sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử thế giới lớp 7 - trung học cơ sở - Pdf 14

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO LẠNG GIANG
*@*

ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI LỚP 7 - TRUNG HỌC CƠ SỞ.
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN HÀO
Đơn vị: TRƯỜNG THCS ĐẠI LÂM
Bắc Giang, tháng 5 năm 2008
1
MỤC LỤC Trang
PHẦN A – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4
I . Lí do chọn đề tài. 4
II .Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
III.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
1.Mục đích nghiên cứu. 6
2.Nhiệm vụ nghiên cứu 6
IV.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
1.Đối tượng nghiên cứu 6
2.Phạm vi nghiên cứu 6
V.Phương pháp nghiên cứu 7
PHẦN B: NỘI DUNG 8
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN DẠY HỌC, DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH
TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH VÀ THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY.
I.Một số vấn đề lí luận dạy học 8
1.Khái niệm về quá trình dạy học 8
2.Bản chất của quá trình dạy học 8
II. Thực trạng quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay. 11
III. Tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập 14

gần đây và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lí giáo
dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp . Tất cả đều khẳng định phải đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh.
Nghị quyết TW VIII đã khẳng định: phải đổi mới phương pháp dạy học, khắc
phục lối dạy một chiều từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện
hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự nghiên cứu
cho học sinh, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên, suốt đời
của học sinh.
Trong luật giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam cũng đã qui định: Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động của học
sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp , từng môn học, bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện, vận dung kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm đem lại
niềm vui, hứng thú trong học tập cho học sinh.
Thực tiễn quan điểm đổi mới giáo dục nói trên, trong các nhà trường phổ
thông đã giấy lên một phong trào thi đua đổi mới phương pháp dạy học đã diễn ra ,
kết quả đã có nhiều giờ dạy tốt, tiết học tốt đã góp phần nâng cao hiệu quả bài học.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để phát huy nâng cao hiệu
quả bài học lịch sử, phát huy tính tích cực học tập của học sinh, đó là một trong
những vấn đề đòi hỏi các nhà giáo dục hiện nay cần thực hiện để đạt hiệu quả cao.
Vấn đề đặt ra là sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh trong dạy học lịch sử góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử.
Tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc thực hiện
vấn đề này. Có người còn ngại sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa vì nó mất
thời gian, có người coi kênh hình trong sách giáo khoa là chỉ để minh hoạ, có
người lại quá coi trọng kênh hình trong sách giáo khoa xem nhẹ nội dung kiến
thức
3
Chính vì vậy mà để phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến
thức lịch sử của học sinh, phát huy tính tích cực học tập của học sinh thì kênh hình
trong sách giáo khoa có một ý nghĩa rất quan trọng trong giảng dạy lịch sử. Kênh

Đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích xây dựng các biện pháp sử dụng kênh
hình trong SGK theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
2.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận về quá trình dạy học, bản chất của quá trình dạy học,
kênh hình trong SGK.
- Nghiên cứu lý luận về phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong
dạy học lịch sử, bản chất của quá trình dạy học sử dụng kênh hình trong SGK.
- Tìm hiểu thực tiễn việc sử dụng kênh hình trong SGK trong dạy học lịch sử
hiện nay.
4
- Xác định các biện pháp sư phạm, sử dụng kênh hình trong SGK theo hướng
phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong sách giáo khoa lịch sử thế giới
lớp 7- THCS.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và rút ra kết luận .
IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1.Đối tượng nghiên cứu.
- Quá trình dạy học lịch sử ở THCS
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Kênh hình trong SGK lịch sử thế giới lớp 7 THCS.
- Xác định các phương pháp dạy học kết hợp việc sử dụng kênh hình trong
SGK lịch sử hế giới lớp 7 THCS.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Đọc tài liệu.
- Nghiên cứu lý luận
- Điều tra thực tiễn tình hình dạy học lịch sử hiện nay ở THCS.
- Thực nghiệm sư phạm và rút ra kết luận.
5
PHẦN B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN DẠY HỌC, DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH

quan, không ngừng tích luỹ, hệ thống hoá, khái quát hoá kinh nghiệm, những tri
thức và truyền đạt lại cho các thế hệ kế tiếp.
Trong xã hội diễn ra hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động dạy
học cho thế hệ trẻ trong đó hoạt động nhận thức của loài người đi trước theo con
đường vòng nhằm tìm tòi phát hiện những cái mới khách quan, còn hoạt động học
của học sinh cũng là quá trình nhận thức nhằm lĩnh hội những cái mới chủ quan
được diễn ra trong môi trường sư phạm, có sự hướng dẫn, có vai trò chủ đạo của
giáo viên.
6
- Khi xác định bản chất của quá trình dạy học cần xem xét mối quan hệ giữa
hoạt động dạy và hoạt động học. Dạy và học phản ánh tính hai mặt của quá trình
dạy học, chúng thống nhất biện chứng với nhau. Thầy đóng vai trò chủ đạo, trò
tích cực, tự giác, chủ động lĩnh hội tri thức kỹ năng và tự làm phong phú vốn hiểu
biết của mình.
b. Những đặc điểm cơ bản của quá trình dạy học hiện nay.
- Hoạt động học tập của học sinh được tích cực hoá trên cơ sở nội dung dạy
học ngày càng hiện đại hoá.
- Thực tiễn quá trình dạy học đang tồn tại một mẫu khá phổ biến, một bên là
nội dung dạy học không ngừng đổi mới theo hướng hiện đại hoá, nội dung thì quá
tải- mà thời gian học tập thì quá hạn, phương pháp, phương tiện dạy học lại lạc
hậu, lỗi thời
- Trong quá trình dạy học hiện nay, học sinh có vốn sống và năng lực nhận
thức phát triển cao hơn so với trẻ cùng độ tuổi.
Do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay , được sống trong môi trường
tri thức ngày càng phong phú học sinh thường xuyên được tiếp xúc với nhiều
nguồn thông tin rất đa dạng.
So với trẻ cùng độ tuổi ở các thế hệ trước, học sinh ngày nay có năng lực
nhận thức và vốn sống phát triển hơn, thông minh hơn, năng động hơn
Vì vậy hoạt động dạy học phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển năng lực và
phẩm chất trí tuệ, tạo nên sự biến đổi về chất trong hoạt động nhận thức.

thông đã không ngừng được củng cố và nâng cao .
Thực tế kết quả việc dạy và học môn lịch sử đã thể hiện rõ việc hoàn thành
nhiệm vụ của môn ở những điểm cơ bản sau.
Đã góp phần xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện đức
dục , trí dục, thể dục và mĩ dục. Đặc biệt với lợi thế bộ môn đã góp phần quan
trọng trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị và hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Bộ
môn lịch sử đã góp phần xứng đáng trong việc xây dựng những con người và thế
hệ tha thiết gắn bó với lý tưởng cao quý của Đảng. Đó là lớp người có đạo đức
trong sáng, có ý trí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đó là lớp người hiểu
rõ cội nguồn dân tộc, hiểu rõ công lao của tổ tiên , của các vị anh hùng , liệt sĩ đã
dũng cảm , thông minh sáng tạo xây dựng và bảo vệ tổ quốc qua các thời đại lịch
sử nên họ có đủ cơ sở để hiểu tại sao phải biết giữ gìn và phát huy các giá trị văn
hoá của dân tộc. Đó là lớp người có năng lực làm chủ tri thức khoa học, xứng đáng
là người kế thừa sự nghiệp cách mạng vinh quang của Đảng, của dân tộc.
Chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử không ngừng được nâng cao . Qua các
hội thi số giáo viên dạy giỏi các cấp ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng
nâng cao . Chất lượng bài làm của học sinh qua các kỳ thi tốt nghiệp THCS, THPT
và các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia ngày càng xuất hiện nhiều học sinh đạt điểm
khá, giỏi.
Do kết quả giáo dục về nhiều mặt của bộ môn, đã không ngừng củng cố và
nâng cao địa vị bộ môn . Môn lịch sử ngày càng chứng tỏ rằng nó không thể thiếu
được trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị , đạo đức, tác phong trong việc hình
thành nhân cách cho thế hệ trẻ. Yêu thích bộ môn lịch sử là xu hướng lành mạnh
đang thu hút ngày càng nhiều học sinh ở các trường phổ thông hiện nay.
Có được các thành tích trên là do các nguyên nhân cơ bản sau:
+ Được Đảng, nhà nước, các cấp quả lí giáo dục và nhân dân quan tâm ,
đánh giá cao vai trò tác dụng của bộ môn lịch sử , trong việc giáo dục toàn diện thế
hệ trẻ. Nghị quyết TW II của BCHTW khoá VIII đã chỉ rõ: " Coi trọng hơn nữa
các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng việt , lịch sử dân tộc, địa lí và
văn hoá Việt Nam.

các kỳ thi lịch sử quả là còn hạn chế rất nhiều .
Có tình trạng nêu trên là do các nguyện nhân sau đây:
* Nguyên nhân khách quan .
- Cấu trúc của chương trình nhiều chỗ còn chưa hợp lí . Nhiều bài còn quá
nặng kiến thức trong khi đó số tiết lại cắt giảm , nhất là chương trình lịch sử lớp 9 ,
một số bài còn quá dài ví dụ như các bài: 11; 27; 28; 29 do vậy trong quá trình
soạn giảng và học tập buộc giáo viên bù đầu vào nói sao cho đủ những kiến thức
trong SGK , chứ không có thời gian để phân tích, để hướng dẫn học sinh cách nhận
thức , còn học sinh chỉ lo học thuộc lòng số lượng kiến thức của một tiết học nên
cũng không còn thời gian để suy ngẫm để đưa ra câu hỏi tại sao? thế nào? để cảm
nhận lịch sử được nữa.
- Việc sử dụng kênh hình đôi khi còn chưa phù hợp . Có giáo viên còn ngại
sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa vì phần chưa hiểu rõ bản chất, nội dung
của kênh hình, phần còn sợ mất thời gian , một phần nghĩ không cần thiết mà chỉ
để minh hoạ , nên nó góp phần làm giảm chất lượng giảng dạy.
* Bên cạnh đó hệ thống kênh hình hiện nay không có màu vì vậy sẽ rất khó
khăn cho việc mô tả, kiểm tra nhận thức của học sinh.
9
- Cơ sở vật chất và thiết bị cho việc dạy học bộ môn còn thiếu rất nhiều , các
tài liệu tham khảo, tranh ảnh, tạp chí ở thư viện nhà trường về lịch sử hầu như rất ít
- Chưa tận dụng được các hình thức dạy học khác như tổ chức thăm quan di
tích lịch sử , di tích cách mạng , các hình thức ngoại khoá , hội thảo Do đó quá
trình dạy học trở nên đơn điệu không phát huy được hết vai trò và tác dụng của bộ
môn .
- Một số địa phương còn thiếu giáo viên bộ môn chính ban , một số trường còn
bố trí giáo viên bộ môn văn, địa sang dạy lịch sử. Hậu quả là việc dạy bộ môn
lịch sử bị xem thường , kết quả học tập còn bị hạn chế.
* Nguyên nhân chủ quan
- Khả năng chuyên môn nghiệp vụ của một số giáo viên bị sói mòn, một số
chưa có ý thức rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ .

Theo G.I.Sukina có thể nêu ra những dấu hiệu của tính tích cực học tập như
sau:
- Học sinh khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ
sung các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu
ra.
- Học sinh hay nêu thắc mắc , đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo
viên trình bày chưa rõ.
- Học sinh chủ động vận dung linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để
nhận thức các vấn đề mới.
- Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới
lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học.
Ngoài những biểu hiện nói trên mà giáo viên dễ nhận thấy còn có những biểu
hiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng , phớt lờ hay
ngạc nhiên , hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc
khi tìm ra lời giải thích hay cho một bài tập khó .
3. ý nghĩa của vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước ta chuyển từ chế độ tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần dưới sự quản lí của nhà nước.
Học sinh và cha mẹ học sinh đã dần thích ứng với quan niệm học để có công
ăn việc làm , chấp nhận làm việc trong cả khu vực kinh tế tập thể và tư nhân chứ
không chỉ tập chung vào khu vực nhà nước như trước kia.
Trên con đường thích ứng với cơ chế thị trường chắc chắn trong thanh niên
sẽ có những chuyển biến mạnh mẽ. Nếu như trước đây còn có tư tưởng ỉ lại ,
không cần học giỏi , học tốt miễn là có công ăn việc làm thu nhập cao là được, thì
hiện nay học sinh, thanh niên sẽ phải chuyển biến mạnh mẽ về động cơ, mục đích
học tập, thái độ học tập của mình. Thay cho mục đích trước kia là học để trở thành
cán bộ nhà nước , có việc làm ổn định suốt đời sẽ là học để chuẩn bị cho cuộc sống
có việc làm ngày càng tốt hơn . Thay cho tâm lí ỉ lại sẽ là sự tháo vát tự xoay sở ,
sự năng động tự tạo việc làm. Cùng với những điều chỉnh trong xã hội về sử dụng

cạnh đó, một số bài viết trong sách giáo khoa còn có nhiều nội dung để ngỏ, chưa
viết hết, yêu cầu học sinh thông qua làm việc với tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ…. Sẽ
tìm tòi, khám phá những kiến thức cần thiết liên quan đến nội dung bài học mà tác
giả sách giáo khoa muốn chuyển tải đến học sinh.
Kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử gồm nhiều loại : bản đồ, sơ đồ, hình
vẽ, tranh ảnh lịch sử. Mỗi loại có một phương pháp sử dụng riêng. Song tựu trung
lại, có thể sử dụng trong bài kiến thức mới , củng cố kiến thức đã học, ra bài tập về
nhà và trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Riêng đối với hình vẽ,
tranh ảnh lịch sử lại có hai dạng: dùng để minh hoạ cho kênh chữ hoặc với tư cách
là nguồn cung cấp thông tin, kiến thức cho người học.
Do đặc điểm của học tập lịch sử là không trực tiếp quan sát các sự kiện nên vì
vậy đồ dùng trực quan nói chung và kênh hình trong sách giáo khoa nói riêng có
vai trò ý nghĩa rất quan trọng.
12
Trong dạy học lịch sử, phương pháp sử dụng kênh hình góp phần quan trọng
tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục được tình trạng”
hiện đại hoá” lịch sử của học sinh .
Kênh hình là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, hình thành
khái niệm lịch sử, nắm vững của sự phát triển của xã hội .
Kênh hình trong sách giáo khoa còn có vai tro to lớn trong việc giúp học sinh
nhớ kỹ , hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại
đặc biệt vững trắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng
trực quan.
Cùng với góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm, kênh hình còn
góp phần vào việc phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ
của học sinh.
Nhìn vào kênh hình học sinh sẽ hình dung ra được quá khứ lịch sử được phản
ánh, minh hoạ như thế nào . Học sinh suy nghĩ và tìm cách diễn đạt bằng lời nói
chính xác có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua.
Kênh hình còn góp phần to lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, cảm

quang cảnh lịch sử nhằm tạo biểu tượng, khôi phục lại hình ảnh con người, đồ vật,
biến cố, sự kiện một cách cụ thể, sinh động và khá sát thực .
3. Phương pháp sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử nhàm phát
huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THCS.
* Phương pháp sử dụng bản đồ, sơ đồ lịch sử.
Bản đồ, sơ đồ lịch sử là những kênh hình không thể thiếu được trong dạy
học lịch sử. Nhờ có bản đồ, sơ đồ mà học sinh có biểu tượng đúng đắn về hình ảnh
địa lí, địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử. Vì vậy khi giảng bài, giáo viên có thể không
trình bày tất cả nội dung trong sách giáo khoa mà lên hướng dẫn học sinh nhận biết
các sự kiện qua việc quan sát bản đồ. Giáo viên có thể đặt ra câu hỏi cho học sinh,
những câu hỏi mà chỉ có thể đọc được bản đồ mới trả lời được.
Như vậy bản đồ, sơ đồ giúp học sinh có lựa chọn đúng đắn về không gian,
hoàn cảnh địa lí xẩy ra sự kiện, ghi nhớ địa danh gắn liền với những đặc điểm điều
kiện tự nhiên, cụ thể hoá sự kiện lịch sử. Bản đồ còn góp phần phát triển óc quan
sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ cũng như tính tích cực hoạt động của học
sinh. Nhìn vào bất cứ bản đồ lịch sử nào học sinh cũng thích nhận xét, phán đoán,
hình dung những hiện tượng lịch sử được phản ánh , suy nghĩ và diễn đạt bằng lời
nói chính xác, rõ ràng, cụ thể những hiện tượng lịch sử đã qua.
*Phương pháp sử dụng tranh ảnh, hình vẽ lịch sử.
Tranh ảnh, hình vẽ lịch sử có ý nghĩa to lớn là nguồn kiến thức lịch sử, có
tính giáo dục tính cách, phát triển tư duy học sinh. Sử dụng tốt loại kênh hình này
sẽ phát huy được tính tích cực học tập của học sinh tạo ra sự hứng thú trong quá
trình nhận thức. Vì vậy khi sử dụng kênh hình tranh ảnh, hình vẽ giáo viên cho học
sinh quan sát tranh ảnh, hình vẽ tương ứng với nội dung kiến thức có liên quan và
đồng thời nên sử dụng câu hỏi miêu tả hoặc tường thuật kiến thức lịch sử biểu hiện
trong đó. Tuy nhiên cũng cần dành thời gian để học sinh quan sát tranh ảnh, hình
vẽ và động viên các em nói lên những suy nghĩ, nhận thức của mình , qua quan sát
tranh ảnh qua đó giáo viên uốn nắn, hướng dẫn học sinh nhận thức. Trong những
điều kiện có thể gợi ý, tạo ra các cuộc thảo luận, tranh luận của các em khi quan
sát một bức tranh hay hình vẽ nào đó.

Đã không ít giáo viên chưa hiểu rõ xuất sứ, nội dung , ý nghĩa của kênh hình
trong sách giáo khoa nên chưa vận dụng đúng đắn vầo trong bài giảng, hiệu quả
bài giảng chưa cao.
Nhiều giáo viên nhận thức đầy đủ giá trị ý nghĩa của kênh hình nhưng lại
ngại sử dụng, sợ mất thời gian hoặc sử dụng mang tính hình thức, minh hoạ cho
bài giảng.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI LỚP 7 THCS.
- Phần lịch sử thế giới lớp 7 THCS bao gồm 7 bài, được phân phối làm 10 tiết
trong đó có 1 tiết làm bài tập.
Nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới lớp 7 là giúp các em nắm được
những nét rất khái quát về lịch sử thế giới trung đại
+ Ở bài 1 : học sinh nắm được sự tan dã của xã hội chiếm hữu nô lệ và sự
hình thành xã hội phong kiến ở Châu Âu . Là quy luật tất yếu của xã hội và bên
cạnh đó là những nét về sự phát triển của xã hội phong kiến với đặc điểm nổi bật
về xã hội phong kiến ở Châu Âu.
+ Ở bài 2: Học sinh nắm được cùng với sự phát triển của nền kinh tế Châu âu
thời phong kiến nó đã xuất hiện mầm mống của nền kinh tế tư bản và nhu cầu về
thị trường, nguyên liệu cho nền sản xuất của Châu âu.
+ Ở bài 3: các em nắm được với sự ra đời của phương thức TBCN nó đã dẫn
tới cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại chế độ phong kiến đã kìm hãm sự
phát triển của họ.
15
+ Ở bài 4: Học sinh nắm được những nét rất khái quát về sự ra đời , phát triển
của xã hội phong kiến ở Trung quốc và những thành tựu văn hoá, khoa học kỹ
thuật của người Trung quốc thời trung đại và ảnh hưởng của văn hoá Trung quốc
đối với thế giới và khu vực.
+ Bài 5: Học sinh nắm được những nét khái quát về lịch sử phong kiến ấn độ
và nền văn hoá của nhân dân Ấn độ cũng như ảnh hưởng của văn há Ấn độ đối với
thế giới và khu vực.
+ Bài 6: Học sinh nắm được những nét khái quát về sự ra đời, phát triển của

xa như “ tổ chim diều hâu trên đỉnh núi” . Tất cả các lâu đài có hào sâu và nhiều
lớp thành đá dày, cao bao bọc. Muốn vào lâu đài phải qua cầu bằng gỗ trên treo
dây xích gang nặng trịch, bắc qua hào sâu, vì vậy nên người ta gọi đó là “ pháo đài
bất khả xâm phạm “.
16
Trong lâu đài có phòng ở của lãnh chúa và gia đình, phòng tiếp khách và
phòng ở của người tuỳ tùng. Lãnh chũa được coi là những ông vua con, không bao
giừo phải lao động. Công việc chính của họ là luyện tập cung tên, luyện kiếm, cưỡi
ngựa đi săn và tổ chức yến tiệc thâu đêm, nói chung là họ sống rất sa hoa, phần
nhiều trong số họ không biết chữ.
-Sau khi miêu tả xong GV đặt câu hỏi: em có nhận xét gì về đời sống của lãnh
chúa và nông nô trong lãnh địa? Từ đó học sinh có đựoc biểu tượng cụ thể sinh
động về hai bức tranh sinh động đối lập của hai giai cấp trong xã hội phong kiến
Châu Âu . Từ đó hình thành hai khái niệm” lãnh chúa phong kiến “ và “ lãnh địa
phong kiến “
+ Hình 2: Hội chợ ở Đức
1. Mục đích sử dụng:
Đây là bức tranh vẽ, bức tranh này dùng để dạy ở mục 3- Sự xuất hiện các
thành thị trung đại ở bài 1.
2. Phương pháp sử dụng:
GV yêu cầu học sinh quan sát bức tranh và đặt các câu hỏi sau:
+ Nhìn vào bức tranh, em thấy quang cảnh họp chợ như thế nào?
+ Số lượng người tham gia hội chợ ?
+ Các mặt hàng trao đổi gồm những gì?
Sau đó giáo viên miêu tả khái quát có phân tích theo nội dung sau:
Vào cuối thế kỷ XI trong lòng xã hội phong kiến Châu Âu, thành thị đã bắt
đầu xuất hiện. Thành thị xuất hiện là dấu hiệu của văn minh, là sự đối lập với sự
phát triển của xã hội Châu Âu và góp phần phá vỡ nền kinh tế đóng kín.
Khác với các thành phố phương Tây ngày nay, các thành thị Châu Âu thời
trung đại đều được xây thành bao quanh, trên có lỗ châu mai, chòi canh và ô cửa

đóng được những con tàu dài và đẹp hơn kiểu tàu Địa Trung Hải trước đây, thích
hợp với những sóng gió của đại dương lớn. Được gọi là tàu Caraven tàu vượt đại
dương đầu tiên trong lịch sử nhân loại, được người Bồ Đào Nha chế tạo vào năm
1640.
Đây là loại tàu có bánh lái, được lắp ba cột buồm lớn. Cánh buồm của tàu
hình vuông hoặc hình tam giác màu trắng. Trên boong tàu thường đặt những khẩu
đại bác có lòng chia rẽ để thuỷ thủ trên tàu sử dụng khi có cướp biển. Phía đuôi tàu
được được trang bị một trục giữ bánh lái, có thể quay quanh các bản nề, thay thế
cho bánh lái mái chèo cổ xưa từ thế kỷ XII , do nhẹ và dễ điều khiển , loại tàu này
có thể lướt nhanh khi có những luồng gió ngược. Trên tàu có la bàn định hướng,
đồng hồ cát bằng thuỷ tinh được chế tạo ở Vơnidơ để đo thời gian và ước lượng
kinh độ.
Việc chế tạo ra tàu đi biển đã đưa Bồ Đào Nha trở thành quốc gia đi tiên
phong trong việc phám phá những miền đất lạ trên thế giới khiến cho nhân loại
không khỏi kinh ngạc và khẳng định khả năng chinh phục đại dương và các miền
đất lạ của con người.
Cuối cùng giáo viên đặt câu hỏi để hoc sinh nhận xét :
Theo em, sự ra đời của tàu Caraven nói lên kỹ thuật của người Châu Âu như
thế nào? Nó có vai trò gì đối với việc khám phá ra các vùng đất mới?
Hình 4: C.Cô-lôm-bô
1. Mục đích sử dụng:
Đây là bức ảnh chụp chân dung của nhà thám hiểm nổi tiếng thế kỷ XV- Cri-Xtốp-
Cô-Lôm-bô.
bức ảnh này dùng để dạy trong mục 1 bài 2- những cuộc phát kiến lớn về địa lí.
2. Phương pháp sử dụng:
18
Khi dạy đến mục này, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát bức ảnh, chú ý về
trang phục, khuôn mặt, đôi mắt,…của nhân vật và đặt câu hỏi gợi mở.
Nhìn diện mạo Côlôm bô chúng ta có thể rút ra nhận xét gì về con người
ông.?

quan tâm.
Cuối cùng sau khi miêu tả , Gv đặt câu hỏi : Vậy Côlômbô có vai trò gì trong
cuộc phát kiến địa lí.?
Hình 5: Những cuộc phát kiến địa lí:
1.Mục đích sử dụng
19
Luợc đồ này thể hiện những cuộc phát kiến địa lí của những nhà thám hiểm
nổi tiếng Châu Âu cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. GV dùng lược đồ này để dạy
mục 1 những cuộc phát kiến lớn về địa lí trong bài 2.
2.Phương pháp sử dụng
Trước tiên giáo viên yêu cầu học sinh quan sát lược đồ giúp học sinh phân biệt
được những loại mũi tên chỉ từng cuộc hành trình của các nhà thám hiểm, điểm
xuất phát đầu tiên của từng cuộc thám hiểm, những điểm dừng chân trong cuộc
hành trình.
Sau đó giáo viên vừa chỉ lược đồ vừa giới thiệu và mô tả các cuộc phát kiến
địa lí , và kèm theo một số câu hỏi phụ trong quá trình chỉ lược đồ để lôi cuốn học
sinh chăm chú lắng nghe và lĩnh hội kiến thức.
Giáo viên miêu tả lược đồ theo nội dung sau:
Nhìn vào lược đồ, các cuộc phát kiến địa lí đều xuất phát từ hai quốc gia : Bồ
Đào Nha và Tây Ban Nha . Sở dĩ vì hai cuốc gia này đều có những hạm thuyền vào
loại mạnh nhất Châu Âu, lúc bấy giờ và có nhiều thuỷ thủ gan dạ , thông minh.
Từ đầu thế kỷ XV Ngưòi Bồ Đào Nha đã đem hết sức lực ra khám phá vùng
biển ven Châu Phi.
Hoàng tử Hen ri đã hai lần dẫn đoàn thám hiểm . Lần 1 năm 1445 đã đi ven
bờ biển phía tây châu phi , tiến được xuống phía nam và tới mũi xanh.
Lần 2 năm 1472 tới được vịnh Ghi nê.
8/1486 Đia xơ đã tiến hành thám hiểm vùng biển nam Châu Phi, nhưng bị bão
thổi bật xuống , phía Nam Châu Phi nhờ vậy ông đã phát hiện ra mũi Hảo Vọng.
7/1497 khi tròn 28 tuổi Vaxco đờ Gama đã tổ chức một đoàn thám hiểm gồm
4 tàu Caraven và 168 thuỷ thủ rời cảng Lixbon tiến xuống phía nam Châu Phi , khi

chỉ huy đoàn thám hiểm, chỉ còn 2 tàu với 113 thuỷ thủ.
1522 đoàn thám hiểm tiến về phía nam và tới Brunây ngày nay, vòng qua nam
Inđônêxia , vào Ấn Độ Dương, vượt qua mũi hảo vọng men theo biển phía Tây
Châu Phi. 8/9/1522 đoàn thám hiểm về tới cảng Xanlucác và chỉ còn 18 thuỷ thủ
với một tàu chở đầy hương liệu của phương Đông quý giá.
Như vậy cuộc hành trình vòng quanh trái đất lần đầu tiên được hoàn thành đã
làm rạng rỡ tên tuổi nhà thám hiểm Magienlăng và ông đã chứng minh được quả
đất là hình tròn. Magienlãng đã tặng cho nhân loại sự khám phá mới và chiến công
của ông vượt lên tất cả mọi chiến công. Ông đã biến những gì mà hàng trăm thế hệ
trước chỉ coi là giấc mơ thì nay đã trở thành hiện thực.
Cuối cùng sau khi miêu tả, Gv đặt câu hỏi: các cuộc phát kiến địa lí đã có tác
động như thế nào đến nền kinh tế và xã hội ở Châu Âu?
Hình 6: Mađôna bên cửa sổ( tranh của Lê-ô-na đơ vanh -xi)
1 . Mục đích sử dụng :
Bức tranh này để dạy mục 1 - bài 3 : Phong trào văn hóa Phục hưng thế kỷ
XIV - XVII
2 . Phương pháp sử dụng:
Khi dạy mục này GV hướng dẫn học sinh quan sát toàn bộ bức tranh , gợi ý
cho các em quan sát về chủ đề , cách phối màu , những nét vẽ , quang cảnh trong
tranh
Sau đó GV giới thiệu về cuộc đời sự nghiệp của Lêônađờvanhxi và phân tích
những nết đặc sắc trong bức tranh theo nội dung sau:
Lêonađờvanhxi (1452- 1519 ) mọi từ điển bách khoa, danh nhân, lịch sử thế
giới, lịch sử mĩ thuật khi nói đến Lêôna đờ vanh xi đều bắt đầu bằng câu khẳng
định , ông là : “ một trong những người vĩ đại, ông là linh hồn của thời kì phục
21
hưng, một nghệ sĩ toàn diện, lỗi lạc, một nhà bác học và phát minh được xem là
khuôn mặt đặc sắc nhất của thời đại”.
Lê ô na đờvanh xi sinh ở thành phố Vanh xi gần Phiđen xê(Italia) xuất thân
trong 1 gia đình trung lưu và đã có sự say mê hội họa ngay từ nhỏ. Tranh của ông

Giáo viên cho học sinh quan sát bức tranh , sau đó Gv tiến hành miêu tả khái
quát có phân tích nhằm làm nổi bật hình tượng về nhân vật với những nét chung
nhất , khái quát nhất theo nội dung sau:
Mactinluthơ sinh năm 1843 trong một gia đình chủ mỏ ở Đức , lớn lên theo
học ngành luật và tốt nghiệp trường Đại học Écphuốc , sau đó học tại học viện thần
học.
Năm 1558 Ông trở thành giáo sự thần học trường Vitenbéc cùng thời gian này
, những tư tưởng nhân văn và phê phán nhà thơ thiên chúa giáo đã ảnh hưởng
22
mạnh mẽ đến Luthơ, Ông cũng nhận thấy những cổ hủ , lạc hậu của nhà thờ và
quyết tâm thực hiện cải cách , thay đổi lễ giáo ấy để cho nó có tính nhân văn
hơn.Từ một người hưởng ứng và ủng hộ thiên chúa giáo , dần dần trở thành người
đề sướng và cải cách tôn giáo ở Đức .
Trong ảnh là chân dung Luthơ hiện lênvới khuôn mặt đầy đặn , sống mũi to,
thẳng, đôi mắt đen sáng. Ông mặc trang phục của một tu sĩ với chiếc áo choàng
đen và đầu đội chiếc mũ đen cùng nhau.
Trong thời trung đại ở Châu Âu, giáo hội thiên thiên chúa là hệ tư tưởng ,
công cụ thống trị của chế độ phong kiến đã chi phối toàn bộ đời sống xã hội, chiếm
đoạt 1/3 ruộng đất trên toàn lãnh thổ Châu Âu . Cuối thời trung đại , giáo hội ngày
càng thối nát phản động. Do đó phong trào cải cách đã diễn ra.
Năm 1517 Luthơ viết bản luận văn 95 điều dán trước cửa nhà thờ Vittenbéc
kịch liệt phản đối sự thống trị thối nát và tham nhũng của giáo hoàng , chủ trương
xây dựng một giáo hội trong sạch.
Bản cáo thị được quần chúng rất hoan nghênh . Năm 1520 giáo hoàng ra sắc
lệnh khai trừ Ông ra khỏi giáo hội.
Những tư tưởng cải cách của Luthơ đã nhanh chóng lan rộng sang nước Anh,
Pháp, Thụy sĩ … có tác dụng cổ vũ cho các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ
ra năm 1518 đến năm 1523 . Khi đó giáo phái ủng hộ Ông được gọi là “Tân giáo”.
Mặc dù còn nhiều hạn chế , song những đóng góp của Luthơ đối với phong
trào cải cách tôn giáo thời hậu kỳ trung đại thật to lớn. Nó được coi là “Phát đại

Nhìn vào các bức tượng ta thấy nghệ thuật điêu khắc đạt đến trình độ tinh sảo.
Đó là sự kết hợp giữa đúc khuôn và lặn bằng tay.
Các nhà nghiên cứu thấy rằng có hơn 100 sắc thái riêng biệt trên các khuôn
mặt của các bức tượng , biểu hiện những tính cách đa dạng phong phú của họ .
Thân tượng cao 1,9m để hoàn thành những pho tượng này Tần Thủy Hoàng đã huy
động hàng vạn thợ điêu khắc từ khắp nơi về làm . Khi công việc hoàn tất , Tần
Thủy Hoàng tiến hành chôn sống họ để khỏi lộ bí mật.
Tất cả những nhân vật trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng xứng đáng được coi là
“Một viện bảo tàng dưới lòng đất về lịch sử quân sự và văn hóa nghệ thuật thời
Tần”.
Sau khi miêu tả xong GV đặt câu hỏi cho học sinh trao đổi : nhận xét gì về
nghệ thuật tạo hình dưới thời Tần ? Qua đó em thấy lực lượng quân sự thời
Tần như thế nào ?
Hình 9 : Cố cung (Trung Quốc )
1 . Mục đích sử dụng
Bức ảnh này dùng để dạy ở mục 6 - bài 4 : Văn hóa , khoa học - kỹ thuật
Trung Quốc thời phong kiến.
2 . Phương pháp sử dụng
GV hướng dẫn học sinh quan sát ảnh và nêu câu hỏi để học sinh quan sát :
+ Nhận xét gì về tổng thể của cố cung?
+ Các cung điện ở đây được xây dựng có hình dáng như thế nào?
Sau đó GV miêu tả bức ảnh theo nội dung sau:
Cố cung được xây dựng vào năm 1406 (nằm ở trung tâm thủ đô Bắc Kinh”
dưới triều đại nhà Minh và được xây dựng vào năm 1420. Từ khi cố cung hoàn
thành đã có 24 vị hoàng đế lên ngôi chấp chính ở đây, trong đó triều Minh là 14,
nhà Thanh là 10.
Cố cung là một khu quần thể kiến trúc lớn có quy mô và giá trị nghệ thuật
cao. Được xây dựng trên một khuôn đất có diện tích 720 nghìn m
2
, xung quanh có

2. Phương pháp sử dụng.
GV hướng dẫn học sinh quan sát và nêu câu hỏi gợi ý:
+ Nhận xét gì về các chi tiết, hình dáng, văn hoá, màu sắc của chiếc liễn.
- Sau đó giáo viên miêu tả theo nội dung sau.
- Trung Quốc được coi là quốc gia có nền văn hoá lâu đời, phát triển rực rỡ.
Sản phẩm thủ công được xem, là có phong cách nghệ thuật độc đáo, mang đậm
chất trung hoa , tiêu biểu là sứ xanh, trắng thời Minh.
Đồ sứ xuất hiện đầu tiên vào thời Thương- Chu cách đây khoảng 3000năm,
đến thời Đông Hán thì bắt đầu phát triển. Đồ sứ phong phú có nhiều loại: mâm,
bình, lư hương, ấm trà, chén, liễn, màu sắc xanh-trắng là màu chủ đạo, truyền
thống trong lịch sử gốm Trung Hoa.
Nguyên liệu ban đầu là đất xét cao lanh, họ lấy ra các tạp chất để có được cao
lanh thuần tuý mà chế tạo ra màu trắng của gốm.
Sau khi dùng cao lanh tạo thành các “ Thai gốm, người ta phủ một lớp men
gốm ngoài, rồi đem lung, sản phẩm có nước men ngoài bóng sáng như pha lê và có
màu xanh mực rất đẹp gọi là sứ xanh.
Hoa văn nổi trên sản phẩm bao gồm những vòng tròn nhỏ xếp đều nhau, trông
như đồng tiền xu màu xanh ở vành ngoài miệng. Mặt ngoài được trang trí hình
rồng ẩn trong mây, thân rồng như một ngọn lửa bay lượn giữa sóng nước mây trời,
tượng trưng cho nguồn nước và mây mưa, hình rồng uy nghiêm, có vẩy to, chân
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status