A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Sách giữ vai trò rất quan trọng, là kho tàng tri thức của nhân loại, “là cây
đèn thần soi sáng cho con người trên những nẻo đường xa xôi nhất của cuộc đời”
(A.U.Pit), là nơi chia sẽ những thông tin, những suy nghĩ giữa con người với con
người. Nhờ có sách, chúng ta được thừa hưởng một khối lượng tri thức lớn của loài
người về mọi vấn đề, mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Đối với học sinh, sách là một phương tiện rất hữu ích. Trong tất cả các loại
sách, có một loại sách đã trở thành “vật bất li thân” của người học sinh ấy là sách
giáo khoa. Chúng ta có thể khẳng định có bao nhiêu học sinh đến trường thì có bấy
nhiêu bộ sách giáo khoa. Điều đó chứng tỏ sách giáo khoa có vai trò rất quan trọng
đối với học sinh, nó cung cấp những kiến thức cơ bản về tự nhiên và xã hội. Đồng
thời là cơ sở để giáo viên và học sinh thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
Là một giáo viên mới ra trường, tôi luôn học hỏi từ đồng nghiệp phương
pháp, kinh nghiệm giảng dạy, luôn tìm tòi, nghiên cứu phương pháp dạy học hay,
hiệu quả, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và phù hợp với đặc
trưng môn học. Qua thực tế 2 năm giảng dạy, tôi nhận thấy vai trò quan trọng của
bộ sách giáo khoa lịch sử trung học phổ thông(THPT) đối với cả giáo viên và học
sinh.
Sách giáo khoa lịch sử THPT là tài liệu cơ bản, bắt buộc sử dụng trong nhà
trường nên nó có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động dạy và học. Học sinh là
đối tượng chủ yếu sử dụng sách giáo khoa.Tăng cường hoạt động học tập của học
sinh với sách giáo khoa dưới sự chỉ đạo của giáo viên là một trong những hướng
đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay nhằm tích cực hoá hoạt động nhận
thức, gây hứng thú học tập và rèn luyện các kĩ năng thực hành. Từ sách giáo khoa
lịch sử, học sinh có thể tiếp cận được những kiến thức cơ bản, hiện đại, có hệ thống
của môn học. Học sinh có thể tìm hiểu kiến thức lịch sử qua nhiều nguồn thông tin
khác nhau, nhưng kiến thức trong sách giáo khoa là kiến thức chuẩn mực nhất.
Ngoài nguồn kiến thức mới, sách giáo khoa còn là tài liệu giúp học sinh củng cố,
tổng hợp, hệ thống hoá kiến thức thông qua các bài sơ kết, tổng kết, hướng dẫn ôn
tập. Với những kiến thức chuẩn mực, cơ bản, hiện đại, có hệ thống, sách giáo khoa
2
Qua việc “Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa môn lịch sử” nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc chiếm lĩnh kiến thức.
Đồng thời thực hiện theo tinh thần đổi mới môn lịch sử, không ngừng chú trọng cải
tiến phương pháp dạy học, học sinh phải được hướng dẫn phương pháp tự học thì
hiệu quả chất lượng mới được nâng cao.
Sách giáo khoa lịch sử được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy
và học, từ việc chuẩn bị kế hoạch dạy học đến tổ chức các hoạt động dạy học, kiểm
tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Để sử dụng tốt sách giáo khoa lịch sử,
giáo viên cần có các kĩ năng khác nhau: kĩ năng sử dụng sách giáo khoa để thiết kế
bài giảng, kĩ năng sử dụng sách giáo khoa trong quá trình lên lớp. Trong phạm vi
của đề tài, tôi đưa ra một phần trong tổng thể các kĩ năng sử dụng sách giáo khoa
của giáo viên đó là : kĩ năng hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa lịch sử.
Tôi quan niệm sử dụng sách giáo khoa lịch sử nói riêng và sách giáo khoa
nói chung là một phương pháp dạy học. Nếu cả giáo viên và học sinh đều làm tốt
khâu này sẽ mang lại hiệu quả trong mỗi giờ học. Hướng dẫn học sinh sử dụng hiệu
quả sách giáo khoa lịch sử là phương pháp giúp học sinh làm việc tốt với sách giáo
khoa dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đây được xem là một phương pháp dạy học
lấy học sinh làm trung tâm mà trong đó đóng vai trò chủ đạo của người giáo viên là
rất cần thiết. Nếu sự chỉ đạo của giáo viên không trực tiếp, không cụ thể thì phương
pháp học sinh làm việc với sách giáo khoa sẽ thất bại.
Kĩ năng hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa lịch sử có thể hiểu cụ
thể là: phương pháp giáo viên định hướng, chỉ cho học sinh cách tự chuẩn bị bài
mới, tự ôn bài cũ, tự làm bài tập ở cả giờ học trên lớp và giờ học ở nhà. Ngoài thời
gian trong phần củng cố dặn dò cuối mỗi tiết học, để có thể thực hiện tốt phương
pháp này tôi thường hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa trong các tiết ôn
tập, sơ kết, tổng kết.
II. Thực trạng vấn đề.
Lịch sử là một trong hệ thống các môn học ở trường THPT, nó giúp các em
hiểu biết các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử đã xảy ra trong quá khứ. Từ đó
không phải là một tài liệu thông báo kiến thức sẵn có mà chủ yếu là tài liệu hướng
dẫn học sinh học tập, giúp các em nghiên cứu, tìm tòi tri thức. Vì thế trong các bài
kiểm tra, thi học kì…việc học sinh sử dụng sách giáo khoa như một “ phao cứu trợ”
còn khá phổ biến.
4
Thứ ba, một lí do khiến học sinh không đọc sách giáo khoa ở nhà theo sự
hướng dẫn của giáo viên là giáo viên chưa giúp học sinh nhận thấy được sự khác
biệt giữa việc có chuẩn bị và không chuẩn bị bài trước ở nhà. Cứ như thế từ bài này
đến bài khác sẽ trở thành một thói quen theo lối mòn không tốt: từ chỗ đọc “chiếu
lệ”,“ qua loa” lúc đầu, dần dần các em không còn đọc nữa.
Thông thường khi bắt đầu học bài mới, tất cả học sinh đều mở sách giáo
khoa đặt lên bàn, vừa chú ý nghe giảng vừa xem sách giáo khoa, vừa chép bài. Khi
giáo viên hỏi (dưới dạng nhận biết) thì học sinh cứ chăm chăm đọc sách giáo khoa
như “một con vẹt”. Đặc biệt là diễn biến của các cuộc cách mạng, chiến dịch…
chưa tìm hiểu xong diễn biến học sinh đã đọc luôn kết quả của nó. Từ thực tế này
nên học sinh cứ “ỉ lại”, ở nhà thì quên xem sách giáo khoa, còn đến lớp thì chăm
chăm nhìn vào sách giáo khoa để trả lời câu hỏi của giáo viên. Vì thế sự quên đọc
sách ngày càng gia tăng và số học sinh đọc sách trước ở nhà giảm vì vừa mất thời
gian, vừa không khác gì những bạn không đọc trước.
Thứ tư, phần nhiều học sinh chưa hiểu hết ý nghĩa của từ “đọc”. Đối với các
em, “đọc” chỉ đơn thuần là đưa mắt qua các chữ, đôi khi có kèm theo phát âm và
khi xem đến phần chữ cuối cùng của bài học thì nhiệm vụ đọc sách trước ở nhà
được xem như đã hoàn thành.
Thứ năm, một đặc trưng của sách giáo khoa lịch sử là có cả phần kênh chữ
và kênh hình. Kênh hình không đơn giản chỉ là hình ảnh bổ trợ mà nó chính là một
nội dung rất quan trọng của bài học nhưng đôi khi học sinh có thể không xem hoặc
chỉ lướt qua chứ không có sự nghiền ngẫm đối chiếu với nội dung bài học và kết
quả là học sinh chỉ biết được cái vỏ của kiến thức mà chưa thấy được mối liên hệ
bên trong.
Thứ sáu, khi học bài cũ và làm bài tập ở nhà, học sinh có một thói quen là
Để khắc phục tình trạng chuẩn bị bài nói trên, tôi đã áp dụng các biện pháp
sau:
a) Tạo cho các em một niềm đam mê đọc sách:
Đọc sách giữ vai trò rất quan trọng, tạo cho học sinh một niềm đam mê đọc
sách nói chung sẽ giúp các em có một thói quen tốt khi đọc sách giáo khoa. Chính
vì thế, trong tiết học đầu tiên của năm học ở tất cả các lớp, tôi sẽ ành một khoảng
6
thời gian nhất định để trao đổi, thảo luận với các em về cách đọc sách và phương
pháp đọc sách giáo khoa có hiệu quả nhất.
Khi yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa, tôi lưu ý học sinh những vấn đề sau:
+Yêu cầu học sinh phải tập trung cao độ khi đọc: Cố gắng không để những
công việc khác, những tác động bên ngoài làm xao nhãng, ảnh hưởng đến quá trình
đọc sách. Ví dụ như dùng điện thoại, xem ti vi, nói chuyện….
+ Học sinh phải tích cực tư duy khi đọc : Đọc sách mà không tư duy chỉ làm
tổn phí thời gian vô ích. Tích cực tư duy khi đọc là năng lực chiếm lĩnh tri thức, đối
chiếu, so sánh chúng với nhau, với những hiểu biết đã có.
+ Rèn luyện kĩ thuật đọc hợp lí: Khi đọc sách tránh nơi ồn ào, không nên đọc
sách trong tư thế nằm. Đọc tại bàn viết, ngồi thoải mái, để sách vừa tầm mắt,
không đọc bằng miệng mà đọc bằng mắt và óc, đọc với tốc độ thay đổi: phần nào
dễ hiểu và không quan trọng thì đọc nhanh, phần quan trọng thì đọc chậm.
Từ đó, giúp hình thành ở các em một thói quen và một niềm đam mê khi đọc
sách nói chung và sách giáo khoa lịch sử nói riêng.
b) Ở mỗi tiết học, tôi tận dụng khoảng thời gian củng cố bài ở cuối tiết học
khoảng 3-5 phút để:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh cách đọc sách giáo khoa để tiếp thu kiến thức mới.
Tôi yêu cầu học sinh về nhà đọc toàn bộ phần kênh chữ và quan sát kĩ càng phần
kênh hình của bài học mới. Tất nhiên là bài học mới nên các em sẽ không nhận
thức được tất cả nội dung nhưng việc làm này sẽ có ý nghĩa giúp các em nắm được
những kiến thức đơn giản, dễ hiểu. Sau đó, tôi yêu cầu học sinh sau khi đọc phải
gạch chân vào những sự kiện, hiện tượng mà các em cho là nỗi bật, những khái
Bước 2: Tôi yêu cầu học sinh về nhà quan sát kênh hình trong bài và suy nghĩ
phương án trả lời các câu hỏi sau:
- Với kênh hình 49 - SGK: “ Lược đồ các đơn vị hành chính Viêt Nam thời
Minh Mạng”, tôi yêu cầu học sinh quan sát và suy nghĩ câu hỏi sau: “ Từ việc quan
sát, em hãy trình bày cách tổ chức hành chính thời Nguyễn, so sánh với cách phân
chia hành chính ngày nay”?
- Với kênh hình 50:“Đánh vật-tranh Đông Hồ”, học sinh về nhà quan sát và
nhận xét về sự phát triển của thủ công nghiệp trong nhân dân dưới thời kì nhà
Nguyễn?
8
Học sinh sau khi quan sát kênh hình, sẽ suy nghĩ phương án trả lời và ghi
chép thành dàn ý vào vở bài tập- phần chuẩn bị bài mới.
Bước 3: Tôi yêu cầu học sinh đọc hệ thống câu hỏi ở cuối mục 1, mục 2, mục 3,
cuối bài học và suy nghĩ phương án trả lời, sau đó làm thành dàn ý.
Để quá trình chuẩn bị bài mới của học sinh diễn ra liên tục, có hiệu quả, các
em thấy thích thú, hào hứng với hoạt động này mà không cảm thấy phải làm như là
một “nghĩa vụ” trước khi đến lớp, tôi yêu cầu học sinh chuẩn bị một cuốn vở chia
thành 2 phần (1 phần chuẩn bị bài mới, 1 phần làm bài tập cuối mỗi bài học). Ngoài
việc kiểm tra quá trình chuẩn bị bài mới tại lớp, tôi còn thu vở của học sinh để kiểm
tra, chấm, kịp thời tuyên dương, cho điểm những học sinh có tinh thần chuẩn bị bài
tốt, nhắc nhở, phê bình những học sinh chưa có sự chuẩn bị kĩ càng hoặc đối phó.
2. Hướng dẫn học sinh kết hợp sử dụng sách giáo khoa với nghe giảng, ghi
chép và trao đổi, thảo luận theo nhóm.
Sử dụng sách giáo khoa kết hợp với nghe giảng, ghi chép, trao đổi, thảo luận
theo nhóm thể hiện sự tác động tương hỗ giữa các hoạt động: Giáo viên giảng bài-
học sinh làm việc với sách giáo khoa- thảo luận trao đổi giữa giáo viên với học sinh
và giữa học sinh với nhau trong giờ học. Nhà tâm lí học M.N.Sac-đa-cốp (Liên Xô)
trong tác phẩm “tư duy của học sinh” đã khẳng định: Không thể xảy ra quá trình tư
duy nếu không nảy sinh vấn đề và không có “tài liệu” từ trước. Những “tài liệu” để
học sinh tiến hành tư duy là những kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp mà các
Ở mục I : “Nước Pháp trước cách mạng”
- Mục 1: “Tình hình kinh tế, xã hội”
Sau khi yêu cầu học sinh quan sát kênh hình 56 – “tình cảnh người nông
dân pháp trước cách mạng”, nhận xét về bức tranh biếm hoạ này, để học sinh hiểu
rõ hơn về tình kinh tế, xã hội Pháp, tôi cung cấp cho học sinh thêm tư liệu bằng
cách miêu tả bức tranh này.
- Mục 2: “Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng”, giáo viên cung cấp thêm tư
liệu về 3 đại diện tiêu biểu của trào lưu “ triết học Ánh sáng” kết hợp với ảnh chân
dung.
Mục II : “Tiến trình cách mạng”.
- Mục 1: “ Cách mạng bùng nổ. Nền quân chủ lập hiến”.
10
+ Giáo viên cung cấp thêm : Miêu tả ngục Baxti, tường thuật diễn biến cuộc
tấn công ngục Baxti.
+ Giáo viên cung cấp thêm tư liệu về tuyên ngôn “Nhân quyền và dân
quyền” năm 1789 của Pháp, so sánh với tuyên ngôn độc lập của Việt Nam 2-9-
1945.
+ Cung cấp thêm nội dung bản Hiến pháp 9-1791 để học sinh thấy được hạn
chế của bản Hiến pháp này.
- Ở mục 2: “Tư sản công thương cầm quyền.Nền cộng hoà được thiết lập”:
+ Giới thiệu về phái Girôngđanh
+ Miêu tả cảnh Lu-i XVIII bị xử chém kết hợp với kênh hình 59: “ Vua Lu-i
XVIII bị xử chém.(21-1-1793)”.
- Ở mục 3: “ Nền chuyên chính Giacôbanh-đỉnh cao cách mạng”
+ Giáo viên cung cấp thêm về phái Giacôbanh và luật sư Rô-be-spie
+ Nói rõ hơn về nội dung của Hiến pháp 6-1793, so sánh với hiến pháp năm
1791 để thấy được điểm tiến bộ của Hiến pháp này.
Ở mục III : “Ý nghĩa của cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII”
- Giáo viên cung cấp thêm một vài nhận định của các lãnh tụ trên thế giới về
ý nghĩa của cách mạng tư sản Pháp.
Bước 4: Hướng dẫn học sinh khai thác sách giáo khoa để trả lời câu hỏi do giáo
viên đặt ra hoặc thảo luận, trao đổi theo nhóm.
Ví dụ 1: Để giải quyết câu hỏi:“Tại sao nói đế quốc Nhật Bản là chủ nghĩa đế
quốc phong kiến quân phiệt?” ( trong khi học bài 1 : Nhật Bản, sách giáo khoa lịch
sử 11, cơ bản) , giáo viên không nên nhắc nhở chung chung : “ Các em đọc sách
giáo khoa rồi trả lời câu hỏi của cô” mà cần gợi ý cho học sinh dựa vào nội dung
bài viết trong sách giáo khoa giới thiệu về sự ra đời của các công ty độc quyền như
Mít- xưi, Mít-su-bi-si có khả năng lũng đoạn chính trị, kinh tế ở Nhật Bản; Giới
cầm quyền Nhật Bản thi hành chính sách bành trướng và xâm lược; Sự tồn tại của
quyền sở hữu ruộng đất phong kiến; Ưu thế chính trị của giới võ sĩ Samurai…để trả
lời.
Ví dụ 2 : Khi dạy mục 4: “Văn hoá Trung Quốc thời phong kiến” ( bài 5: Trung
quốc thời phong kiến, lịch sử 10, cơ bản ), giáo viên chia lớp thành 3 nhóm, giải
quyết 3 vấn đề sau:
12
Nhóm 1: Những thành tựu trên lĩnh vực tư tuởng của chế độ phong kiến Trung
Quốc?
Nhóm 2 : Những thành tựu trên lĩnh vực sử học, văn học?
Nhóm 3: Những thành tựu trên lĩnh vực khoa học kĩ thuật?
Tôi hướng dẫn học sinh dựa vào nội dung sách giáo khoa để thảo luận, ghi vào
phiếu học tập, sau đó cử đại diện trả lời.
Bước 5: Tôi yêu cầu học sinh tự đọc các nội dung ít phức tạp, không cơ bản, dễ
hiểu trong sách giáo khoa, sau đó tự tóm tắt, kể lại những nội dung đó.
Ví dụ: Khi dạy bài 16:“Các nước Đông Nam Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (
1918-1939)( sách giáo khoa lịch sử 11, cơ bản), giáo viên yêu cầu học sinh tự đọc
mục 1:“Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội” vì nội dung mục này đơn giản, dễ hiểu.
Sau đó, yêu cầu các em trình bày tóm tắt những chuyển biến quan trọng về kinh tế,
chính trị, xã hội của các nứơc Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ nhất.
Như vậy quá trình lên lớp của giáo viên và học tập của học sinh không thể tách
rời sách giáo khoa. Nhiệm vụ của giáo viên là phải linh hoạt sáng tạo điều khiển học
yêu cầu học sinh về nhà hoàn thành bảng thống kê sau:
Thời gian Nội dung sự kiện
……
Ví dụ 3: Sau khi học xong bài 15:“Phong trào cách mạng ở Trung Quốc và Ấn
Độ(1918-1939)” ( lịch sử 11, cơ bản), tôi yêu cầu học sinh về nhà sau khi ôn luyện
bài cũ thì lập bảng thống kê nêu những điểm khác nhau về giai cấp lãnh đạo,con
đường và phương pháp đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ so
với Trung Quốc trong những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới theo mẫu sau:
Tiêu chí so sánh Cách mạng Ấn Độ Cách mạng Trung Quốc
Giai cấp lãnh đạo
Con đường
Phương pháp
3.2. Làm bài tập ở nhà:
Bài tập trong sách giáo khoa lịch sử THPT thường là những câu hỏi dưới
dạng nhận biết, thông hiểu và vận dụng, giành cho cả học sinh từ trung bình đến
khá, giỏi. Với sách giáo khoa thường là những câu hỏi tự luận nằm phần cuối ở
mỗi bài, còn vở bài tập thì đó là các câu hỏi trắc nghiệm kết hợp với tự luận. Phần
14
bài tập (kể cả ở sách giáo khoa và vở bài tập) của học sinh đều rất quan trọng. Nó
có tác dụng giúp học sinh vừa ôn lại kiến thức, vừa rèn luyện khả năng diễn đạt,
triển khai vấn đề bằng bài viết. Qua đó thể hiện khả năng nắm vững và vận dụng
kiến thức của các em. Những kiến thức mà các em thu được từ việc làm bài tập sẽ
chắc chắn và bền vững hơn khi các em chỉ học thuộc.
Đối với môn lịch sử, dường như khâu quan trọng này thường bị giáo viên
và học sinh bỏ quên hoặc có nhớ thì cũng là sự dặn dò chung chung ở cuối tiết học:
các em về nhà học bài cũ, đọc bài mới và trả lời câu hỏi cuối bài… Còn học sinh
về nhà chẳng biết làm gì ngoài đọc lại vở ghi hoặc tốt hơn là so sánh giữa vở ghi
với sách giáo khoa và học thuộc một số sự kiện nào đó. Một nhiệm vụ học tập
chung chung không rõ ràng, học sinh không biết về nhà phải hoàn thành những
công việc gì như vậy sẽ không thúc đẩy việc tự học của học sinh. Vì vậy, việc ra
Ví dụ 2: Khi dạy bài 31: “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII?”( lịch sử 10,
cơ bản), để hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi sau: “ Lập niên biểu diễn biến cách
mạng qua các giai đoạn. Tại sao nói thời kì chuyên chính Giacôbanh là thời kì
đỉnh cao của cách mạng tư sản Pháp?”, tôi hướng dẫn học sinh như sau:
● Lập niên biểu theo mẫu:
Các giai đoạn Những sự kiện quan trọng
Giai đoạn 1(14-7-1789 đến 10-8-1792)
Giai đoạn 2(10-8-1792 đến 2-6-1793)
Giai đoạn 3(2-6-1793 đến 27-7-1794)
Giai đoạn4 (27-7-1794 đến 11-1799)
● Tại sao? Tôi gợi ý học sinh trả lời các câu hỏi nhỏ sau:
- Phái Gia-cô-banh lên nắm chính quyền trong bối cảnh đất nước như thế nào?
- Phái Gia-cô-banh đã đưa ra những biện pháp gì để đưa đất nước thoát khỏi
hiểm nghèo?
- Những biện pháp trên có ý nghĩa như thế nào?
- Kết quả cuả các biện pháp mà phái Giacôbanh ban hành là gì?
Ví dụ 3: Đối với dạng bài tập vận dụng như:“So sánh bộ máy nhà nước thời Lê sơ
với bộ máy nhà nước thời Đinh, Tiền Lê?” ( bài 17: quá trình hình thành và phát
16
triển của nhà nước phong kiến( từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XV), lịch sử 10, cơ bản),
tôi hướng dẫn học sinh như sau:
Tiêu chí so sánh Nhà Đinh- tiền Lê Nhà Lê Sơ
Tổ chức bộ máy nhà nước
Chính quyền địa phương
Nhận xét: Bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế nhà Lê sơ đã đạt tới mức độ
phát triển như thế nào?
b) Đối với bài tập trong vở bài tập lịch sử, tôi thực hiện các bước như sau:
+ Đối với dạng bài tập trắc nghiệm( chủ yếu là câu hỏi nhằm kiểm tra kiến
thức cơ bản của học sinh), tôi dặn học sinh về nhà tự làm.
+ Đối với bài tập tự luận mà trong sách giáo khoa không có, tôi sẽ gợi ý để
nền độc lập còn Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước
thuộc địa nửa phong kiến?”
Kinh nghiệm đã chỉ ra cho tôi thấy rằng để hướng dẫn học sinh sử dụng sách
giáo khoa làm bài tập có hiệu quả thì giáo viên phải tích cực kiểm tra, đánh giá.
Song song với việc kiểm tra miệng trên lớp kèm theo kiểm tra vở bài tập,thì giáo
viên phải thường xuyên thu vở bài tập của học sinh để kiểm tra và chấm. Có như
vậy thì việc học tập mới đạt kết quả cao.
C. KẾT LUẬN
I. Kết quả đạt được.
Sau một năm nghiên cứu và áp dụng: “ Kĩ năng hướng dẫn học sinh sử dụng
sách giáo khoa để phát huy tính tích cực, chủ động trong dạy học lịch sử ở trường
THPT Mường Lát ", dù chưa thật đồng đều ở các khối lớp, các đối tượng học sinh
song tôi đã bước đầu thu được những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể như sau:
1. Học sinh các lớp tôi dạy đều hưởng ứng và có ý thức học môn lịch sử hơn.
2. Với phương pháp này học sinh có sự chuẩn bị bài tốt hơn, từ đó tiếp cận môn
học dễ dàng hơn. Giờ học ở trên lớp các em sôi nổi xây dựng bài, về nhà không còn
lúng túng với cách học và cách làm bài tập. Ngoài vở ghi, vở bài tập, các em còn có
vở chuẩn bị bài mới. Đây chính là điều mà tôi mong muốn hơn cả.
3. Ngoài việc nắm vững kiến thức cơ bản, học sinh còn có nhiều cơ hội tiếp cận với
các dạng bài tập khác nhau, ở những mức độ khác nhau, từ đó rèn luyện khả năng
giải quyết vấn đề và khả năng viết bài đối với môn lịch sử.
4. Với việc hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo lịch sử, khả năng đọc của học
sinh được nâng lên, góp phần cùng với các môn xã hội rèn luyện khả năng đọc cho
học sinh.
5. Cũng từ việc hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa lịch sử mà trong các
bài kiểm tra thường xuyên và định kì, tôi nhận thấy chất lượng tăng lên đáng kể.
18
Cụ thể năm học qua (2012-2013) như sau:
Lớp HK Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu Kém
10B 1 44 5 15 23 1 0
khích học sinh học tập.
III. Kiến nghị đề xuất:
19
1. Các giáo viên bộ môn cần phải phối hợp với giáo viên chủ nhiệm đôn đốc nhắc
nhở học sinh học tập.
2. Vì điều kiện kinh tế của đại đa phần học sinh trường THPT Mường Lát còn
nhiều khó khăn nên việc có đầy đủ một bộ sách giáo khoa đến trường là cả niềm
vui lớn của các em. Mặc dù trong những năm qua, nhà trường đã có rất nhiều cố
gắng để giải quyết vấn đề này ( như cho học sinh mượn miễn phí sách giáo khoa),
nhưng vẫn còn nhiều học sinh chưa có.Mặt khác, đối với học sinh khối 12, khi các
em đang cần tài liệu ôn thi tốt nghiệp và đại học mà lại phải trả sách cho nhà
trường thì sẽ rất khó khăn trong vấn đề ôn tập của học sinh. Vì thế qua đề tài này,
tôi rất mong BGH nhà trường cùng các ban ngành có biện pháp tạo điều kiện tốt
nhất cho “ sự học” của học sinh huyện Mường Lát nói chung, của trường THPT
Mường Lát nói riêng.
3. Hầu hết các bài học lịch sử trong chương trình sách giáo khoa THPT còn dài,
lượng kiến thức cho mỗi tiết học nhiều vì thế trong nhiều bài học để đảm bảo đủ
lượng kiến thức cung cấp cho học sinh thì cả giáo viên và học sinh đều phải “gắng
sức”.Vì thế, tôi mong trong những năm tới đây, bộ Giáo dục và Đào tạo, sở Giáo
dục và Đào tạo Thanh Hoá có hướng mới trong việc giải quyết khó khăn này.
IV. Lời cảm ơn
Đề tài này đã được nghiên cứu rất công phu song không tránh khỏi những
hạn chế . Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, Hội đồng
khoa học nhà trường để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban giám hiệu nhà trường, tổ Văn-Sử-GDCD và
các bạn đồng nghiệp, các em học sinh khối lớp 10, 11 năm qua đã luôn quan tâm,
nhiệt tình hưởng ứng và giúp tôi thực hiện đề tài này.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 04 năm 2013