ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------
TRẦN QUỐC VIỆT
THUẬT NGỮ KINH TẾ THƢƠNG MẠI TIẾNG ANH
VÀ CÁC BIỂU THỨC TƢƠNG ĐƢƠNG CỦA CHÚNG
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------
TRẦN QUỐC VIỆT
THUẬT NGỮ KINH TẾ THƢƠNG MẠI TIẾNG ANH
VÀ CÁC BIỂU THỨC TƢƠNG ĐƢƠNG CỦA CHÚNG
TRONG TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 62 22 02 41
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
giúp đỡ Nghiên cứu sinh cả về vật chất lẫn tinh thần để hoành thành luận án.
Hà Nội, ngày 28 tháng 09 năm 2017
Trần Quốc Việt
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả đƣợc nêu trong luận án là trung thực, chƣa từng đƣợc ai công bố ở đâu và
trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận án
Trần Quốc Việt
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................1
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................2
MỤC LỤC ..................................................................................................................3
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................8
1. Lí do lựa chọn đề tài..........................................................................................8
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án ...............................................8
3. Mục đích nghiên cứu của luận án ....................................................................9
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án ...................................................................9
5. Nguồn ngữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu................................................10
6. Đóng góp của luận án ......................................................................................11
2.1.1. Về khái niệm thành tố cấu tạo thuật ngữ ....................... 56
2.1.2. Phân tích thuật ngữ KTTM tiếng Anh theo thành tố cấu
tạo ............................................................................................ 57
2.1.2.1. Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo một thành tố .....................57
2.1.2.2. Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo hai thành tố .......................60
2.1.2.3. Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo ba thành tố ........................61
2.1.2.4. Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo bốn thành tố ......................62
2.1.2.5. Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo năm thành tố .....................62
2.1.3. So sánh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt về mặt
thành tố cấu tạo và mô hình cấu tạo ........................................ 63
2.1.3.1. So sánh sự phân bố theo số thành tố cấu tạo của thuật ngữ KTTM
tiếng Anh và tiếng Việt .................................................................................63
2.1.3.2. So sánh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt về mặt mô hình
cấu tạo ...........................................................................................................65
2.2. Đặc điểm định danh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt ..............80
2.2.1. Khái niệm định danh ...................................................... 80
2.2.2. Quá trình định danh ....................................................... 81
2.2.3. Phương thức định danh .................................................. 82
2.2.4. Các kiểu định danh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng
Việt .......................................................................................... 83
4
2.2.4.1. Kiểu định danh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo phạm
trù ngữ nghĩa .................................................................................................83
2.2.4.2. Kiểu định danh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo
phƣơng thức biểu thị .....................................................................................84
2.2.5. Phân loại các nhóm thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng
Việt theo phạm trù nội dung ngữ nghĩa ................................... 85
chuyển dịch ............................................................................ 125
3.4.4. Một số nguyên tắc chuẩn hóa thuật ngữ KTTM tiếng Việt
trong quá trình dịch ............................................................... 128
3.4.5. Một số điều cần tránh trong việc xây dựng thuật ngữ
KTTM tiếng Việt mới.............................................................. 136
3.5. Tiểu kết ........................................................................................................137
KẾT LUẬN ............................................................................................................139
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN .....................................................................................................143
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................144
PHỤ LỤC…………………………………………………………………………….
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.2.1: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có một thành tố.................59
Bảng 2.1.2.2: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có hai thành tố ..................61
Bảng 2.1.2.3: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có ba thành tố ...................62
Bảng 2.1.2.4: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có bốn thành tố .................62
Bảng 2.1.2.5: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có năm thành tố ................63
Bảng 2.1.3.1: Sự phân bố thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo số thành tố
cấu tạo .......................................................................................................................63
Bảng 2.1.3.2: Các mô hình cấu tạo thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt ........79
Bảng 2.2.5: Thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt ..........................................106
theo phạm trù nội dung ngữ nghĩa ..........................................................................106
Bảng 3.2.2.1: Kiểu tƣơng đƣơng thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt .........115
theo cấp độ tổ chức từ - ngữ ....................................................................................115
Bảng 3.2.2.2: Kiểu tƣơng đƣơng thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo số
lƣợng thuật ngữ tƣơng đƣơng .................................................................................117
Khảo sát hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh về đặc điểm cấu tạo.
Đối chiếu, phát hiện sự tƣơng đồng và khác biệt của hệ thống thuật ngữ
KTTM tiếng Anh với các thuật ngữ KTTM trong tiếng Việt.
Đánh giá những vấn đề về dịch thuật thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng
Việt.
9
Đề xuất tiêu chuẩn để chuẩn hoá hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Việt trong
khi dịch, làm từ điển...
5. Nguồn ngữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
a) Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu nghiên cứu để thực hiện luận án của chúng tôi chủ yếu dựa vào 6
cuốn từ điển đối chiếu thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt và một số giáo
trình đang đƣợc giảng dạy tại các cơ sở giáo dục trong nƣớc, bao gồm:
Trần Văn Chánh (1996), Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt, NXB
Thống Kê, Hà Nội.
Hoàng Văn Châu, Đỗ An Chi (2003), Từ điển kinh tế Quốc tế Anh - Việt,
NXB Thống Kê, Hà Nội.
Nguyễn Hữu Dụ (2009), Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt,
NXB Giao thông Vận tải, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đức Minh (2005), Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt, NXB Thống Kê,
Hà Nội.
Minh Trang, Phƣơng Thúy (2008), Từ điển kinh tế - thương mại ứng dụng
Anh - Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
Đỗ Hữu Vinh (2009), Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt,
NXB Giao thông Vận tải, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số giáo trình: Market Leader,
Economics in English và một số văn bản KTTM song ngữ Anh – Việt.
b) Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần phục vụ cho công tác biên soạn
và chỉnh lí tài liệu giảng dạy, nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành KTTM nói chung
và từ điển chuyên ngành KTTM nói riêng. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả chất
lƣợng dạy và học tiếng Anh KTTM tại các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nƣớc.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thƣ mục tham khảo và các phụ lục kèm theo.
Luận án gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chƣơng 2. Đặc điểm thuật ngữ kinh tế thƣơng mại tiếng Anh và tiếng
Việt
Chƣơng 3. Đánh giá về tƣơng đƣơng dịch thuật các thuật ngữ kinh tế
thƣơng mại tiếng Anh và tiếng Việt
11
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Thuật ngữ và nghiên cứu thuật ngữ
1.1.1. Khái niệm thuật ngữ
Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, thuật ngữ ra đời và phát triển đóng
góp một vai trò to lớn trong ngành ngôn ngữ học hiện nay. Tuy nhiên, nhiều nhà
ngôn ngữ học trong nƣớc cũng nhƣ trên thế giới khi đề cập về thuật ngữ thì lại
không đƣa ra đƣợc một định nghĩa rõ ràng, cụ thể. Chính vì thế mà cho đến nay có
một số lƣợng vô cùng lớn định nghĩa về thuật ngữ, nhƣ theo cách nói ví von của nhà
ngôn ngữ học nổi tiếng Reformatskij, A. thì điều này có thể viết đƣợc cả một cuốn
sách.
Hệ quả là đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập, nghiên cứu
thuật ngữ. Có quan điểm gắn định nghĩa thuật ngữ với chức năng, lại có quan điểm
bao gồm hai hoặc ba từ là thuật ngữ".
Dafydd, G. [1999] cũng cho rằng "thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm và
biểu đạt của nó (bao gồm các kí tự và các đơn vị cụm từ) trong lĩnh vực chuyên
ngành đặc biệt" [theo Vƣơng Thị Thu Minh, 2005: 13].
Bàn về định nghĩa thuật ngữ, Hornby, A. [2000: 767] khẳng định "thuật ngữ
là một từ hoặc cụm từ đƣợc sử dụng nhƣ tên của một cái gì đó đặc biệt có liên hệ
với một loại ngôn ngữ".
Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO [2000: 1] viết "thuật ngữ là một tập hợp các
khái niệm của một lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt". Còn theo Tổ chức UNESCO
[2005: 3] cho rằng "thuật ngữ là những khái niệm khoa học đƣợc miêu tả trong một
lĩnh vực cụ thể".
Tìm hiểu về thuật ngữ, Erhard, O. và Gerhard, B. [2003: 12] cũng đƣa ra
định nghĩa về thuật ngữ. Theo các ông "thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm,
trong mỗi một lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu trúc đại diện cho tập
hợp các khái niệm. Kiến thức khoa học đƣợc sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm,
các phƣơng tiện biểu đạt ngôn ngữ và kí hiệu tƣơng ứng đƣợc sử dụng trong văn
phong khoa học để thông tin với ngƣời khác về kết quả khoa học mới và bình luận
về các ngôn bản khác".
Trong mấy chục năm gần đây, ở Việt Nam các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ
học cũng hết sức quan tâm đến việc nghiên cứu về thuật ngữ, những định nghĩa về
thuật ngữ mà các học giả này nêu ra càng ngày càng phong phú.
14
Năm 1960, Nguyễn Văn Tu viết "thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong
các ngành khoa học, kĩ thuật, chính trị ngoại giao, nghệ thuật... và có một ý nghĩa
đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên"
[tr. 176]. Tiếp sau đó, năm 1968, ông lại đƣa ra một định nghĩa cụ thể hơn "thuật
ngữ là những từ và những từ tổ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa
khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất
định. Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ
của ngôn ngữ".
Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang và Vƣơng Toàn [1986:
64] đã tổng hợp các quan điểm về thuật ngữ và đƣa ra phạm vi sử dụng của thuật
ngữ, đồng thời nêu quan điểm của các ông, theo đó thuật ngữ "là từ hoặc cụm từ
biểu đạt chính xác khái niệm của một lĩnh vực chuyên môn nào đó. Thuật ngữ nằm
trong hệ thống từ vựng chung của ngôn ngữ, nhƣng chỉ tồn tại trong một hệ thống
thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó chỉ dùng trong ngôn ngữ chuyên môn. Toàn bộ các
thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt
tạo thành một hệ thống thuật ngữ".
Trong luận án tiến sĩ ngữ văn về Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt, đặc điểm
và cấu tạo thuật ngữ, Vũ Quang Hào [1991: 4] cho rằng thuật ngữ bao gồm những
nội dung sau đây:
"1. Thuật ngữ là nội dung của khái niệm khoa học (nội hàm khái niệm) và với
vai trò này nó là đơn vị cơ bản của mọi khoa học.
2. Thuật ngữ là hình thức ngôn ngữ (là cái vỏ), là tên gọi của một khái niệm
khoa học.
3. Thuật ngữ là toàn bộ khái niệm trong một lĩnh vực khoa học.
4. Thuật ngữ là toàn bộ tên gọi của một khoa học".
Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt tái bản năm 2010, Nguyễn Thiện
Giáp đã đƣa ra một khái niệm đề cập đầy đủ những đặc trƣng, yêu cầu cần và đủ
của thuật ngữ. Ông khẳng định "thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ.
Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm
và các đối tƣợng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con ngƣời" [tr. 308 - 309].
16
Trong luận án tiến sĩ ngữ văn về Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách
Từ đó, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra đƣợc những thiếu sót hay những ƣu
điểm trong quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trƣớc về vấn đề này. Sau khi tìm
hiểu và cân nhắc để đƣa ra một khái niệm thích hợp; vậy quan điểm của chúng tôi
về thuật ngữ trong luận án này đƣợc hiểu là những từ hay cụm từ cố định dùng để
biểu đạt các khái niệm, sự vật, hiện tƣợng hay đối tƣợng trong một ngành khoa học
hay trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định.
1.1.2. Phân biệt thuật ngữ với một số đơn vị liên quan
a) Phân biệt thuật ngữ và danh pháp
Vinokur, G. [1939] đƣợc xem nhƣ là nhà khoa học đầu tiên nêu ra sự khác
biệt giữa thuật ngữ và danh pháp. Trong tác phẩm Về thuật ngữ kỹ thuật, ông viết
"danh pháp chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tƣợng và ƣớc lệ, mà
mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phƣơng tiện thuận lợi nhất về mặt thực
tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tƣợng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi
của tƣ duy lí luận hoạt động với những sự vật này" [theo Ngyễn Thị Bích Hà, 2000:
13].
Năm 1978, Reformatskij, A. viết "hệ thuật ngữ trƣớc hết gắn với một hệ
thống khái niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ dán nhãn cho đối
tƣợng của nó và danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học" [tr.
47].
Nguyễn Nhƣ Ý [1998: 235] chỉ rõ "những quy tắc đặt tên trong một ngành
khoa học hay tổng thể những tên gọi biểu đạt những sự vật đơn nhất, không gắn với
hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể chỉ dán nhãn cho đối tƣợng của nó".
Danh pháp, do vậy, chỉ đƣợc dùng để gọi tên các sự vật, hiện tƣợng khoa học
nhiều hơn là gắn với khái niệm. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng
Phiến [2009: 220] khẳng định "danh pháp và thuật ngữ không phải là một. Danh
pháp đƣợc dùng để chỉ toàn bộ tên gọi cụ thể của các đối tƣợng đƣợc dùng trong
từng ngành khoa học mà thôi. Chẳng hạn, nếu ta có một danh sách về tên các loài
thực vật ở Viêt Nam: xoan, muồng, bằng lăng, lát hoa, lát vân, lim, đinh, sến, táu,
dổi, dẻ, xoan đào... thì đó là danh pháp thực vật Việt Nam".
Đỗ Việt Hùng, 2005: 639].
Hai là, ngƣời sử dụng từ thông thƣờng đều là những ngƣời nói ngôn ngữ,
còn những ngƣời sử dụng thuật ngữ là những nhà chuyên môn trong một lĩnh vực
cụ thể. Từ thông thƣờng đƣợc sử dụng trong những tình huống khác nhau, trong khi
việc sử dụng thuật ngữ thuộc một lĩnh vực chuyên ngành lại chỉ giới hạn trong lĩnh
vực chuyên môn đó [Teresa, 1999: 136]. Tuy nhiên, thuật ngữ và các từ thông
20
thƣờng lại đều chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của
ngôn ngữ nói chung, do đó giữa từ thông thƣờng và thuật ngữ luôn có quan hệ qua
lại lẫn nhau, từ thông thƣờng có thể trở thành thuật ngữ và ngƣợc lại "thuật ngữ
thực sự là một bộ phận không thể thiếu đƣợc trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ.
Thuật ngữ đƣợc cấu tạo nên nhờ các phƣơng thức cấu tạo từ của mỗi ngôn ngữ. Do
đƣợc cấu tạo từ các chất liệu ngôn ngữ tạo thành hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó
nên thuật ngữ không tách biệt hẳn với các từ ngữ thông thƣờng. Tuy nhiên chúng
chỉ tồn tại nhƣ một thuật ngữ trong ngôn ngữ của các ngành khoa học, ra khỏi hệ
thống đó chúng lại là những đơn vị thông thƣờng" [Hà Quang Năng, 2009: 94]. Khi
đề cập đến phạm vi sử dụng của thuật ngữ và từ thông thƣờng, Nguyễn Thiện Giáp
[2010: 276] khẳng định "khi từ toàn dân trở thành thuật ngữ, ý nghĩa của nó đƣợc
hạn chế lại, có tính chất chuyên môn hóa: tính chất hình tƣợng và giá trị gợi cảm
mất đi, những mối liên hệ mới xuất hiện" và ngƣợc lại khi các thuật ngữ trở thành từ
thông thƣờng thì "các thuật ngữ mở rộng phạm vi hoạt động của mình".
c) Phân biệt thuật ngữ với từ nghề nghiệp
Khi phân biệt thuật ngữ với từ nghề nghiệp, chúng ta có thể dễ nhận thấy một
số điểm giống và khác nhau giữa hai lớp từ vựng này:
Thứ nhất: Từ nghề nghiệp thƣờng là những đơn vị từ vựng đƣợc sử dụng để
phục vụ cho các hoạt động sản xuất và giữa những ngƣời cùng làm trong một ngành
sản xuất cụ thể tại một vùng dân cƣ, một địa điểm sản xuất thủ công nào đó. Do đó,
nghề nghiệp là những từ ngữ đƣợc sử dụng trong phạm vi một ngành nghề nào đó.
Và mỗi ngƣời, đứng từ các góc độ khác nhau, lại đƣa ra những đặc điểm khác nhau
của từ nghề nghiệp. Phải nói rằng, nếu chỉ dừng lại ở nhận định từ nghề nghiệp là
những từ ngữ đƣợc sử dụng trong phạm vi một ngành nghề nào đó (nhƣ một số
quan niệm) thì sẽ rất khó phân biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ khác. Chẳng hạn,
muốn phân biệt từ nghề nghiệp của những ngƣời làm nghiên cứu khoa học của
ngành vật lý với thuật ngữ khoa học vật lý thì dùng tiêu chí gì? chẳng lẽ từ ngữ sử
dụng trong giao tiếp hàng ngày (khẩu ngữ) là từ nghề nghiệp còn từ ngữ sử dụng
trong nghiên cứu (phong cách viết) là thuật ngữ khoa học sao?
Lí do đề cập đến khái niệm "thuật ngữ" và ''từ nghề nghiệp''; bởi vì, chúng tôi
cần xác định giới hạn của hai lớp từ này cũng nhƣ mối quan hệ của chúng một cách
rõ ràng trong khi khá nhiều tác giả cho rằng chúng có quan hệ gần gũi một cách
22
chung chung. Chẳng hạn, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của những nhà nghiên cứu
kinh tế học hay ngôn ngữ học… không phải là từ nghề nghiệp bởi không thể nói
rằng cùng một lớp từ, khi ở phong cách nói là từ nghề nghiệp, còn ở phong cách
viết là thuật ngữ khoa học. Từ nghề nghiệp là khái niệm chỉ dùng để gọi tên những
từ ngữ đƣợc sử dụng trong phạm vi một ngành nghề thủ công truyền thống ở một
địa phƣơng cụ thể, mang đặc trƣng của địa phƣơng đó.
Ngoài những điểm giống và khác nhau trên, nhìn chung, giữa từ nghề nghiệp
và thuật ngữ còn đang diễn ra sự xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau "khá nhiều từ nghề
nghiệp vốn lƣu hành trong những ngành nghề thủ công, khi ngành nghề đó đƣợc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chúng đƣợc chuyển thẳng lên thành thuật ngữ.
Mặt khác, các ngành nghề thủ công nghiệp đang tồn tại song song với các ngành
sản xuất công nghiệp tƣơng ứng lại sẵn sàng chấp nhận các thuật ngữ khoa học,
biến chúng thành từ nghề nghiệp để hiện đại hóa mình" [Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt
Hùng, 2005: 649].