làm nảy nở tình yêu nghệ thuật trong các em.
- Nhóm hiện vật tạo hình gồm mô hình, sa bàn và các loại hiện vật phục
chế, tranh ảnh do người đương thời vẽ, tranh ảnh lòch sử, các tác phẩm nghệ thuật
lấy chủ đề từ lòch sử, các loại phim truyện, phim tài liệu, phim giáo khoa
- Nhóm thứ 3 là các đồ dùng trực quan quy ước bao gồm bản đồ, sơ đồ, đồ
thò, biểu đồ , bảng thống kê, bảng niên biểu, bảng so sánh, hình vẽ trên bảng đen
Những hiện vật này không đem lại cho học sinh hình ảnh cụ thể về quá khứ nhưng
có tác dụng to lớn trong việc hình thành khái niệm, bởi nó đi sâu vào những nét
bản chất bên trong của sự vật, vạch rõ mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng,
“công thức hóa” để giúo dẫn tới tìm ra quy luật.
3. Hướng dẫn sử dụng: Mỗi loại có một cách sử dụng khác nhau:
a) Đối với các loại đồ dùng trực quan thuộc nhóm quy ước như bản đồ,
biểu đồ :
Đây là loại đồ dùng trực quan đang được sử dụng rộng rãi trong các trường phổ
thông hiện nay, bởi tính tiện lợi của nó (không đòi cho phí lớn, gọn nhẹ, dễ sử
dụng ), nhất là đòa đồ lòch sử. Để sử dụng tốt đòa đồ lòch sử, giáo viên cần phải
nghiên cứu kỹ bản đồ trước khi tới lớp, nắm chắc các loại ký hiệu được sử dụng
trong bản đồ và nhiều thông tin liên quan tới không gian mà đòa đồ thể hiện. Tại
lớp, giáo viên treo bản đồ ở nơi sáng sủa (thường ở góc bảng bên phải), sao cho
mọi học sinh có thể nhìn thấy rõ. Giáo viên sử dụng gậy hoặc đèn laze để hướng
dẫn học sinh theo dõi. Nếu dùng gậy, giáo viên phải đứng về một bên bản đồ,
tránh úp mặt vào bản đồ, che khuất những điểm cần thiết. Trước khi trình bày chi
tiết, giáo viên có thể giới thiệu khái quát về vùng đất trong bản đồ, các ký hiệu sử
dụng trên bản đồ và các phụ lục - những bản đồ nhỏ hơn ở góc (nếu có)
Cao Thế Trình – Hoàng Thò Như Ý Khoa Lòch sử