Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
1
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
LỜI CÁM ƠN
Xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh,
Phòng Trung học – GDTX Sở GD&ĐT Bình Dương, Ban giám hiệu, Ban
chấp hành Công đoàn Trường THPT Dĩ An, Tổ Sử - Địa - Giáo dục công
dân, Khối văn phòng, đặc biệt là bộ phận phụ trách các phòng chức năng
đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn và đóng góp những ý kiến chủ đạo cho nội
dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm nầy.
Những nội dung đã học tập và kinh nghiệm tích lũy được từ đề tài
“Ứng dụng CNTT&TT kết hợp SBT để đổi mới PPDH LS ở trường THPT”
nầy sẽ là hành trang vô cùng quý báu cho quá trình đổi mới phương pháp
dạy học lịch sử của bản thân chúng tôi trong thời gian sắp tới.
Dĩ An, ngày 25 tháng 5 năm 2008
Người thực hiện,
2
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
“ỨNG DỤNG CNTT&TT KẾT HỢP SÁCH BÀI
TẬP
ĐỂ ĐỔI MỚI PPDH LS Ở TRƯỜNG THPT”
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài 10
2. Từ dư luận của báo chí về việc DHLS ở trường THPT 10
3. Từ việc Bộ GD – ĐT triển khai một số hoạt động về CNTT&TT 19
4. Từ chỉ đạo của các Sở GD – ĐT triển khai ứng dụng CNTT&TT 24
5. Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu 30
6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 32
3
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
DHLS
4.2. Bồi dưỡng trình độ tin học cơ bản, phát triển kĩ năng thiết kế và sử
dụng GAĐT cho GV
4.3. Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng GAĐT
4.4. Tăng cường đầu tư CSVC và TBDH hiện đại, xây dựng phòng học
đa phương tiện
4.5. Sự chuẩn bị của Bộ GD – ĐT về ứng dụng CNTT trong sử dụng
TBDH để thay SGK lớp 12
5. Sử dụng SGK và SBT LS để đổi mới PPDH LS ở trường THPT 58
6. Vận dụng lí thuyết thông tin để tổ chức HS làm việc với SGK và
SBT LS trong việc đổi mới PPDHLS ở THPT 63
6.1. Quan điểm lí thuyết thông tin về học tập
6.2. Định hướng vận dụng lí thuyết thông tin để tổ chức HS làm việc với
SGK và SBT LS trong việc đổi mới PPDH LS ở THPT
6.3. Kinh nghiệm sử dụng SBT trong DHLS ở trường THPT
6.3.1. GV phải nhận thức được vai trò, chức năng của việc sử dụng SBT
trong quá trình DH hiện đại
6.3.2. BT được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình DHLS
6.3.3. Một số lưu ý và kĩ thuật sử dụng SBT trong DHLS để đạt được hiệu
quả cao
6.4. Kết luận về tổ chức HS làm việc với SBT trong DHLS để đạt được
hiệu quả cao
7. Đổi mới việc chỉ đạo hoạt động tự học ở nhà của HS kết hợp với
SBT LS 70
7.1. Những căn cứ cơ bản chỉ đạo việc đổi mới tự học SBT LS ở nhà của
HS
7.2. Nội dung đổi mới tự học SBT LS ở nhà của HS
5
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
7.2.1. Một số yêu cầu của việc đổi mới công tác chỉ đạo hoạt động tự học
bằng cách củng cố ôn tập thường xuyên, kiểm tra kiến thức nền
11.Một số kĩ thuật kiểm tra đánh giá vận dụng trong đổi mới PPDH LS
ở trường THPT 93
11.1. Kiểm tra kiến thức nền
11.2. Bài tập một phút
11.3. Tóm tắt một câu
11.4. Điểm nhấn
11.5. Xác định ma trận đặc trưng
Phần III. Kết quả và kinh nghiệm rút ra được từ SKKN
1. Kết quả đạt được 101
2. Ứng dụng CNTT&TT với đổi mới PPDH LS ở THPT 102
2.1. Lợi ích và một vài điều bất lợi của việc ứng dụng CNTT&TT trong
đổi mới PPDH LS ở THPT hiện nay
2.1.1. Lợi ích
2.1.2. Khó khăn
2.2. Thực trạng ứng dụng CNTT&TT trong công tác DHLS ở THPT hiện
nay
2.3. Một số đề xuất đưa CNTT&TT giải quyết vấn đề đổi mới PPDH LS
2.3.1. Nguyên tắc chung
2.3.2. Một số giải pháp ứng dụng CNTT&TT trong đổi mới PPDH LS hiện
nay
3. Bài học kinh nghiệm rút ra được từ SKKN 107
3.1. Xây dựng CSVC, TBDH hiện đại
3.2. Đào tạo, bồi dưỡng GV về CNTT&TT
3.3. Triển khai thực hiện
3.4. Một số yêu cầu về PP luận và lí luận DH khi ứng dụng CNTT&TT
vào đổi mới PPDH LS ở THPT hiện nay
7
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Phần IV. Khả năng ứng dụng và triển khai SKKN
6.4. BTLS là phương tiện quan trọng trong DH giúp HS nắm vững kiến
thức
6.5. Thường xuyên củng cố ôn tập là biện pháp rất tốt giúp HS nắm vững
kiến thức
6.6. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết hợp với tự kiểm tra, đánh giá
của HS
Phần VI. Sự chuẩn bị cho “năm học CNTT 2008 – 2009”
1. Trước thềm “năm học CNTT 2008 – 2009” 143
2. Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 HS được rút bớt thời lượng học tập
quá tải 144
3. Mười một giải pháp trước mắt của ngành GD 145
4. Xây dựng một chương trình phổ thông mới sau năm 2010 147
5. Từ năm học 2008 – 2009 triển khai mô hình “trường học thân thiện
trên toàn quốc” 148
6. Bốn giải pháp cần làm ngay 149
7. Hoàn thiện phương án tuyển sinh đại học 150
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
9
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong năm học 2006-2007 tôi đã áp dụng đề tài “Đổi mới phương pháp
dạy học lịch sử ở Trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử” và
bước đầu đã đạt kết quả một số kinh nghiệm để làm hành trang trong quá trình
tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) bộ môn lịch sử (LS) của mình
cố gắng trong năm học 2007-2008 được hiệu quả cao hơn năm học trước.
Với suy nghĩ phải tìm những biện pháp tối ưu nhất trong quá trình đổi
mới PPDH bộ môn LS ở Trường THPT nên tôi đã luôn luôn cố gắng học hỏi
không ngừng về nội dung và PP giảng dạy với mục đích mong muốn làm cho
(KT – ĐG) kết quả DH, đề KT đều theo kiểu như: anh (chị) hãy nêu nguyên
nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của ; anh (chị) hãy cho biết các nội dung của
hiệp định Cũng không sai nếu nói rằng HS lớp 2 học thuộc lòng cũng có thể
trả lời được hết những câu hỏi kiểu đó. Tư duy ấy làm HS thụ động với môn
sử, cứ học vẹt từng câu, từng chữ đến khi KT và chép đầy đủ ý vẫn qua.
Nhiều năm học môn sử ở trường phổ thông, tôi chưa từng gặp câu hỏi
kiểu như: Tại sao chúng ta ký hiệp định Vì sao sau Cách mạng tháng 8-1945
nước ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Những câu hỏi “mở”
mang tính tư duy, suy nghĩ để chọn ý cho phù hợp thì khá hiếm hoi. Thêm vào
đó, lịch sử của cả một thời kỳ với đầy những biến động cùng hàng trăm sự
kiện lớn nhỏ, chi chít những ý nghĩa, nguyên nhân được viết trong một cuốn
sách khá dày nhưng thời lượng học quá ít. Trong khi đó, HS còn nhiều môn
học khác cần phải quan tâm nên thời gian dành cho môn LS cũng bị cắt xén,
bỏ bê. Đồng thời, người dạy còn thiếu phương pháp truyền đạt trực quan như
11
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
sử dụng giáo trình điện tử, cung cấp nhiều hình ảnh hoặc cho học sinh tự diễn
những sự kiện LS. Do vậy, môn sử vốn “phức tạp” bởi ngày, tháng, năm, sự
kiện, con số càng gây chán cho người học khi vào tiết sử người học chỉ biết
“dự thính 100%”. Nếu tất cả mọi nơi đều dạy sử theo cách đưa những banner,
học sử qua phim ảnh thì chắc sẽ thu hút người học hơn. Một khi đã thu hút
người học, làm cho người học thích thú môn sử thì chắc chắn việc học môn sử
sẽ tốt hơn”.
Lê Quang Huy (GV): “Tại sao HS đạt điểm thấp môn LS?” Ngoài
nguyên nhân do một bộ phận không nhỏ HS vì yếu các môn khác nên phải
chọn khối thi này, có lẽ ai cũng nhận ra việc các em học nhưng không nhập
tâm được bài học.
Quan niệm hiện nay của không ít phụ huynh, học sinh, thậm chí cả GV,
là học môn LS không có tương lai. Trong khi đó, người thầy chẳng dám “đi
xa” hơn những gì có trong sách, không thể phân tích cặn kẽ vì sợ “cháy” giáo
Hát lớn chơi nhưng chẳng mấy ai biết được nơi đây đã diễn ra những sự kiện
LS gì trong Cách mạng tháng Tám.
Học trong sách vở thì các sự kiện, con số khô cứng. Nhiều trường THPT
hiện nay thường tổ chức cho các HS đi tham quan bảo tàng với hy vọng việc
học sử sẽ hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, có một thực tế là các buổi đi tham quan bảo
tàng của các các bạn trẻ hiện nay không hiệu quả. Theo cô Trần Thị Nhung -
Phó hiệu trưởng Trường THPT Maria Curie mỗi lần nhà trường tổ chức cho
các HS đi tham quan bảo tàng với hàng trăm HS, khi đến bảo tàng chỉ có một
vài nhân viên bảo tàng thuyết minh giới thiệu trong vòng một tiếng, hai tiếng
thì các HS không thể hiểu và nhớ nổi những gì họ nói. Mặt khác, các bảo tàng
hiện nay trưng bày hiện vật không hấp dẫn và ít có sự thay đổi.
Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện có hơn 15.000 hiện vật về Cách
mạng tháng Tám và mồng 2/9/1945. Tuy nhiên, việc trưng bày lại khá hạn chế
chỉ có khoảng 10%. Đã 14 năm công tác ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam chị
Nguyễn Tường Khanh cho biết : mặc dù có sự thay đổi về cách trưng bày
13
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
nhưng đó chỉ là những thay đổi không đáng kể và đặc biệt là những thông tin
đi kèm theo các hiện vật hầu như là không có.
Kỳ thi năm nào cũng vậy, kết quả thi môn LS luôn khiến nhiều người
trăn trở nhất : thống kê cho thấy có đến 90% bài thi môn này dưới điểm trung
bình. Làm thế nào không còn hàng ngàn bài thi sử dưới điểm trung bình vào
mùa thi đại học (ĐH) cũng như tại các cuộc thi khác? Ngành GD phải đổi mới
ra sao để môn Sử trở nên hấp dẫn, sinh động hơn?
Vậy phải làm gì để khắc phục tình trạng này ? Trước vấn đề mang tính
xã hội nhiều nhà giáo và bạn đọc đã góp ý kiến tâm huyết. Muốn HS yêu Sử,
hãy bắt đầu từ những điều gần gũi. Theo ông Phạm Văn Hà (Sở GD - ĐT Hà
Nội):
Thứ nhất, nên biến quan điểm, sự kiện, vấn đề thành những câu chuyện
LS, trong đó đặc biệt chú ý đến việc liên hệ tới những nét riêng của LS địa
dung cơ bản của nó đã khẳng định chủ quyền dân tộc, cảnh cáo tất cả bọn
ngoại xâm dám đến xâm phạm chủ quyền của dân tộc ta , nhân dân ta.
Cùng với 3 bản Tuyên ngôn Độc lập là danh sách tóm tắt về tiểu sử của
tám mươi mốt nhân vật LS xếp theo thứ tự năm hy sinh hoặc năm mất, được
tính từ 2/9/1945 trở đi. Đó là những chiến sĩ cộng sản, nhân sĩ, chí sĩ, học giả
nhà văn hóa, nhà tu hành, bác sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ…Tất cả họ đều đặt lợi ích dân
tộc lên trên hết, sẵn sàng hy sinh tính mạng khi Tổ quốc lâm nguy.
Theo Giáo sư Huỳnh Lúa: Danh sách những anh hùng được giới thiệu
lần này đã thể hiện được tinh thần của bản Tuyên ngôn Độc lập mà Bác Hồ
viết: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính
mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy.”
Có thể nói đây là lần thứ ba TP.HCM triển khai chương trình “Dân ta
biết sử ta”. Đó cũng là cách thiết thực kỷ niệm ngày khai sinh đất nước. Thông
tin về tiểu sử các anh hùng dân tộc và đặc biệt là những áng văn, những câu thơ
bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập được tuyên truyền trên đường phố hôm
nay đã góp phần nhắc nhở người dân Việt Nam về LS dân tộc, góp phần bồi
15
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ người Việt Nam,
cùng nhau xây dựng đất nước “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” trong
thời kỳ hội nhập.
Giảng viên TƯỞNG PHI NGỌ, Khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm TPHCM:
Đề thi cần đòi hỏi thí sinh độc lập suy nghĩ
Giữa dạy học và ra đề thi có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó
yêu cầu của đề thi mang tính định hướng đối với việc dạy và học của thầy và
trò. Dạy học không hoàn toàn hướng tới mục đích thi nhưng trên thực tế, tỷ lệ
HS đậu bao nhiêu phần trăm luôn được coi là thước đo đánh giá việc dạy và
học. Do vậy, đề ra kiểu nào thì dạy và học kiểu đó. Nhiều năm nay, đề thi Sử
gồm vài ba câu không quá khó, chỉ cần thí sinh (TS) chăm chỉ, thuộc bài là có
nhiều khả năng đậu. Sự hơn nhau giữa các TS về căn bản không phải ở khả
HS trong quá trình dạy học. Trừ những HS có khả năng tương ứng với nội
dung và PPDH của GV trên lớp, số HS còn lại đang bị ép buộc phải tiếp nhận
những kiến thức hoặc quá cao, hoặc quá thấp so với khả năng của mình, làm
mất đi hứng thú, động lực học tập của một bộ phận khá lớn HS. Thực tế đó đòi
hỏi chúng ta phải làm sao để trong tất cả các môn học nói chung và môn LS
nói riêng, HS sẽ được học ở những lớp học có nội dung và PP phù hợp với khả
năng của mình? Chúng tôi cho rằng, để HS khá giỏi có điều kiện phát triển
năng khiếu của mình và các đối tượng HS khác có thể tiếp thu được những nội
dung bài học với PP thích hợp với khả năng của mình, các trường THPT nên tổ
chức lớp học theo từng môn học với nội dung, chương trình với PPDH được
phân thành nhiều mức độ từ cao đến thấp, tương ứng với khả năng của từng đối
tượng HS từ giỏi đến yếu kém.
(Tuổi Trẻ 29/7/2007) - Khi còn là HS, lúc “lều chõng” đi thi khối C,
tôi lo nhất là làm sao làm tốt môn LS. Chúng tôi được dạy rằng : học LS là
học thuộc lòng. Nếu xét ở khía cạnh để nắm các cứ liệu thì điều đó đúng,
nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng thì sẽ rất dễ quên khi không nhắc
đến nó thường xuyên. Khi kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học, đề kiểm tra
đều theo kiểu như: anh (chị) hãy nêu nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa
17
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
của ; anh (chị) hãy cho biết các nội dung của hiệp định Cũng không sai nếu
nói rằng học sinh lớp 2 học thuộc lòng cũng có thể trả lời được hết những câu
hỏi kiểu đó. Tư duy ấy làm học sinh thụ động với môn sử, cứ học vẹt từng câu,
từng chữ đến khi kiểm tra và chép đầy đủ ý vẫn qua.
Nhiều năm học môn sử ở trường phổ thông, tôi chưa từng gặp câu hỏi
kiểu như: Tại sao chúng ta ký hiệp định Vì sao sau Cách mạng tháng 8-1945
nước ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Những câu hỏi “mở” mang
tính tư duy, suy nghĩ để chọn ý cho phù hợp thì khá hiếm hoi. Thêm vào đó,
LS của cả một thời kỳ với đầy những biến động cùng hàng trăm sự kiện lớn
nhỏ, chi chít những ý nghĩa, nguyên nhân được viết trong một cuốn sách khá
(Hà Nội Mới 16/8/2007) - Kỳ thi năm nào cũng vậy, kết quả thi môn
Lịch sử luôn khiến nhiều người trăn trở nhất : thống kê cho thấy có đến
90% bài thi môn này dưới điểm trung bình. Rất nhiều lý do đã được đưa ra,
như nội dung chương trình, kiến thức trong SGK còn nặng về lý thuyết. Bởi
thế, GV cũng chỉ cố gắng truyền đạt đủ kiến thức quy định, không còn thời
gian để cùng học trò khám phá những cái hay của môn học. Thứ hai là do PP
đào tạo GVLS ở các trường sư phạm hiện nay quá cứng nhắc với những sự
kiện, con số mà ít chú ý đến việc liên hệ thực tiễn Và rất nhiều lý do khác.
3. Từ việc Bộ GD –ĐT triển khai một số hoạt động về CNTT&TT
Ngày 07/9/2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã có Công văn số
9584/BGDĐT-CNTT gửi các Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học, cao
đẳng sư phạm, các khoa sư phạm hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học
2007-2008 về CNTT.
19
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Để đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ về CNTT đã đề ra
tại Công văn 9584 nêu ở trên, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là chuẩn bị cho
năm học 2008-2009 là “Năm học Công nghệ thông tin”, cũng như triển khai
Chỉ thị 27/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ kí ngày 29/11/2007 về Chấn
chỉnh việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo trong hoạt động của các cơ
quan hành chính nhà nước, Bộ GD&ĐT hướng dẫn và yêu cầu các Sở
GD&ĐT triển khai thực hiện ngay một số hoạt động sau :
1. Tổ chức triển khai việc cung cấp e mail với tên miền @moet.edu.vn cho
tất cả các trường phổ thông, các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm
ngoại ngữ tin học, các trường trung cấp chuyên nghiệp Bộ GD&ĐT hoan
nghênh các Sở, các trường ĐH, CĐ đã tích cực tham gia để hệ thống hoạt động
thường xuyên, hiệu quả phục vụ trực tiếp cho công tác thông tin, liên lạc, báo
cáo, chỉ đạo, điều hành của Bộ, của ngành.
Bộ cũng đề nghị các Sở tiếp tục gửi danh sách để lập địa chỉ e mail với
tên miền @moet.edu.vn cho tất cả các trường tiểu học, THCS, THPT về
Khai thác và sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong các đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước là một chủ trương lớn của Nhà nước. Vì vậy Bộ cũng nghị
các đơn vị, cơ sở giáo dục cần triển khai ngay các phần mềm mã nguồn mở
trong công tác dạy học chính thức trong trường phổ thông và trong công tác
quản lý :
a) Bộ phần mềm văn phòng Open Office www.OpenOffice.Org., do hãng
SUN phát triển, có thể tải về miễn phí tại địa chỉ trên.
Trong đó có các modun Soạn thảo văn bản (Writer), Bảng tính điện tử
(Spreasheet), Đồ họa (Draw), Trình chiếu (Presentation) và Cơ sở dữ liệu
(Base). Các modun này hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu sử dụng trong công tác
quản lý và giảng dạy, tương đương với Microsoft Office.
Các đơn vị có thể dùng bản Star Office, (là phiên bản thương mại của
Open Office), http://www.google.com/intl/en/options/ có thể tải về miễn phí
tại địa chỉ của Google.
Hiện nay toàn bộ các máy tính của các cơ quan Đảng đã được chuyển
sang dùng bộ phần mềm văn phòng Open Office. Bộ Thông tin và Truyền
thông đã thành lập Hội đồng tư vấn và sẽ có hướng dẫn việc dùng Open Office
trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.
Các đơn vị cũng có thể sử dụng bộ phần mềm King Office, bản
standard, được công ty King Soft cung cấp miễn phí cho ngành giáo dục. King
Office có ưu điểm gọn nhẹ (28 MB), gài đặt nhanh chóng (3 phút) và có giao
diện hoàn toàn giống Microsoft Office nên thuận tiện trong giảng dạy môn tin
học văn phòng trong nhà trường (trừ phần cơ sở dữ liệu).
b) Việc mua bản quyền các phần mềm như Microsoft Office sẽ do Cục CNTT
làm đầu mối quản lý và triển khai thống nhất trong toàn ngành khi có hướng
dẫn cụ thể của Bộ Thông tin và Truyền thông. Theo đó các đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước không tự mua các phần mềm này.
c) Bộ gõ tiếng Việt (mã nguồn mở) Unikey. Các đơn vị cần chuyển hẳn sang
dùng bộ mã unicode theo TCVN 6909, tuyệt đối không tiếp tục sử dụng các bộ
mã khác như ABC, VNI trong giao dịch điện tử.
mail theo tên miền của Sở.
c) Các Sở có thể tạo trang web của Sở như là một trang của mạng giáo dục của
Bộ. Các Sở cần cử cán bộ chuyên trách cung cấp và cập nhật thông tin cho
trang web này.
22
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
d) Mỗi trường THPT có phòng máy tính (với số lượng ít nhất là 25 máy) có
nối mạng nội bộ và kết nối Internet băng thông rộng ADSL. Chúng ta tiến tới
đạt chỉ tiêu ít nhất 20 học sinh/máy.
đ) Đến cuối năm 2008, cố gắng phấn đấu tất cả các trường đều được kết nối
Internet băng thông rộng ADSL. Ở những nơi vùng sâu, vùng xa, vùng núi
cao, cần sử dụng kết nối Internet băng thông rộng qua chảo vệ tinh VSAT-IP.
e) Công tác biên soạn bài giảng điện tử: Khuyến khích mỗi trường THPT,
THCS tạo mới nhiều thêm bài giảng điện tử của các môn học, đặc biệt cho cả
các môn khoa học xã hội như Văn, Sử, Địa, Nhạc, Họa. Khuyến khích giáo
viên tham khảo các tài liệu, bài giảng điện tử của đồng nghiệp trong công tác
giảng dạy song cần phát huy tính tích cực học tập thông qua thảo luận nhóm,
tổ chức cho học sinh tập tự giải quyết vấn đề, khuyến khích cách suy nghĩ độc
lập và suy xét, phản biện lại vấn đề. Tránh lạm dụng thái quá CNTT trong giờ
giảng như dùng nhiều hiệu ứng chữ chuyển động, mầu lòe loẹt, phông chữ khó
đọc, tham ghi nhiều chữ và cỡ chữ nhỏ, không có thời gian cho học sinh thảo
luận
f) Bộ GD&ĐT đã giao cho Cục CNTT chủ trì, tổ chức hội thảo và hội thi bài
giảng điện tử, khai thác thiết bị CNTT để đổi mới nội dung và phương pháp
giảng dạy theo hướng công nghệ e Learning. Hội thảo này dự kiến tổ chức vào
tháng 3/2008. Đề nghị các Sở tổ chức cho các trường tham gia tích cực.
g) Sử dụng các phần mềm mã nguồn mở trong công tác quản lý và giảng dạy
như Open Office, Unikey, FireFox.
h) Triển khai hệ thống thông tin quản lý giáo dục do Cục CNTT cung cấp.
Việc hoàn thành các công việc trên sẽ là những nội dung của việc đánh
giáo Việt Nam 20.11; Xã hội tôn vinh người thầy đăng ngày 20.11; Ngành
giáo dục với công tác an toàn giao thông đăng ngày 20.10. Vào trang web của
tỉnh Đồng Nai ngày 1.11.2007, trong trang giáo dục thấy có lịch công tác của
Sở Giáo dục - Đào tạo cho đến hết ngày 3.11.
Còn có chi tiết từng ngày Ban giám đốc Sở làm việc với trường nào, ở
đâu, rất rõ ràng và cập nhật nhiều bài viết mới về giáo dục trong tỉnh. Ngày
30.11, vào trang giáo dục của website: hue.vnn.vn có những bài viết về giáo
dục mới nhất trong ngày cho dù lấy từ báo khác như bài: Chưa bao giờ giữ bí
mật về thu học phí; Lại chậm thiết bị dạy học ở nhiều địa phương Vào trang
"Sở giáo dục" trong website của UBND tỉnh Lào Cai, có những thông tin mới
được cập nhật trong Ngày nhà giáo Việt Nam; những mô hình hay, tấm gương
học sinh vượt khó được đăng trước đó vài ngày
Ngày 12.12.2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Bộ đang đề nghị các
Sở GD – ĐT gửi danh sách học sinh để lập địa chỉ email với tên miền
@moet.edu.vn cho tất cả các trường tiểu học, THCS, THPT trước. ngày
15.1.2008.
Trong đó, ngay trong năm học 2007-2008 này, ưu tiên tạo ngay email
cho học sinh THPT, đặc biệt cho HS lớp 12 để phục vụ cho việc nhận thông tin
đăng ký thi tuyển sinh, hướng nghiệp năm 2008.
24
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Cục Công nghệ thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cũng đã gửi đĩa CD
chứa đầy đủ thông tin dữ liệu phân tích hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi
tuyển sinh ĐH, CĐ của từng trường, từng hội đồng thi để các sở tham khảo và
phổ biến đến các trường, lớp để nghiên cứu rút kinh nghiệm, phục vụ cho cuộc
vận động "Hai không".
Căn cứ chỉ thị số 39/2007/CT-BGD&ĐT ngày 31/7/2007 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2007-
2008; căn cứ Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công
nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; căn cứ