SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CNTT&TT KẾT HỢP SÁCH
BÀI TẬP ĐỂ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
Phần I. Nêu thực trạng của vấn đề
1. Thuận lợi khi thực hiện đề tài 38
1.1. Tình hình giảng dạy môn LS ở đơn vị
1.2. Tình hình trường, lớp, HS
1.3. Ưu điểm khi thực hiện đề tài
2. Khó khăn khi thực hiện đề tài 40
Phần II. Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
1. Đối tượng học và việc thiết kế đa phương tiện DH 41
2. Khai thác, sử dụng internet góp phần tích cực hoá PPDH LS ở
trường THPT 42
3. Thiết kế và sử dụng GAĐT nhằm nâng cao chất lượng DHLS ở
trường THPT 46
Thực trạng việc thiết kế và sử dụng GAD8T trong môi trường DH đa
phương tiện
Nhận thức của GV đối với việc thiết kế và sử dụng GAĐT hiện nay
Thực trạng trong việc thiết kế và sử dụng GAĐT của GV
Công tác thiết kế và sử dụng GAĐT
4. Một số biện pháp ứng dụng CNTT&TT để thiết kế và sử dụng
GAĐT 49
Nâng cao nhận thức và khuyến khích GV sử dụng GAĐT trong DHLS
Bồi dưỡng trình độ tin học cơ bản, phát triển kĩ năng thiết kế và sử dụng
GAĐT cho GV
Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng GAĐT
Tăng cường đầu tư CSVC và TBDH hiện đại, xây dựng phòng học đa
phương tiện
Sự chuẩn bị của Bộ GD – ĐT về ứng dụng CNTT trong sử dụng TBDH để
Sử dụng sơ đồ trong ôn tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức mới
Sử dụng sơ đồ trong kiểm tra, đánh giá
Sử dụng sơ đồ trong DHLS có giá trị tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả
bài học và kích thích lòng say mê học tập của HS
9. Tạo biểu tượng các nhân vật LS để hình thành kiến thức LS cho HS
THPT 82
Đối với nhân vật LS ở nhóm một
Đối với nhân vật LS ở nhóm hai
Đối với nhân vật LS ở nhóm ba
10. Các biệp pháp GV giúp HS vượt qua “rào cản” trong đổi mới
DHLS ở THPT 87
Quan niệm về “rào cản” trong quá trình học tập theo cách tiếp cận của “sư
phạm tương tác”
Các biện pháp giúp HS vượt qua “rào cản” của vùng limbic
Kích thích đa giác quan của HS
Tạo động lực học tập cho HS
Các biện pháp giúp HS vượt qua “rào cản” của trạng thái T
Luôn bắt đầu từ các ví dụ, các hình ảnh, các sự kiện cụ thể để giúp HS hình
thành các khái niệm
Luôn tạo được sự kết nối giữa kiến thức cũ với kiến thức mới bằng cách
củng cố ôn tập thường xuyên, kiểm tra kiến thức nền
11. Một số kĩ thuật kiểm tra đánh giá vận dụng trong đổi mới PPDH LS
ở trường THPT 93
Kiểm tra kiến thức nền
Bài tập một phút
Tóm tắt một câu
Điểm nhấn
Xác định ma trận đặc trưng
Phần III. Kết quả và kinh nghiệm rút ra được từ SKKN
5. Các trang về CNTT có thể tham khảo 118
6. Kho học liệu mở Việt Nam chính thức “mở cửa” 120
7. Hướng dẫn khai thác internet phục vụ DHLS 121
8. Giới thiệu giao diện một số website 127
Phần V. Đề xuất ứng dụng CNTT&TT kết hợp SBT để đổi
mới PPDH LS ở trường THPT
1. CNTT&TT hỗ trợ đổi mới PPDH LS ở THPT 129
2. Nguyên tắc ứng dụng CNTT&TT để đổi mới PPDH LS ở THPT 130
3. Cấu trúc của GAĐT hỗ trợ DHLS 131
4. Quy trình xây dựng GAĐT hỗ trợ DHLS 132
5. Ý nghĩa và những hạn chế của việc ứng dụng CNTT&TT trong việc
đổi mới PPDH LS 134
6. Đề xuất một số biện pháp chủ yếu giúp HS nắm vững kiến thức
trong DHLS ở THPT 135
Kết hợp lời nói của GV và HS với đồ dùng trực quan nhằm tạo biểu tượng
cụ thể, sinh động về sự kiện LS
Sử dụng tài liệu tham khảo kết hợp SBT với trao đổi thảo luận sẽ làm sáng
tỏ sự kiện của bài học LS
Sử dụng câu hỏi để tổ chức trao đổi thảo luận
BTLS là phương tiện quan trọng trong DH giúp HS nắm vững kiến thức
Thường xuyên củng cố ôn tập là biện pháp rất tốt giúp HS nắm vững kiến
thức
Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết hợp với tự kiểm tra, đánh giá của HS
Phần VI. Sự chuẩn bị cho “năm học CNTT 2008 – 2009”
1. Trước thềm “năm học CNTT 2008 – 2009” 143
khác? Ngành giáo dục (GD) phải đổi mới ra sao để môn Sử trở nên hấp dẫn,
sinh động hơn? Ngày 31-7-2007, ngay sau khi Báo SGGP có bài “Điểm thi
môn Sử vào ĐH quá thấp : Hậu quả của đổi mới… nửa vời”, nhiều nhà giáo và
bạn đọc đã góp ý kiến tâm huyết. PGS.TS Phạm Xanh cho rằng hiện nay
chúng ta đang “đối xử” không công bằng giữa các môn học. Nếu như một tuần
có tới 5 đến 7 tiết Toán thì tại sao chỉ có một tiết học LS. Phải chăng vì môn
Sử là môn phụ? Và sự “đối xử” đó đã được phản ánh qua các kỳ thi tốt nghiệp
và đại học vùa qua khi điểm môn LS thấp tới mức “kinh hoàng”.
Theo PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế - Chủ nhiệm Khoa LS Trường
ĐHKHXH&NV Hà Nội. Mỗi tuần có 1 đến 2 tiết sử thì đừng “đòi hỏi” các em
khi đi thi đạt điểm môn Sử cao như môn Toán, Lý, Hóa PGS Nguyễn Hải Kế
hiện đang làm cố vấn cho game show Theo dòng LS của Ban Khoa giáo - Đài
Truyền hình Việt Nam, có một một bạn trẻ của trường THPT Marie Curie đã
nói với ông: Em thích học Sử, em hiểu được vai trò của LS đối với việc hình
thành nhân cách con người. Nhưng bây giờ em phải học những môn để thi ĐH
nên không có nhiều thời gian cho môn LS. Nếu như em có học môn Sử nhiều
thì bố mẹ em sẽ cấm ngay bởi môn đó em không thi ĐH…
Đỗ Kim Chung (ĐH KHXH&NV TP.HCM): “Nếu xét ở khía cạnh để
nắm các cứ liệu thì điều đó đúng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng
thì sẽ rất dễ quên khi không nhắc đến nó thường xuyên. Khi kiểm tra, đánh giá
(KT – ĐG) kết quả DH, đề KT đều theo kiểu như: anh (chị) hãy nêu nguyên
nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của ; anh (chị) hãy cho biết các nội dung của
hiệp định Cũng không sai nếu nói rằng HS lớp 2 học thuộc lòng cũng có thể
trả lời được hết những câu hỏi kiểu đó. Tư duy ấy làm HS thụ động với môn
sử, cứ học vẹt từng câu, từng chữ đến khi KT và chép đầy đủ ý vẫn qua.
Nhiều năm học môn sử ở trường phổ thông, tôi chưa từng gặp câu hỏi
kiểu như: Tại sao chúng ta ký hiệp định Vì sao sau Cách mạng tháng 8-1945
học tập phù hợp với bộ môn, hết sức tránh trường hợp học vẹt vừa mất công
sức, thời gian mà không mang lại hiệu quả. Nếu không kịp thời đổi mới, 2-3
năm tới tình hình này sẽ vẫn tiếp tục, có khi tệ hại hơn”.
Trong một chương trình giao lưu trên VTV2 với chủ đề: “Thế hệ trẻ với
di sản Cách mạng tháng Tám” khi phóng viên của chương trình phỏng vấn các
bạn trẻ ở Hà Nội về Nhà Hát lớn Hà Nội - nơi diễn ra cuộc biểu tình lớn nhất ở
Hà Nội diễn ra ngày 17/8/1945 và cuộc mít tinh Tuyên bố thành lập chính
quyền cách mạng ở Hà Nội ngày 19/8/1945, thì hầu hết các bạn trẻ được hỏi
không biết đến những sự kiện này, mặc dù các bạn đã nhiều lần đến Nhà Hát
lớn.
Phải chăng các bạn trẻ thờ ơ với LS của nước nhà? Tại sao các bạn trẻ
lại không để ý đến chính những di tích LS mà các bạn đã đến nhiều lần?
Theo PGS.TS Phạm Xanh - Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội thì lỗi
không hoàn toàn ở các bạn. Bởi ở di tích LS này chỉ có một tấm biển nhỏ ghi
vài dòng: “Nơi đây đã diễn ra một cuộc mít tinh trong Tổng khởi nghĩa tháng
Tám”. Với tấm biển nhỏ và những thông tin đó không thể thu hút được các bạn
trẻ là điều tất yếu.
Theo PGS. Phạm Xanh lỗi ở đây thuộc về những người làm văn hóa Hà
Nội. Với các di tích LS người ta chỉ gắn một tấm biển theo kiểu: Tại đây, ngày
này diễn ra sự kiện gì… Với cách làm như vậy thì những di tích này chỉ là di
tích “chết” và hậu quả của nó là các bạn trẻ ở Hà Nội chiều chiều vẫn đến Nhà
Hát lớn chơi nhưng chẳng mấy ai biết được nơi đây đã diễn ra những sự kiện
LS gì trong Cách mạng tháng Tám.
Học trong sách vở thì các sự kiện, con số khô cứng. Nhiều trường THPT
hiện nay thường tổ chức cho các HS đi tham quan bảo tàng với hy vọng việc
học sử sẽ hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, có một thực tế là các buổi đi tham quan bảo
tàng của các các bạn trẻ hiện nay không hiệu quả. Theo cô Trần Thị Nhung -
mở cuộc thi tìm hiểu về những đóng góp của nhân vật ấy để HS có cơ hội tiếp
cận thêm những thông tin mới.
Thứ ba, các phòng truyền thống của trường không nên chỉ dừng lại ở
việc lưu giữ, trưng bày những hình ảnh, thành tích hoạt động của thầy- trò các
thế hệ, mà còn là nơi ghi lại tên tuổi của các cựu GV, HS của trường đã anh
dũng hy sinh vì Tổ quốc, có nhiều đóng góp để xây dựng nhà trường. Nhớ ơn
các anh hùng, liệt sĩ, lớp thế hệ HS sẽ không chỉ thêm tự hào về ngôi trường
mình, mà còn ra sức học tập, rèn luyện, xứng đáng với những cống hiến của
cha anh.
Sáng kiến của TP Hồ Chí Minh trong việc treo những tấm pa-nô có
thông tin về những vị anh hùng trên các đường phố thời gian qua cũng là một
cách làm hay để các nhà trường tham khảo.
Đây là lần đầu tiên nội dung chính ba bản tuyên ngôn được tiếp xúc đến
người dân hết sức gần gũi và giản dị thông qua các tấm Pa-nô treo dọc các trục
đường chính. Đó là những áng văn bất hủ và hào hùng trong bài Nam quốc sơn
hà của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi và Bản Tuyên
ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình cách đây 62 năm.
Rất nhiều người dân TP.HCM đã khẳng định: Những câu trích trong tấm
pa-nô là rất thích hợp, phản ánh đúng tinh thần của bản tuyên ngôn đó. Nội
dung cơ bản của nó đã khẳng định chủ quyền dân tộc, cảnh cáo tất cả bọn
ngoại xâm dám đến xâm phạm chủ quyền của dân tộc ta , nhân dân ta.
Cùng với 3 bản Tuyên ngôn Độc lập là danh sách tóm tắt về tiểu sử của
tám mươi mốt nhân vật LS xếp theo thứ tự năm hy sinh hoặc năm mất, được
tính từ 2/9/1945 trở đi. Đó là những chiến sĩ cộng sản, nhân sĩ, chí sĩ, học giả
nhà văn hóa, nhà tu hành, bác sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ…Tất cả họ đều đặt lợi ích dân
tộc lên trên hết, sẵn sàng hy sinh tính mạng khi Tổ quốc lâm nguy.
Theo Giáo sư Huỳnh Lúa: Danh sách những anh hùng được giới thiệu
sáng tạo.
PGS-TS NGUYỄN THỊ CÔI, Khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội:
Làm một cuộc cách mạng về vị trí môn lịch sử
Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học Sử của HS rất cần thiết, có tác
dụng góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Muốn đổi mới cần xây
dựng và sử dụng các dạng sách bài tập (BT) LS trong dạy học có vai trò rất
quan trọng đối với quá trình, củng cố kiến thức LS cho HS. GV có thể sử dụng
các loại BT dưới dạng một câu hỏi tổng hợp, BT nhằm rèn kỹ năng thực hành,
hệ thống khái quát hóa kiến thức và vận dụng kiến thức, BT trắc nghiệm khách
quan. Để có những bài tập chất lượng đòi hỏi GV phải đầu tư suy nghĩ, tìm tòi,
sáng tạo. Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá không chỉ là công việc của GV đứng
lớp mà còn là công việc của cấp quản lý. Bên cạnh đó, phải làm một cuộc cách
mạng trong quan niệm về vị trí môn LS từ cấp quản lý GD cao nhất đến ban
giám hiệu, cha mẹ HS và toàn xã hội. Cổ nhân từng dạy “lịch sử là cô giáo của
cuộc sống”, không có quan niệm đúng về môn học thì tất cả những đề xuất đổi
mới nội dung, PP, trong đó có hoạt động kiểm tra, đánh giá không thể đi vào
thực tiễn được.
ThS PHẠM PHÚC VĨNH, Bộ môn Lịch sử Trường ĐHSP Đồng Tháp:
Phải đổi mới cách tổ chức lớp học
Cách tổ chức lớp học phổ biến ở nhà trường phổ thông hiện nay còn
mang nặng tính áp đặt chủ quan, nó gián tiếp tạo nên sự bất bình đẳng đối với
HS trong quá trình dạy học. Trừ những HS có khả năng tương ứng với nội
dung và PPDH của GV trên lớp, số HS còn lại đang bị ép buộc phải tiếp nhận
những kiến thức hoặc quá cao, hoặc quá thấp so với khả năng của mình, làm
mất đi hứng thú, động lực học tập của một bộ phận khá lớn HS. Thực tế đó đòi
hỏi chúng ta phải làm sao để trong tất cả các môn học nói chung và môn LS nói
riêng, HS sẽ được học ở những lớp học có nội dung và PP phù hợp với khả
phim ảnh thì chắc sẽ thu hút người học hơn. Một khi đã thu hút người học,
làm cho người học thích thú môn sử thì chắc chắn việc học môn sử sẽ tốt hơn.
ĐỖ KIM CHUNG (ĐH KHXH&NV TP.HCM) Người thầy sợ “cháy”
giáo án
Tại sao HS đạt điểm thấp môn LS? Ngoài nguyên nhân do một bộ phận
không nhỏ HS vì yếu các môn khác nên phải chọn khối thi này, có lẽ ai cũng
nhận ra việc các em học nhưng không nhập tâm được bài học.
Quan niệm hiện nay của không ít phụ huynh, HS, thậm chí cả GV, là
học môn LS không có tương lai. Trong khi đó, người thầy chẳng dám “đi xa”
hơn những gì có trong sách, không thể phân tích cặn kẽ vì sợ “cháy” giáo án.
HS đang bị nhiễu loạn thông tin khi phải tiếp thu kiến thức qua phim ảnh, trên
mạng không chính xác. Nhiều em HS thổ lộ với tôi rằng: ngày tháng nhiều quá
nhớ không xuể, dễ lẫn lộn sự kiện này với sự kiện khác. Cách học phổ biến của
các em hiện nay là học vẹt chứ không biết hệ thống hóa kiến thức, sự kiện,
đương nhiên điểm sẽ thấp.
Chấn chỉnh ngay chương trình, SGK là điều đã được nhiều nhà giáo đề
nghị trong những năm qua. Song song đó thầy cô nên hướng học sinh có PP
học tập phù hợp với bộ môn, hết sức tránh trường hợp học vẹt vừa mất công
sức, thời gian mà không mang lại hiệu quả. Nếu không kịp thời đổi mới, 2-3
năm tới tình hình này sẽ vẫn tiếp tục, có khi tệ hại hơn.
(Hà Nội Mới 16/8/2007) - Kỳ thi năm nào cũng vậy, kết quả thi môn
Lịch sử luôn khiến nhiều người trăn trở nhất : thống kê cho thấy có đến
90% bài thi môn này dưới điểm trung bình. Rất nhiều lý do đã được đưa ra,
như nội dung chương trình, kiến thức trong SGK còn nặng về lý thuyết. Bởi
thế, GV cũng chỉ cố gắng truyền đạt đủ kiến thức quy định, không còn thời
gian để cùng học trò khám phá những cái hay của môn học. Thứ hai là do PP
đào tạo GVLS ở các trường sư phạm hiện nay quá cứng nhắc với những sự
kiện, con số mà ít chú ý đến việc liên hệ thực tiễn Và rất nhiều lý do khác.
hỗn hợp; C0 để chỉ bậc mẫu giáo.
Trước hết, ngay trong năm học 2007-2008 này, đề nghị các Sở ưu tiên
tạo ngay e mail của Sở cho học sinh THPT, đặc biệt cho học sinh lớp 12 để
phục vụ cho việc nhận thông tin đăng kí thi tuyển sinh, hướng nghiệp năm
2008.
3. Triển khai hệ thống thông tin quản lý giáo dục: Các Sở cần triển khai
thống nhất hệ thống phần mềm quản lý trường học do Cục CNTT cung cấp
miễn phí. Trên cơ sở phần mềm quản lí trường học này, Cục CNTT sẽ cung
cấp các công cụ quản lý các cấp (Bộ, Sở, Phòng) để thống nhất cơ sở dữ liệu
về giáo dục phổ thông gồm giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, thi Bộ
GD&ĐT thống nhất quản lý nhà nước về cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin
quản lí giáo dục về một đầu mối là Cục CNTT để tránh chồng chéo gây lãng
phí và đảm bảo sự phát triển bền vững của toàn hệ thống thông tin giáo dục.
Hàng năm, Cục CNTT có trách nhiệm cập nhật phần mềm theo yêu cầu
mới, thu thập và xử lý dữ liệu, cung cấp lại các thông tin cần thiết và hữu ích
phục vụ cho công tác quản lý của các cấp quản lý giáo dục (Bộ, Sở, Phòng).
Cục CNTT đã gửi đĩa CD chứa đầy đủ thông tin dữ liệu phân tích hai kì
thi tốt nghiệp THPT và kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng của từng trường,
từng hội đồng thi để các Sở tham khảo và phổ biến đến các trường, các lớp để
cùng nghiên cứu rút kinh nghiệm, phục vụ cho cuộc vận động hai không.
4. Khai thác và sử dụng mã nguồn mở trong quản lý và giảng dạy
Khai thác và sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong các đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước là một chủ trương lớn của Nhà nước. Vì vậy Bộ cũng nghị
các đơn vị, cơ sở giáo dục cần triển khai ngay các phần mềm mã nguồn mở
trong công tác dạy học chính thức trong trường phổ thông và trong công tác
quản lý :
a) Bộ phần mềm văn phòng Open Office www.OpenOffice.Org., do hãng
27. Trước mắt, theo điều kiện của địa phương, các Sở có thể trang bị hệ thống
họp qua điện thoại (không có hình) bằng việc mua thiết bị hội nghị thoại
(audio station) như của Polycom, ClearOne, Microtel… Đây là thiết bị điện
thoại phục vụ họp nhiều người từ nhiều điểm qua thoại của Bộ đã được thiết
lập bằng cách quay điện thoại về số máy 19001563 (Sau đó bấm thêm phòng
họp số … và mật khẩu). Cục CNTT sẽ phổ biến chi tiết.
Việc thiết lập hệ thống họp qua video conference đối với các Sở sẽ được
nghiên cứu và triển khai trong thời gian tới.
6. Triển khai hội thảo bài giảng điện tử e Learning
Phong trào làm bài giảng sử dụng phần mềm trình chiếu powerpoint
những năm qua đã có nhiều kết quả. Cục CNTT sẽ chủ trì và hướng dẫn công
nghệ làm bài giảng điện tử e Learning và chủ trì hội thảo khai thác thiết bị
CNTT, hội thi bài giảng điện tử, sử dụng CNTT trong đổi mới nội dung và
phương pháp giảng dạy theo hướng tạo bài giảng e Learning, hội thảo và dạy
học online, áp dụng kết hợp với các thiết bị thí nghiệm đo lường điện tử.
7. Định hướng hoạt động thi đua về CNTT
Các hoạt động trên cùng với việc triển khai các hoạt động về CNTT
khác của các đơn vị, cơ sở giáo dục nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ
năm học về CNTT, trước mắt phấn đấu nhằm đạt được một số kết quả cụ thể
sau:
a) Mỗi Sở GD&ĐT có tên miền riêng của Sở để thiết lập website và hệ thống e
mail quản lý. (Việc tạo e mail theo tên miền của Sở hiện nay là hoàn toàn miễn
phí trên nền gmail, các Sở không cần đầu tư mua máy chủ và không mất nhân
lực bảo dưỡng hệ thống).
b) Mỗi cán bộ của Sở, mỗi học sinh THCS và THPT, mỗi giáo viên có một e
mail theo tên miền của Sở.
c) Các Sở có thể tạo trang web của Sở như là một trang của mạng giáo dục của
2007 – 2008 về công tác CNTT.
Cũng theo qui định tại Công văn số 9584/BGDĐT-CNTT ngày
07/9/2007, Bộ yêu cầu các Sở gửi về Bộ (qua e-mail: [email protected])
báo cáo kế hoạch CNTT năm học 2007 -2008 và danh sách đơn vị đầu mối về
CNTT của Sở.
Ngày 20-12-2007: tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), Phó Thủ
tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân có
buổi đối thoại trực tiếp với các đại biểu tham dự Đại hội (ĐH) Đoàn toàn quốc
lần thứ IX. “Chính phủ đã nghe báo cáo của Đoàn thanh niên, những vấn đề
lớn mà Đoàn đặt ra. Có thể nói chính phủ, nhân dân đánh giá cao Đoàn thanh
niên đã giáo dục tuổi trẻ”, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mở đầu bài nói
chuyện. Sau khi điểm lại những thành tựu vượt bậc của Việt Nam hơn 100
năm qua, kể từ khi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Phó Thủ tướng khẳng
định 3 cơ hội mà Việt Nam đang phải đối mặt đó là toàn cầu hóa, kinh tế tri
thức và xã hội công dân. “Chính ở đây là thời cơ và vai trò của đoàn thanh
niên. Khi bước vào toàn cầu hóa và WTO có nghĩa rằng thị trường thế giới mở
cửa bình đẳng, điều kiện xuất khẩu mạnh lên, đây là cơ hội. Lao động kết tinh
vào sản phẩm lớn. Toàn cầu hóa dẫn tới đặc diểm là cầu thế giới kích thích
sản xuất trong nước. Cơ chế này đã hoàn thành, nhưng theo theo điều kiện của
họ”, Phó Thủ tướng nói.
4. Từ chỉ đạo của các Sở GD - ĐT triển khai ứng dụng CNTT&TT
Trong khi đó, một số tỉnh khác lại cập nhật khá tốt nội dung của trang
giáo dục trong website của tỉnh. Trên website của UBND tỉnh Đồng Nai và
Ninh Thuận có rất nhiều thông tin được cập nhật. Chánh văn phòng Sở Giáo
dục - Đào tạo Ninh Thuận cho biết những thông tin mới về ngành giáo dục
được tải lên trang web đều đặn. Chúng tôi thử vào trang web của UBND tỉnh
Ninh Thuận và thấy có những tin như: Lãnh đạo tỉnh chúc mừng ngày Nhà
giáo Việt Nam 20.11; Xã hội tôn vinh người thầy đăng ngày 20.11; Ngành
giáo dục với công tác an toàn giao thông đăng ngày 20.10. Vào trang web của
tỉnh Đồng Nai ngày 1.11.2007, trong trang giáo dục thấy có lịch công tác của
cuộc vận động của Bộ GD&ĐT lấy năm học 2008-2009 là “Năm học công
nghệ thông tin”, “trong năm học 2007-2008 toàn ngành cần chuẩn bị thật tốt
các nguồn lực nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực về ứng dụng CNTT trong
quản lý và giảng dạy. Tập trung nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị; mở rộng
việc đưa Tin học vào giảng dạy trong các nhà trường; đổi mới nhận thức và
nâng cao kỹ năng CNTT cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; thực hiện
đồng bộ việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động, trọng tâm vào công tác
giảng dạy, xây dựng kho học liệu điện tử trong từng trường học, từng quận,
huyện và toàn thành phố”.
1. Củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất thiết bị về CNTT&TT
Các đơn vị, trường học tiến hành kiểm kê cơ sở vật chất, thiết bị CNTT
đầu năm học, lập kế hoạch thanh lý máy cũ hỏng, sửa chữa, nâng cấp, mua
sắm, bổ sung máy tính nhằm đáp ứng các yêu cầu về dạy Tin học cho học sinh
và cho công tác quản lý, giảng dạy. Ngoài ra, cần trang bị thêm một số phương
tiện kỹ thuật số khác phục vụ cho giảng dạy như: máy quét ảnh, máy chiếu đa
năng (Projector), máy chiếu vật thể 3 chiều, máy ảnh số, Phát huy tối đa hiệu
quả sử dụng máy tính thông qua việc tăng thời lượng sử dụng hữu ích cho
máy, tuyệt đối không để máy tính ngừng sử dụng thời gian dài.
Các trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), trung học phổ thông
(THPT), các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp (GDKTTH), trung tâm giáo
dục thường xuyên (GDTX) đều phải có mạng nội bộ và kết nối Internet băng
thông rộng (ADSL). Trong đó phải bố trí máy tính làm việc và truy cập
Internet dành riêng cho giáo viên trong phòng bộ môn, phòng chờ lên lớp, thư
viện, hội trường, và một số phòng truy cập Internet riêng cho học sinh.
Các phòng GD&ĐT tham mưu, đề xuất với UBND quận, huyện đầu tư
kinh phí tăng cường cơ sở vật chất thiết bị CNTT cho các cơ sở giáo dục trực
thuộc, tập trung vào các nội dung:
viên đi đào tạo trình độ nâng cao về tin học để có thể quản trị mạng máy tính
của đơn vị, xây dựng, khai thác sử dụng phần mềm dạy học và quản lý.
Các Phòng GD&ĐT quận, huyện có trách nhiệm tổ chức các lớp đào tạo
và bồi dưỡng Tin học cơ bản và theo chuyên đề cho cán bộ quản lý, giáo viên
trong địa bàn, đồng thời đôn đốc chỉ đạo, kiểm tra các trường về việc phổ cập
và nâng cao trình độ tin học tại cơ sở.
Trong năm học, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ tổ chức các khoá đào tạo sử
dụng phần mềm dạy học bộ môn, các hội thảo về xây dựng, sử dụng phần
mềm và bài giảng điện tử trong việc đổi mới phương pháp dạy học.
1- Triển khai đồng bộ ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và đào tạo
Thực hiện nghiêm túc việc trao đổi thông tin trên mạng (thông qua trang
web của Sở và hệ thống thư điện tử nội bộ, không sử dụng giấy) đối với một số
loại văn bản: thông báo, giấy mời, lịch hoạt động, văn bản hướng dẫn, báo
cáo, từ Sở đến các đơn vị trực thuộc và ngược lại. Các Phòng GD&ĐT quận,
huyện thực hiện giao dịch, trao đổi thông tin với cơ sở qua các hộp thư điện tử
được các nhà cung cấp dịch vụ Internet cấp cùng với dịch vụ kết nối.
Tất cả các trường phổ thông và TCCN đều phải sử dụng phần mềm tin
học hóa các hoạt động quản lý: quản lý nhân sự; quản lý học sinh và kết quả
học tập; quản lý thi, kiểm tra và tuyển sinh, quản lý tài chính, tài sản, nhân sự
cán bộ, viên chức,…chú ý đảm bảo sự đồng bộ và liên thông dữ liệu giữa các
cấp học. Riêng đối với quản lý thư viện trường học, Sở sẽ tổ chức triển khai
phần mềm dùng chung trong học kỳ I cho các trường có nhu cầu và đủ điều
kiện đáp ứng.
Các đơn vị trường học đã nối mạng nội bộ phải thực hiện triển khai các
ứng dụng trên mạng: xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, chia sẻ thông tin,
tăng cường giao dịch qua mạng giữa các bộ phận, tổ, khoa, phòng,
Bố trí sắp xếp các máy tính truy cập Internet thuận tiện cho cán bộ, viên
chức, nhân viên trong đơn vị được truy cập Internet miễn phí nhằm khai thác,
trao đổi thông tin nâng cao nhận thức và phục vụ chuyên môn công tác.
chất lượng bài giảng. Chú ý tránh hiện tượng lạm dụng phương tiện, hình thức
hoá bài giảng, không có tác dụng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy
phát huy tính tích cực của học sinh.
Mỗi trường học phải xây dựng kho học liệu điện tử, tập hợp các bài
giảng điện tử, phần mềm giảng dạy của giáo viên dùng chung trong các
trường, Đồng thời chia sẻ kinh nghiệm và tư liệu với các đơn vị bạn. Các
phòng GD&ĐT tuyển chọn tư liệu từ các trường để xây dựng kho học liệu điện
tử tại quận, huyện và đóng góp tư liệu cho kho học liệu dùng chung toàn
ngành.
Khuyến khích giáo viên sử dụng và khai thác thông tin, tư liệu trên
mạng Internet. Thành lập các nhóm giáo viên chuyên trách khai thác tư liệu
trên mạng và các nguồn khác theo từng bộ môn đưa vào kho tư liệu nhà
trường.
Tổ chức tham quan, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm ứng dụng CNTT với
các đơn vị khác trong và ngoài Thành phố.
3- Mở rộng việc đưa Tin học vào giảng dạy trong các nhà trường
Trên cơ sở điều kiện vật chất, thiết bị hiện có, các đơn vị trường học cần
mở rộng các loại hình giảng dạy tin học trong các trường học (chính khóa, tự
chọn, dạy nghề, ). Sử dụng tối đa thời gian hoạt động của máy tính vào việc
dạy tin học cho học sinh. Phấn đấu 100% học sinh tốt nghiệp THPT, THCS
được học Tin học cơ bản. Các trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) cần
quan tâm đào tạo học sinh cách khai thác, sử dụng các phần mềm chuyên
ngành thông dụng thuộc ngành đào tạo.
Các trường THPT, THCN, các trung tâm GDKTTH, GDTX và các
trường THCS có điều kiện, cần tổ chức cho học sinh sử dụng Internet trong
trường học (trong phòng máy, thư viện, văn phòng đoàn, đội, ) đồng thời định
hướng và quản lý chặt chẽ việc khai thác thông tin trên mạng.
kiện tiếp thu lại có hạn mà yêu cầu của ngành GD về chất lượng đào tạo phải
ngày càng cao. Chính vì thế việc đổi mới nội dung và PPDH LS có tầm quan
trọng đặc biệt. Làm thế nào để HS không bị nhồi nhét kiến thức, lo học tủ, học
vẹt để thi cử?
Với chủ trương vận động của Bộ GD&ĐT, càng đòi hỏi người GV
DHLS phải cải tiến PP soạn giảng, làm thế nào để HS có hứng thú, phát huy tư
duy, óc phán đoán trong các vấn đề về các sự kiện LS để các em hiểu được
nguyên nhân, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm LS trong quá trình dạy học LS.
Qua hai năm giảng dạy SGK mới, về hình thức trình bày, cách thể hiện
nguồn kiến thức trong mối quan hệ giữa kênh hình và kênh chữ đã tạo điều
kiện cho GV có thể tiến hành đổi mới PPDH LS.
Từ công tác bồi dưỡng thay sách lớp 10 và 11, việc đổi mới PPDH LS ở
trường THPT đã trở thành một yêu cầu cấp bách của GV LS, vì không chỉ để
đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn LS ở trường THPT mà còn góp
phần làm thế nào để thay đổi nhận thức của xã hội về vị trí, tầm quan trọng của
bộ môn LS đối với việc GD thế hệ trẻ.
Việt Nam đang bước vào hội nhập quốc tế và khu vực cho nên càng đòi
hỏi cấp bách việc GD phải đổi mới và nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu
trên. Trước tiên và quan trọng hơn cả là việc DHLS phải phấn đấu vươn tới
chuẩn chung về chương trình đào tạo, về mô hình quản lý, đặc biệt là phải đạt
chuẩn về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo. Nhiều
chuyên gia GD cho rằng tìm được lời giải cho vấn đề nầy cũng có nghĩa là tìm
được hướng cải cách chương trình, thay SGK, cũng chính là mục đích tìm ra
một hướng di cho phù hợp tình hình hiện nay của đơn vị.
Đề tài “Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách BT để đổi mới PPDH LS ở
trường THPT” nhằm giải quyết vấn đề cấp bách của GV bộ môn LS và của
công tác DHLS mà xã hội đang quan tâm hiện nay.
6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
năng, tri thức, những khái niệm do GV truyền thụ và có thể vận dụng vào thực
tiễn (Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân. Tâm lí học. NXB GD Hà Nội 1979,
tr,47).
Trong những tài liệu PP DHLS, các nhà GDLS cũng khẳng định rằng,
nắm vững kiến thức trong DHLS là phải “biết”, “hiểu” LS và “ứng dụng”.
Đây là con đường nhận thức biện chứng LS từ nắm sự kiện đến tạo biểu tượng,
hình thành khái niệm để hiểu bản chất, rút ra bài học kinh nghiệm và quy luật
LS. Trong đó, “biết” LS chưa phải là thước đo chất lượng của việc học tập,