luận văn quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 45

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luật văn Thạc sỹ Luật học
“Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
thành phố Hà Nội” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
trong cùng lĩnh vực. Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ
nguồn gốc. Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS Cao Thị Oanh.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

Tác giả luận văn

Phan Huy Cương


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

Bộ luật hình sự

TNHS

Trách nhiệm hình sự

TAND

Toà án nhân dân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................. 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội. Hình phạt không chỉ mang
lại những hiệu quả nhất định không những trong việc trừng trị người phạm tội mà còn
có vai trò to lớn trong việc cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho
xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa,
ngăn ngừa họ phạm tội mới và đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp
phần đấu tranh phòng và chống tội phạm. Việc quyết định hình phạt sẽ thực sự phát
huy tác dụng, đúng như mong muốn của nhà làm luật một khi nó tuân thủ các nguyên
tắc quy định của BLHS, đồng thời phù hợp với thực tế điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.
Chính vì thế BLHS đã thiết lập một chế định mềm dẻo cho phép khi quyết định hình
phạt, Toà án có thể cho người bị kết án hưởng một hình phạt nhẹ hơn quy định của
BLHS. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS là một chế định quan trọng
trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tuy nhiên nó được quy định tương đối ít trong
BLHS (Điều 47). Trong thực tiễn áp dụng pháp luật việc quyết định hình phạt nhẹ hơn
quy định của BLHS cũng còn gặp những vướng mắc nhất định, cần tháo gỡ, xem xét,
nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Việc quy định những biện
pháp này xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước nói
chung và Luật hình sự Việt Nam nói riêng, từ quan điểm cho rằng việc truy cứu trách
nhiệm hình sự và xử phạt về hình sự mặc dù là rất quan trọng trong việc bảo vệ pháp
chế, củng cố trật tự pháp luật song không phải là biện pháp duy nhất mà đòi hỏi “ngày
càng mở rộng các biện pháp tác động xã hội khác để đấu tranh phòng và chống tội
phạm” [17;tr.9]. Mặt khác, nó còn để thực hiện phương châm trong đường lối xử lý tội
phạm và người phạm tội của Nhà nước ta, đó là “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”,
“trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo”. Đến lần pháp điển hóa lần thứ nhất Luật hình
sự Việt Nam bằng việc thông qua BLHS năm 1985, quyết định hình phạt nhẹ hơn quy
định của BLHS đã được ghi nhận chính thức, nhưng nó vẫn được quy định chung cùng
với những tình tiết giảm nhẹ tại một điều của Bộ luật (Điều 38). Tương tự như vậy,

1

Chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS có liên quan mật
thiết và chặt chẽ đến chế định hình phạt và nhiều chế định khác trong luật hình sự. Ở

2


Việt Nam, quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS cũng mới chỉ được quy
định tại một điều luật riêng lẻ (Điều 47 BLHS năm 1999, Điều 54 Bộ luật Hình
sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017), điều đó chứng tỏ quyết định hình phạt
nhẹ hơn quy định của BLHS vẫn chưa được các nhà lập pháp coi trọng đúng mức và
nhận thức được tầm quan trọng của chế định này cũng như nhu cầu cần quy định cụ
thể và đầy đủ hơn trong BLHS. Cũng giống như phương diện lập pháp, trên
phương diện nghiên cứu, lý luận chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của BLHS cũng vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức mặc dù đây là một chế
định quan trọng, có ý nghĩa lớn lao đối với quá trình đấu tranh phòng và chống tội
phạm của Nhà nước, thể hiện quan điểm nhân đạo, đường lối chính trị mang đậm nét
nhân văn của Đảng và Nhà nước ta. Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học
nào nghiên cứu một cách công phu và đầy đủ ở cấp độ một luận văn thạc sỹ hay
một luận án tiến sĩ về đề tài này. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS
mới chỉ được nghiên cứu với tư cách là đề tài của các khóa luận tốt nghiệp cử nhân
luật hoặc rải rác trên một số Tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành, hay được đề
cập với tư cách là một vấn đề (khía cạnh liên quan) của các chế định khác như hình
phạt, quyết định hình phạt, các biện pháp tha miễn, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
TNHS. Tuy nhiên, đáng chú ý, đó là công trình nghiên cứu của TSKH, PGS Lê Cảm:
1) Về bản chất pháp lý của quy phạm "Nguyên tắc quyết định hình phạt" tại Điều 37
BLHS 1985 (Một số vấn đề lý luận-thực tiễn & hoàn thiện pháp luật, Tạp chí Toà
án nhân dân - số 1, 2 năm 1989); 2) Nhân thân người phạm tội: một số vấn đề lý
luận cơ bản (Tạp chí Toà án nhân dân - số 10/2001); 3) Nhân thân người phạm tội:
một số vấn đề lý luận cơ bản (đồng tác giả với Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Toà án nhân
dân - số 1/2003); 4) Quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt đối với một tội:

trình phân tích với Bộ luật Hình sự năm 2015.
Thực tiễn áp dụng quy định tại Điều 47 tại Toà án nhân dân thuộc thành phố Hà
Nội tức là ở hai cấp xét xử của Toà án nhân dân cấp quận, huyện thuộc Hà Nội và Toà
án nhân dân thành phố Hà Nội sẽ được xem xét, đánh giá trong luận văn theo giai đoạn
từ năm 2011 đến năm 2016.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên trong luận văn, tác giả tập trung vào giải
quyết những nhiệm vụ chính như sau: 1) Phân tích căn cứ quyết định hình phạt
được ghi nhận trong pháp luật hình sự thực định, một số quan điểm khác nhau về
quyết định hình phạt. 2) Phân tích các quan điểm khác nhau về khái niệm quyết
định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS, khái quát lịch sử hình thành và phát
triển của chế định này để đưa ra quan điểm của mình. 3) Phân tích nội dung, điều
kiện áp dụng những trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS
theo các quy định của


4


BLHS năm 1999 hiện hành, BLHS năm 2015 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2018 và thực tiễn áp dụng tại TAND thành phố Hà Nội. Qua đó phân tích một
số tồn tại xung quanh việc quy định và áp dụng chế định này. 4) Luận chứng cho
sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về quyết
định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện chế định này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS là một chế định hẹp và tương
đối phức tạp, nghiên cứu về quyết định hình phạt có nhiều nghiên cứu chung, đồng bộ
mà ít có nghiên cứu chuyên sâu về từng trường hợp cụ thể, nên việc hiểu trong lý luận
và vận dụng trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Bởi vậy, phạm vi

hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS trên cơ sở xem xét các quy định của pháp luật
hình sự hiện hành, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế
định này ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng chúng trong thực tiễn. Ngoài ra,
ở một chừng mực nhất định có thể khẳng định rằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo
đồng bộ đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ đề cập đến chế định quyết định hình
phạt nhẹ hơn quy định của BLHS có gắn với thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội,
do đó nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu
khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc
chuyên ngành Tư pháp hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm ba
chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của
Bộ luật hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của pháp luật hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của Bộ luật hình sự.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự
Một số khái niệm của các nhà khoa học
Theo Thạc sỹ Đinh Văn Quế, nguyên Chánh Toà hình sự Toà án nhân dân Tối
cao, thì: "Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS là trường hợp Toà án có
thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã


9


pháp nhân thương mại đó". Các cơ quan hành chính chỉ có thể ra quyết định xử lý vi
phạm hành chính, quyết định kỷ luật mà không bao giờ được áp dụng hình phạt với
bất cứ cá nhân nào. Tóm lại, Toà án là cơ quan duy nhất được Hiến pháp quy định
chức năng xét xử các vụ án hình sự và quyết định áp dụng hình phạt đối với một cá
nhân bị kết án.
- Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS cũng là thể hiện nguyên tắc
nhân đạo trong pháp luật hình sự. Khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 quy định nguyên
tắc xử lý là: "Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác
đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại gây ra; Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát,
giáo dục". Các quy định tại Điều 3 nêu trên đã được quy định cụ thể thành các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 BLHS. Tinh thần của khoản 1 Điều 3 cũng
được ghi nhận tại một phần của Điều 54 BLHS. Theo quy định của BLHS, nếu người
lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì Toà án có thể áp dụng hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục. Hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù bao gồm các hình phạt như: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo
không giam giữ. Ngoài ra, việc Toà án cho người phạm tội được hưởng án treo cũng
được coi là nhẹ hơn hình phạt tù. Nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù đối với
người phạm tội là cơ sở quy định các chế định, các quy định khác về quyết định hình
phạt như: căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50); quyết định hình phạt nhẹ hơn quy
định của BLHS (Điều 54); án treo (Điều 65) [24].
- Hình phạt do Toà án quyết định đối với người bị kết án luôn luôn không nằm
trong khung hình phạt đối với hành vi phạm tội tương ứng, nó nằm ở khung hình phạt
nhẹ hơn. Theo quy định tại Điều 47 BLHS năm 1999 thì nó nằm ở khung hình
phạt liền kề nhẹ hơn.

như phân tích ở trên theo quy định của Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự. Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước được Nhà nước giao cho Toà án, nhân danh Nhà
nước quyết định áp dụng với người phạm tội. Toà án tuyên bố áp dụng hình phạt đối
với người phạm tội, thể hiện sự lên án của nhà nước đối với họ về việc thực hiện tội
phạm là sự trừng trị người phạm tội. Quyết định hình phạt còn là một hoạt động pháp
lý tố tụng hình sự, hay nói cách khác là một dạng hoạt động của việc áp dụng pháp luật
hình sự do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành đối với người thực hiện tội
phạm theo một trật tự pháp lý nhất định. Các nguyên tắc quyết định hình phạt là một
trong những vấn đề quan trọng của chế định quyết định hình phạt, bởi vì việc quyết
định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào


11


việc nhận thức và áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn xét xử. Đây là vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn. Ý nghĩa lý luận của chúng thể hiện ở chỗ: việc
làm sáng tỏ các nguyên tắc đó góp phần vào việc nhận thức được bản chất, nội
dung, nguồn gốc, ý nghĩa của chế định quyết định hình phạt, phân biệt chúng với các
căn cứ quyết định hình phạt, đưa ra những phương án tối ưu của việc thể hiện chúng
trong các quy phạm của luật hình sự. Còn về mặt thực tiễn, các nguyên tắc đó là
những tư tưởng chỉ đạo, là kim chỉ nam cho hoạt động của Toà án khi chọn và quyết
định loại và mức hình phạt đối với từng bị cáo trong từng vụ án cụ thể. Các nguyên
tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng xuất phát, tư tưởng chỉ đạo được quy định
trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có, xác định và định hướng hoạt động
của Toà án khi áp dụng các chế tài luật hình sự đối với người phạm tội.
Quyết định hình phạt cần dựa vào những nguyên tắc sau đây: Nguyên tắc pháp
chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc cá thể hoá
hình phạt; Nguyên tắc công bằng (công minh). Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của BLHS cần tuân thủ những nguyên tắc cụ thể nêu trên, cụ thể như sau:

nhiệm hình sự". Điều 6 khi quy định hiệu lực của BLHS đối với những hành vi
phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều xác định
rõ các quy định đó áp dụng đối với công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài.
Điều 8 quy định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện...". Như vậy, theo luật
hình sự Việt Nam tội phạm chỉ có thể là hành vi của cá nhân mà không thể của tập
thể. Nguyên tắc đó có thể diễn đạt như sau: "Người phạm tội phải chịu trách nhiệm
hình sự bởi những gì do tự người đó gây ra". Nội dung của nguyên tắc này có các yếu
tố cơ bản là:
- Chủ thể của một hành vi phạm tội chỉ có thể là một thể nhân cụ thể, tức là một
cá nhân chứ không phải một tập thể hay một kiểu cộng đồng nào.
- Hình phạt, cũng như các hình thức trách nhiệm hình sự đều chỉ áp dụng đối với
cá nhân người đã gây ra hành vi phạm tội nhằm tác động trực tiếp vào ý thức của
người đó để đạt được mục đích trừng trị, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa. Khi nói về
điều đó, lời nói đầu của BLHS khẳng định: "BLHS...thông qua hình phạt để răn đe,
giáo dục, cảm hoá, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện".
Bốn là, nguyên tắc công bằng: Trong luật hình sự, nguyên tắc công bằng phải
bao gồm tất cả các mức độ biểu hiện của luật hình sự. Điều đó có nghĩa là, sự tương
xứng giữa hành vi (mức độ và tính chất nguy hiểm) và trách nhiệm hình sự phải được
xác định trên ba mức độ: - Trên mức độ lập pháp hình sự, thông qua việc quy định tội
phạm (tội phạm hoá hoặc phi tội phạm hoá), nguyên tắc công bằng đòi hỏi pháp luật
hình sự phải phản ánh được đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân
trong đó có những quan điểm, quan niệm khác nhau về lẽ công bằng, về cách đánh giá
tội phạm và hình phạt trong dư luận. Đây là mức độ thuộc về thiết kế chính sách hình
sự và cơ sở nhận thức để xây dựng các chế định về tội phạm và hình phạt. Thực tế cho
thấy rằng trong nhận thức của các tầng lớp, chính giới, dân cư về cùng một loại hành


14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status