Đặc điểm lễ hội truyền thống của người M’nông tỉnh Đăk Nông - Pdf 45

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin kính gửi đến cô Ths. Trần Thị Phương Thúy lời cảm
ơn trân thành và sâu sắc nhất. Cảm ơn cô đã nhiệt tình, chu đáo chỉ bảo, hướng
dẫn cho em trong suốt quá trình làm bài tiểu luận. Cô đã giúp đỡ em rất nhiều
khi em gặp những khó khăn và thắc mắc. Em cũng muốn kính gửi lời cảm ơn
đến các thầy cô giáo trong khoa Văn hóa Thông tin và Xã hội đã nhiệt tình giúp
đỡ cũng như tạo mọi điều kiện thuân lợi nhất cho chúng em trong suốt quá trình
học tập Đây là lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu về các dân tộc
thiểu số ít người ở Việt Nam, trong quá trình viết, do còn thiếu điều kiện và kiến
thức còn hạn chế, bài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những sai sót và khiếm
khuyết. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý
thầy cô để bài tiểu luận hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................1
MỤC LỤC............................................................................................................2
LỜI NÓI ĐẦU.....................................................................................................1
1.Tóm tắt nội dung...........................................................................................................................................1
2. Những kết quả của luận án.........................................................................................................................2

MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................................................................3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...........................................................................................................................3
3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.............................................................................................6
4. Đóng góp của luận án..................................................................................................................................7
5. Bố cục..........................................................................................................................................................7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI M’NÔNG..8
1.1. Cơ sở lý luận.............................................................................................................................................8

M’NÔNG............................................................................................................22
3.1. Các lễ hội truyền thống của người M’nông............................................................................................22
3.1.1. Lễ hội liên quan đến cuộc đời con người.............................................................................................22
3.1.1.1. Phân loại...........................................................................................................................................22
3.1.1.2. Một số nghi lễ vòng đời tiêu biểu của người M’nông......................................................................22


3.1.2. Lễ hội liên quan đến lao động sản xuất...............................................................................................23
3.1.2.1. Quan niệm........................................................................................................................................23
3.1.2.2. Biểu hiện...........................................................................................................................................23
3.1.3. Những lễ hội khác trong đời sống cộng đồng.....................................................................................24
3.2. Các yếu tố cấu thành lễ hội....................................................................................................................25
3.2.1. Các yếu tố cốt lõi.................................................................................................................................25
3.2.2. Các yếu tố bổ trợ.................................................................................................................................25
3.3. Chức năng của tín ngưỡng và lễ hội trong đời sống văn hóa M’nông...................................................26
3.3.1. Mối quan hệ giữa tín ngưỡng và lễ hội...............................................................................................26
3.3.1.1.Tín ngưỡng chi phối lễ hội.................................................................................................................26
3.3.1.2. Lễ hội phản ánh tín ngưỡng.............................................................................................................27
3.3.2. Chức năng tín ngưỡng và lễ hội của người M’nông............................................................................27

3.4. GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI CỦA
NGƯỜI M’NÔNG.............................................................................................28
3.4.1. Giá trị nhân sinh..................................................................................................................................28
3.4.2. Giá trị tâm linh.....................................................................................................................................28
3.4.3. Giá trị đạo đức....................................................................................................................................28
Tiểu kết chương 3..........................................................................................................................................29

CHƯƠNG 4 SỰ BIẾN ĐỔI TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI CỦA NGƯỜI
M’NÔNG Ở TỈNH ĐĂK NÔNG HIỆN NAY.................................................30
4.1. Những biến đổi cụ thể trong tín ngưỡng và lễ hội.................................................................................30

M’nông từ đặc điểm, cấu trúc, chức năng, giá trị văn hóa đến mối quan hệ giữa
tín ngưỡng và lễ hội xuyên suốt truyền thống đến hiện đại. Kết quả nghiên cứu
này sẽ là cơ sở để nhận diện, đánh giá, dự báo xu hướng phát triển tín ngưỡng, lễ
hội truyền thống của người M’nông. Từ đó, đưa ra định hướng và đề xuất một số
giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa trong tín ngưỡng, lễ hội của
người M’nông phù hợp xu thế thời đại mà vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa tộc
người. Thông qua bài tìm hiểu , tôi hi vọng sẽ đem lại cái nhìn hệ thống, chuyên
sâu về tín ngưỡng, lễ hội của người M’nông từ cách tiếp cận văn hóa học để có
thể có những đóng góp nhất định trên cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan về người M’nông ở Đăk Nông:
Phần cơ sở lý luận trình bày các khái niệm cơ bản cùng các lý thuyết tiếp cận
vấn đề. Phần tổng quan về người M’nông ở Đăk Nông đề cập một số vấn đề liên
quan đến nguồn gốc tộc người, địa bàn phân bố, đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã
hội. Chương này cũng đi vào khái quát đặc trưng một số địa bàn điền dã tiêu
biểu.
Chương 2. Đặc điểm tín ngưỡng truyền thống của người M’nông: Trình
bày cơ sở nhận diện và đặc trưng của ba loại hình tín ngưỡng hiện còn nhiều dấu
ấn trong đời sống văn hóa cư dân M’nông là tô tem, hồn linh và đa thần. Qua đó,
làm rõ nền tảng hình thành những đặc trưng tín ngưỡng của người M’nông ở
Đăk Nông.
Chương 3. Đặc điểm lễ hội truyền thống của người M’nông: Tập trung
làm rõ ba hệ thống nghi lễ lễ hội tiêu biểu của người M’nông (vòng đời, vòng
cây trồng, sinh hoạt cộng đồng). Các yếu tố cấu thành lễ hội, chức năng, mối
quan hệ, giá trị văn hóa của tín ngưỡng và lễ hội cũng được chú trọng nghiên
cứu trong chương này.
1


Chương 4. Sự biến đổi tín ngưỡng và lễ hội của người M’nông ở tỉnh Đăk
Nông hiện nay: Nội dung chương hướng đến các vấn đề cơ bản: Những biến đổi

ở Tây Nguyên Việt Nam. Người M’nông ở Đăk Nông còn lưu giữ nhiều giá trị
văn hóa truyền thống hình thành trên nền tảng kinh tế nương rẫy tự cung tự cấp,
trong đó có tín ngưỡng. Tín ngưỡng M’nông là thành tố quan trọng trong nghi
lễ, lễ hội của người dân nơi đây. Nghiên cứu văn hóa M’nông, nhất là văn hóa
tinh thần thực sự cần thiết giúp nhận diện, lý giải những giá trị văn hóa trong đời
sống tộc người. Đây là lý do đầu tiên thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài làm vấn đề
nghiên cứu.
Hiện nay, số lượng những công trình chuyên sâu tìm hiểu về tín ngưỡng,
lễ hội của người M’nông còn khá hạn chế. Điều đó kéo theo những hiểu biết
chưa thật sự sâu sắc, đầy đủ về thành tố quan trọng này trong đời sống văn hóa
tinh thần cư dân M’nông. Việc nghiên cứu một cách hệ thống từ góc nhìn văn
hóa học về tín ngưỡng, lễ hội của người M’nông sẽ đem lại ý nghĩa nhất định về
mặt khoa học.
Ngoài ra, theo thời gian, kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có nhiều đổi
thay. Người M’nông vì thế cũng đứng trước những thách thức đối với sự phát
triển cộng đồng. Rõ nét nhất là sự biến đổi văn hóa truyền thống, trong đó có tín
ngưỡng, sâu xa hơn là hệ thống lễ hội bởi mối quan hệ mật thiết giữa tín ngưỡng
và lễ hội. Trước thực tế đang diễn ra, việc nghiên cứu tín ngưỡng, lễ hội của
người M’nông nhằm bảo tồn và phát huy trong đời sống hiện nay là vấn đề có ý
nghĩa thực tiễn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước năm 1954, các công trình liên quan đến người M’nông chủ yếu là
của một số học giả người Pháp như H.Bernard, H. Maitre, A. Maurice … Điểm
chung nhất là các công trình nghiên cứu chỉ phác họa khái quát về người
M’nông trong bức tranh về các dân tộc thiểu số cao nguyên miền Trung Việt
Nam.
Sau năm 1954, có một số công trình đáng chú ý như Minority groups in
3



4


M’nông (Ngô Đức Thịnh chủ biên);Nghi lễ cổ truyền của người M’nông
(Trương Bi); Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ của người M’nông (Bu Nong) (Tô
Đông Hải); Nghi lễ và phong tục các tộc người ở Tây Nguyên (Ngô Đức Thịnh
tuyển chọn); Nghi lễ truyền thống của người Bu Nong (M’nông) (Tô Đông
Hải)....Nhìn chung, các công trình đóng góp đáng kể trong nhận diện, làm rõ các
hệ thống nghi lễ lễ hội thuộc vòng đời người (sinh đẻ, cưới hỏi, tang ma), hệ
thống nghi lễ lễ hội liên quan đến vòng sinh trưởng cây trồng (phát rẫy, canh tác,
thu hoạch), những nghi lễ lễ hội liên quan đến phong tục tập quán và sinh hoạt
cộng đồng của người M’nông.
Ngoài ra, còn nhiều bài báo in trong các tạp chí chuyên ngành như tạp chí
Dân tộc học, Khoa học xã hội, Văn hóa dân gian,… cũng cung cấp cái nhìn ở
các góc độ khác nhau đối với đời sống tinh thần từ trước đến nay của người
M’nông.
* Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Thông qua lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi rút ra một số nhận định
sau:
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu chung về người M’nông đã đem lại
cái nhìn tổng quan từ lịch sử, thành phần dân tộc, địa bàn cư trú đến đời sống
kinh tế, sinh hoạt văn hóa của cư dân M’nông.
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng và lễ hội
của người M’nông cung cấp cái nhìn chi tiết, có nhiều công trình liên quan trực
tiếp đến đề tài hơn khi đi sâu vào một số lĩnh vực quan trọng mà đề tài chú trọng
như nghi lễ vòng đời, nghi lễ vòng cây trồng…
Thứ ba, điểm luận nêu trên đều có ý nghĩa tham khảo quan trọng ở hai khía
cạnh lý luận và thực tiễn.
Thứ tư, nhìn tổng quát, dù rất đầu tư nghiên cứu nhưng góc độ tiếp cận và
quy mô, mục đích của các công trình khoa học khác nhau nên còn những

3. Tín ngưỡng và lễ hội có mối quan hệ mật thiết. Tín ngưỡng là một
trong những thành tố chính chi phối lễ hội, sinh hoạt lễ hội là nơi phản ánh tín
ngưỡng, nhờ đó đem lại đời sống tinh thần phong phú và tạo nên các giá trị văn
hóa đậm bản sắc của cộng đồng trong suốt tiến trình lịch sử.
4.Tín ngưỡng, lễ hội sẽ biến đổi theo xu thế phát triể xã hội. Các tác nhân
tạo nên sự biến đổi tín ngưỡng, lễ hội truyền thống là chính sách, kinh tế, văn
6


hóa xã hội, khoa học công nghệ.Sự biến đổi có thể theo xu hướng tích cực lẫn
tiêu cực.
5. Để bảo tồn, phát huy văn hóa tín ngưỡng và lễ hội của dân tộc M’nông,
cần chú ý tính hệ thống của các thành tố, tính khả thi của các giải pháp, tính
đồng bộ trong thực hiện theo ba hướng chủ đạo là tuyên truyền, chỉ đạo và thực
hiện.
4. Đóng góp của luận án
Về mặt lý luận: Luận án sử dụng ba lý thuyết nghiên cứu là lý thuyết chức
năng, lý thuyết cấu trúc và chủ nghĩa duy vật văn hóa. Việc vận dụng ba lý
thuyết trên giúp đem lại cái nhìn cụ thể, sâu sắc đối tượng nghiên cứu từ góc
nhìn văn hóa học. Đây là điểm mớiso với các công trình nghiên cứu về người
M’nông trước đó.
Với việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu điền dã, so sánh và hệ
thống cấu trúc, luận án tạo nên một góc nhìn hệ thống về vấn đề tín ngưỡng và
lễ hội từ truyền thống đến hiện đại của người M’nông ở.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu, cơ sở khoa học để
các các cấp thẩm quyền có thể tham khảo đưa ra chủ trương chính sách hợp lý
nhằm giải quyết vấn đề bảo tồn, phát triển văn hóa, đặc biệt là văn hóa M’nông và
các dân tộc bản địaTây Nguyên vốn rất nhạy cảm trong bối cảnh hiện nay.
5. Bố cục
Ngoài phần mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung

người nghiên cứu thường xuyên sử dụng thuật ngữ nghi lễ gọi chung lễ hội của
cư dân M’nông.
Truyền thống: Tôi chọn cách định nghĩa của Trần Văn Giàu để nghiên cứu
“Truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều
thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có
thể tiêu cực”.
Giá trị:Quan điểm “Giá trị là những quan niệm thầm kín hay bộc lộ về
các điều ao ước riêng của cá nhân hay của nhóm. Những quan niệm ấy chi phối
sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục tiêu của hành động”
[G.Endruweit và G.Trommsdorff] cơ bản đã chỉ ra được nội hàm của khái niệm
8


này.
Giá trị văn hóa: Tôi chọn định nghĩa “Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của
văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng,
tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định. Giá trị văn hóa hướng đến
thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp, từ đó
bồi đắp và nâng cao bản chất Người” [Ngô Đức Thịnh] làm nền tảng để tiếp cận
giá trị văn hóa tín ngưỡng, lễ hội của người M’nông ở Đăk Nông.
1.1.2. Lý thuyết tiếp cận vấn đề
- Chức năng luận (functionalism):Theo lý thuyết này, nền văn hóa nào cũng
được nghiên cứu dưới cái nhìn thực hiện các chức năng khác nhau của nó.
B. Malinowski đã cung cấp một khung thiết chế khả dụng trong nghiên
cứu văn hóa. Khung thiết chế của B. Malinowski sẽ giúp tiếp cận những yếu tố
cơ bản cấu thành chỉnh thể lễ hội M’nông. Từ đó, tìm ra chức năng của tín
ngưỡng, lễ hội trong đời sống văn hóa dân tộc M’nông.
Trọng tâm lý thuyết chức năng của R. Brown là mối liên hệ giữa cấu trúc
và chức năng của chủ thể nghiên cứu. Qua đó, tìm kiếm xem nó có đóng góp gì
vào việc duy trì liên kết xã hội.Với lý thuyết này, người nghiên cứu chỉ ra, lý

Nhìn chung, vẫn chưa có sự thống nhất về nguồn gốc tộc người M’nông.
1.2.2. Địa bàn phân bố
Hiện người M’nôngchiếm trên 9% dân số tỉnh Đăk Nông và chiếm gần
50% số người M’nông trên cả nước. Đăk Nông có 7 nhóm M’nông đang sinh
sống là Preh, Nong, Nâr, Prâng, Biăt, Gar, Đip cư trú rải rác ở nhiều địa bàn
trong tỉnh với quy mô khác nhau. Tuy nhiên, sự khác biệt về phương ngữ, phong
tục giữa các nhóm không rõ rệt, khó có thể nhận ra. Đa phần họ vẫn hiểu tiếng
nói của nhau và vẫn thống nhất trong văn hóa tộc người cũng như có ý thức tộc
người khá rõ nét.
1.2.3. Hoạt động kinh tế
Nền kinh tế truyền thống của người M’nông tự cung tự cấp, dựa hoàn toàn
vào thiên nhiên. Họ đốt rừng làm rẫy, làm ruộng khô là chủ yếu với hình thức
luân canh trên một khoảng rừng khá rộng đủ để đất phục hồi.Trước đây, cây
trồng chủ yếu của người M’nông là lúa. Ngoài ra, trên nương rẫy còn trồng
nhiều loại cây khác như ngô, đậu, cà, ớt, …để cải thiện bữa ăn hàng ngày.Bên
cạnh đó, người M’nông còn săn bắt, hái lượm hoa quả, rau rừng phục vụ cho
10


bữa ăn của gia đình.
Nghề thủ công từ trước đến nay vẫn chậm phát triển, gắn chặt với nông
nghiệp, các nghề thủ công chủ yếu là thủ công gia đình như đan lát, dệt thổ cẩm,
phục vụ nhu cầu bản thân do phụ nữ đảm nhiệm.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong sản xuất
người M’nông đã sử dụng một số máy móc, biết xen canh, gối vụ và phát triển
kinh tế hộ gia đình với việc trồng các loại cây có giá trị cao như hồ tiêu, cà
phê,điều…
1.2.4. Tổ chức xã hội
Cơ cấu gia đình M’nông là gia đình mẫu hệ. Đặc trưng tiêu biểu là tính
cộng đồng vừa về kinh tế, vừa về tâm linh, sở hữu. Người M’nông có tên, có họ

mối liên hệ giữa con người với nhiều thế lực vô hình và cách ứng xử của con
người với thế giới xung quanh cũng xuất phát từ cách họ nhìn nhận, lý giải cuộc
sống. Trong thế giới tinh thần của người M’nông, còn có những sự vật, con
người có những khả năng đặc biệt chi phối đời sống thực tiễn cũng như tinh thần
của cả cộng đồng như ma lai, bùa ngải, phù thủy...
Người M’nông cóphong tục tập quán và hệ thống lễ hội phong phú, giàu
bản sắc.Văn hóa nghệ thuật khá đa dạng với nhiều thể loại như thần thoại,
truyền thuyết, truyện cổ, sử thi, lời nói vần, dân ca, v.v... Ngoài ra, người
M’nông có nhiều loại nhạc cụ khác nhaulàm bằng đá, bằng tre, nứa, sừng trâu.
Nghệ thuật điêu khắc, tạo hìnhkhá đa dạng.
Nhìn chung, sự tồn tại và phát triển của cư dân M’nông thể hiện rõ sự thích
nghi của con người với môi trường tự nhiên, thể hiện quá trình vận động trong
chính cộng đồng để đảm bảo nhu cầu vật chất lẫn tinh thần một cách đa dạng.

12


Tiểu kết chương 1
Chương 1 đi sâu làm rõ những vấn đề có tính chất nền tảng giúp người
nghiên cứu tiếp cận và giải quyết các vấn đề liên quan đến luận án. Trước hết là
những khái niệm cơ bản như tín ngưỡng, nghi lễ, lễ hội, giá trị văn hóa…
Để tiếp cận vấn đề, ba lý thuyết nghiên cứu được sử dụng là lý thuyết chức
năng, cấu trúc và chủ nghĩa duy vật văn hóa. Mục đích nhằmlý giải đặc trưng các
thành tố, mối quan hệ các thành tố trong chỉnh thể tín ngưỡng, lễ hội. Từ đó làm
rõ vai trò, chức năng, giá trị của đối tượng nghiên cứu trong đời sốngcư dân
M’nông. Đồng thời, lý giải nguyên nhân mai một, thay đổi một số loại hình tín
ngưỡng, lễ hội truyền thống của người M’nông dưới tác động của các yếu tố như
kinh tế, xã hội, tôn giáo….Chương 1 cũng khái quát nguồn gốc, lịch sử hình
thành, địa bàn phân bố, tổ chức xã hội, đời sống văn hóa của người M’nông.


thoại, kiêng kị, nghi lễ liên quan đến tô tem.Ngoài ra, còn nhiều tộc người cũng
có những bằng chứng cho sự tồn tại tín ngưỡng tô tem như người Thái, Mường,
14


Hrê, Dao...
Ở Tây Nguyên, tín ngưỡng tô tem cũng được nhận diện ở một số dân tộc
như Ba Na, Gia Rai, Ê Đê… và nhận định “Một vài tộc người ở Tây Nguyên
vốn có tục “cà răng” như dấu ấn về sự mong muốn có hình dáng gần gũi với đặc
trưng của tổ tiên (loài vật nhai lại)”được xem như một trong những dấu hiệu cụ
thể chỉ ra mối liên hệ tô tem với con trâu của một số tộc người trên vùng đất này.
2.1.3. Tín ngưỡng tô tem của người M’nông
Tín ngưỡng tô tem ở người M’nôngcó hai biểu hiện cơ bản. Trước hết là
qua cách đặt tên dòng họ.Hiện người M’nông có trên hai trăm dòng họ, trong đó
có khá nhiều dòng họ đặt tên theo động vật, thực vật, sự vật như Kpơr (lá cây);
Ya (con cá sấu); Dâng Ja Reh (bãi cỏ tranh); R’pu (con trâu);…Biểu hiện thứ hai
trong tín ngưỡng tô tem của người M’nông làkiêng kị giết, ăn một số loài động
thực vật.
Hiện nay, việc cấm giết/hái, ăn một số loài động thực vật nào đó ở người
M’nông còn khá nhiều dấu ấn. Gần như tất cả những người được phỏng vấnđều
khẳng định có biết những kiêng kị cấm giết, ăn thịt/hái một số loài động vật/thực
vật. Dấu ấn tín ngưỡng tô tem còn thể hiện trong di sản văn hóa tinh thần của cư
dân M’nông như các truyền thuyết, huyền thoại.
Nghiên cứu về con trâu trong văn hóa M’nông, đã có khẳng định trâu
chính là “vật tổ” xa xưa và “hồn trâu” giúp con người gần gũi với thần linh hơn
“các hồn” khác. Xét trên thực tế và dựa trên quan điểm của Reinach đã trình bày
ở trên, chúng tôi cho rằng trâu là con vật tô tem của người M’nông bởi một số lý
do nhưngười M’nông nuôi trâu với một sự yêu quý đặc biệt và chăm sóc rất cẩn
thận; có những dòng họ kiêng ăn thịt trâu; không tự tiện giết trâu nếu không có
lý do liên quan đến tâm linh; những dịp lễ lớn mới làm thịt trâu nhưng phải qua

tự nhiên, điều kiện sống và nhận thức hạn chế trong một giai đoạn lịch sử nhất
định.
2.2.2. Về biểu hiện
Hệ thống nghi lễ được tổ chức thường xuyên trong đời sống dân tộc
M’nông là dấu hiệu rõ nét của tín ngưỡng đa thần.
Đối với cá nhân, nghi lễ trải dài theo suốt đường đời.Mỗi bước ngoặt
trong đời người đều có nghi lễ cầu cúng thần. Khi một sinh linh được hình thành
trong bụng mẹ, người ta đã tổ chức lễ cúng cầu xin sự chở che. Những năm
16


tháng từ 1 tuổi, 2 tuổi đến trưởng thành, lập gia đình cũng như khi về già, qua
đời, các nghi lễ cầu cúng với ước mong sức khỏe, bình an được tổ chức thường
xuyên.Với sinh hoạt cộng đồng, nghi lễ cúng thần là một phần không thể thiếu.
Những vấn đề liên quan đến bon làng từ chọn đất làng, làm nhà cộng đồng đến xử
phạt, chiến tranh…đều phải cúng tế cầu xin sự ưng thuận của các thần. Trong hoạt
động kinh tế nông nghiệp nương rẫy, các công đoạn chọn đất, đốt rẫy, gieo hạt,
thu hoạchđều tổ chức lễ cúng thần Đất, thần Lúa….Kèm theo đó là những kiêng
cữ được thực hiện nghiêm túc tránh làm các thần bực mình, nổi giận gây nên tai
họa như sâu bệnh, hạn hán, mất mùa.
Theo cư dân M’nông, thần linh có thể gửi “thông điệp” hoặc bộc lộ “quan
điểm” qua hệ thống các “tín hiệu” nhận biết. Đó là giấc mơ, điềm báo, phép thử,
bói điềm. Nếu giấc mơ, điềm báo thể hiện điều xấu, sự không hài lòng của các
thần, mọi việc phải dời lại, không ai dám coi thường. Điểm đặc biệt trong tư duy
ngườiM’nông là dù thế giới thần linhđa dạng, phong phú nhưng không tuyệt đối
tôn thờ một vị thần nào và cũng không xem vị thần nào có vai trò cai quản muôn
loài.
Tóm lại, mọi việc trong đời sống người M’nông đều có bóng dáng thần
linh, mối quan hệ với thần linh là sợi dây thiêng liêng gắn kết các cá nhân trong
cộng đồng lại với nhau trong số mệnh chung.

niệm khi chết hồn thoát khỏi xác, biến thành ma đi lang thang rồi đầu thai vào
người phụ nữ nào đó. Ngoài ra, đồng bào còn cho rằng con người đau ốm do
linh hồn rời bỏ tạm thời vì đi lạc, bị bắt... Khi đau ốm, họ thường mời thầy cúng
về cúng cho hồn là vì thế.
Chính vì quan niệm chết chỉ là sự chấm dứt tạm thời một giai đoạn nên
các dân tộc Tây Nguyên hình thành những nghi thức tang lễ và ứng xử với
người chết mang đậm tinh thần bình đẳng như chia của cho người chết, nuôi mả
sau khi chôn.
2.3.3. Tín ngưỡng hồn linh ở người M’nông
Người M’nông quan niệm con người cũng có hai phần là linh hồn và thể
xác. Hồn có ba loại gồm hồn trâu, hồn nai và hồn dế, cào cào. Trong đó, hồn
trâu là hồn chính, nếu hồn trâu chết con người sẽ chết. Hồn nai, dế, cào cào là
hồn phụ, nếu các hồn này đi ra ngoài cơ thể, bị lạc lối hoặc bị ma lai bắt ăn thịt,
con người sẽ bị ốm.
18


Hồn vẫn thường ra khỏi con người trong lúc ngủ để “dạo chơi”, khi đó con
người sẽ có giấc mơ là những gì hồn trải qua. Khi con người chết, linh hồn rời bỏ
thể xác để đến xứ phan do hai thần Dê, Dơm cai quản. Nếu là người tốt sẽ được
đầu thai lại làm người, nếu xấu không được đầu thai mà sẽ biến thành malang
thang.
Điều khác biệt trong niềm tin linh hồn của người M’nôngso với một số
dân tộc khác là linh hồn không bất tử dù có tái sinh, đầu thai. Niềm tin đó tạo
nên một hệ thống cách ứng xử với linh hồn và những thứ người ta tincó liên
quan đến linh hồn. Cụ thể các nghi lễ:Lễ đặt tên và Cúng hồn cho đứa trẻ mới
sinh nhằm tìm và tiếp nhận linh hồn tổ tiên trở về nhập vào đứa trẻ.Lễ xỏ tai là
nghi lễ phản ánh niềm tin vào linh hồn vì nếu không làm lễ này hồn đứa trẻ sẽ
buồn bỏ về làng ma và đứa trẻ sẽ chết. Những khi có người ốm, niềm tin hồn
phụ đi lạc làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người dẫn đến nhiều lễ cúng. Sau

Hợp thành bon là các gia đình mẫu hệ. Ở phạm vi gia đình, dòng họ thì
tính cộng đồng là nền tảngchi phối nhiều đặc trưng trong tín ngưỡng cư dân
M’nông. Với tín ngưỡng hồn linh, các nghi thức diễn ra theo vòng đời người từ
khi sinh ra đến lúc chết luôn có sự góp mặt các thành viên gia đình và dòng họ.
Ngoài ra, dấu ấn cộng đồng thể hiện trong việc kiêng không “động chạm” đến tô
tem dòng họ mình qua những câu chuyện được truyền lại từ tổ tiên, ông bà về
mối liên hệ giữa con người với các tô tem dòng họ.
2.4.3. Giao lưu văn hóa
Đăk Nông có hơn 40 dân tộc cư trú. Nhìn chung, một số đặc trưng tín
ngưỡng người M’nông được hình thành bởi sự giao lưu, ảnh hưởng, tiếp biến ba
“nguồn” chính: cộng cư với các cư dân bản địa cùng sinh sống từ lâu đời như
người Ê Đê, Mạ, …; giao lưu với các dân tộc nơi khác di cư đến như Việt, Dao,
Tày, Nùng…; sự tiếp xúc với văn hóa phương Đông, phương Tây. Sự giao
lưunày phần nào tạo những nhân tố mới trong tín ngưỡng truyền thống của
người M’nông.
Tóm lại, sự giao lưu nội văn hóa cũng như ngoại văn hóa của người
M’nông cũng góp phần hình thành những đặc trưng văn hóa tín ngưỡng nhất
định.

20


Tiểu kết chương 2
Qua tìm hiểu, có thểthấy người M’nông hiện còn ba loại hình tín ngưỡng
chính là tô tem, đa thần và hồn linh. Dấu ấn các loại hình tín ngưỡng này không
giống nhau. Rõ nét hơn cả là tín ngưỡng hồn linh và đa thần. Tín ngưỡng tô tem
chỉ còn dưới dạng tàn dư và khá mờ nhạt.
Với tín ngưỡng tô tem, sự tồn tại tín ngưỡng này thể hiện qua một sốđặc
điểm như không giết/hái một số động/thực vật, đặt tên dòng họ theo tên
động/thực vật... Cùng với đó là nhiều câu chuyện lý giải về cấm kỵ do người dân

tang ma.
3.1.1.2. Một số nghi lễ vòng đời tiêu biểu của người M’nông
* Nghi lễ liên quan đến sinh đẻ và thời thơ ấu
Lễ cúng khi có thai(bư brahta să năp): Tổ chức khi biết người phụ nữ
mang thai. Mục đích mong muốn mẹ tròn con vuông.
Lễ bảo vệ thai nhi trong bụng mẹ (mprang ndul):Khi người phụ nữ mang
thai đến tháng thứ sáu, lễ này được tổ chức với mong muốn ngăn cản ma quỷ,
ngải thần và thần briăng “ăn” đứa trẻ.
Lễ đặt tên (moh săk) và Lễ cúng hồn cho trẻ mới sinh (mpih kon yôn bê):
Tám ngàysau khi sinh đứa trẻ được đặt tên. Mục đíchtìm xem hồn ai trong số
ông bà, tổ tiên đã chết về đầu thai để đặt tên đứa trẻ theo vần người đó.
Lễ thổi tai (khôm tôr):Lễ này nhằm giúp tai đứa bé thông suốt, lớn lên trở
thành người của cộng đồng. Thực hiện xong lễ, đứa trẻ cần tuân thủ một số
kiêng cữ như không liếm đũa bếp, không ăn bốc cơm đầu nồi…
* Nghi lễ liên quan đến tuổi trưởng thành
Lễ cà răng (ot sôk):Khi đứa trẻ được 15 tuổi, cha mẹ sẽ làm lễ cà răng cho
con. Đây là nghi lễ thừa nhận đứa trẻ là thành viên của cộng đồng.
Lễ trưởng thành (bư brah văt bôk n'hao săk):Lễ này được tổ chức cho con
trai khi bước vào giai đoạn trưởng thành (khoảng 15 đến 20 tuổi).
22


Trích đoạn Những lễ hội khác trong đời sống cộng đồng Mối quan hệ giữa tín ngưỡng và lễ hội Lễ hội phản ánh tín ngưỡng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status