Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy QCN ở VN
MỤC LỤC
A.
MỞ ĐẦU
Trong chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta, “Quyền con người” được
quy định toàn diện và sâu sắc nhất trong bản Hiến pháp 2013. Đảm bảo thực
hiện các quyền được hiến định trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân có ý nghĩa rất to lớn. Thực tiễn Việt Nam và kinh
nghiệm của thế giới cho rằng, bên cạnh hệ thống pháp luật tiến bộ ghi nhận ngày
càng nhiều các quyền con người thì việc lập ra một cơ chế bảo vệ các quyền đó
cũng là một đòi hỏi vô cùng quan trọng. Quyền con người sẽ được tôn trọng,
bảo vệ, đảm bảo thực hiện nếu có một cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể
có trách nhiệm bảo vệ quyền con người. Trong bài tiểu luận này, em xin tìm hiểu
về đề tài “Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy quyền con
người ở Việt Nam và nội dung cần tập trung để bảo vệ quyền con người một
cách hiệu quả nhất”. Do kiến thức còn hạn chế nên bài tiểu luận của em còn
nhiều thiếu sót, mong quý thầy (cô) góp ý để bài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
B.
I.
1.
NỘI DUNG
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Khái niệm “Quyền con người”
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do vậy, có rất nhiều định nghĩa
chung, có thể thấy các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về
nhân quyền được hình thành, đúc rút từ các yếu tố: (i) lịch sử đấu tranh chống
ngoại xâm của dân tộc; (ii) truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam; (iii) nền
tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; (iv) những
nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền được hầu hết các dân tộc trên
thế giới thừa nhận; (v) thực tiễn và những yêu cầu đặt ra trong công cuộc Đổi
mới, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân và vì dân.
Kể từ khi Đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực lớn
trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thể hiện trước hết qua việc hoàn
thiện các thể chế, chính sách, hệ thống pháp luật. Trong thực tế, Nhà nước Việt
Nam nhất quán coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát
triển kinh tế - xã hội, xác định việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người là
một yêu cầu và điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của đất nước. Hiến pháp
1992 vừa được sửa đổi, bổ sung năm 2013 tiếp tục ghi nhận và đảm bảo mọi
công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng
trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội;
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt
Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe...
không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo... ; thể hiện cụ thể như sau: quyền
sống được quy định tại Điều 19; quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt
tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục được quy định tại khoản 1 Điều 20; quyền
Bài tiểu luận cá nhân
2
Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy QCN ở VN
được suy đoán vô tội được quy định tại khoản 1 Điều 31; quyền được bào chữa
và được sự trợ giúp của luật sư ngay khi bị bắt và giam giữ được quy định tại
họp, lập hội được quy định tại Điều 163 BLHS năm 2015, quyền được bầu cử,
ứng cử và tham gia quản lý nhà nước được quy định tại Điều 160 BLHS năm
2015.
Bài tiểu luận cá nhân
3
Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy QCN ở VN
Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cũng được quy định khá hoàn chỉnh.
Quyền làm việc và được bảo đảm các điều kiện lao động thích đáng được quy
định tại Điều 35 Hiến pháp năm 2013; quyền học tập được quy định tại Điều
39; quyền được chăm sóc sức khỏe được quy định tại Điều 38. Các quyền này
cũng được cụ thể hoá tại các luật chuyên ngành như BLLĐ năm 2012, Luật
Giáo dục năm 2005. Nhìn chung, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay đã
tương thích với những nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế cơ bản về nhân quyền.
Kể từ khi Đổi mới, bằng những điều chỉnh vĩ mô và các chương trình kinh
tế - xã hội, nhà nước đã đảm bảo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh
thần cho người dân. Những kết quả này đã tạo tiền đề cần thiết cho việc thực
hiện các quyền của người dân trên mọi lĩnh vực. Việt Nam được cộng đồng quốc
tế ghi nhận là một trong những quốc gia đi đầu về xóa đói giảm nghèo. Đây là
ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy các quyền con
người, phù hợp với hoàn cảnh của đất nước và các Mục tiêu Thiên niên kỷ
(MTTNK) của Liên Hợp quốc. Việc thực hiện “Chiến lược Toàn diện về Tăng
trưởng và Xoá đói Giảm nghèo” được Chính phủ thông qua vào tháng 5/2002
trên cơ sở Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2001-2010 đã góp
phần giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quốc gia) trên toàn quốc từ 58,1%
năm 1993 xuống còn 14,82% năm 2007 và giúp Việt Nam trở thành một trong
những quốc gia đầu tiên đạt Mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo. Việt
Nam cũng tập trung thực hiện mạnh mẽ và đồng bộ các Chiến lược Cải cách Tư
các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đồng thời không làm cản trở việc
thực hiện các công ước này (Điều 3 và Điều 82 Luật Ban hành Văn bản Quy
phạm Pháp luật 2008). Việt Nam ủng hộ hoạt động của Hội đồng Nhân quyền
Liên hợp quốc và hợp tác đầy đủ với các cơ chế nhân quyền Liên Hợp quốc.
Việt Nam đã hoàn thành báo cáo định kỳ toàn thể (UPR) chu kỳ 1 và đang chuẩn
bị bảo vệ báo cáo UPR chu kỳ 2. Nhà nước đã đón nhiều Báo cáo viên Đặc biệt
(BCVĐB) về nhân quyền của Liên hợp quốc, trong đó có Báo cáo viên đặc biệt
về Giam giữ Độc đoán và về Tự do Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng (1998), về Quyền
Giáo dục, về Quyền được Chăm sóc Sức khoẻ và về Đói nghèo Cùng cực... Việt
Nam cũng tham gia tích cực vào quá trình thảo luận và thành lập cơ chế nhân
quyền khu vực ASEAN. Việt Nam đã thiết lập cơ chế đối thoại với nhiều nước
và đối tác như Mỹ, EU, Úc, Na Uy, Thuỵ Sỹ... trong những năm qua.
Bên cạnh đó, quá trình bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền còn có sự tham gia
của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp. Có thể nêu một số tổ chức cơ bản như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông
dân Việt Nam, Hội Bảo trợ người tàn tật, Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam
v.v..
2.
Hạn chế
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các quyền trong các văn bản
luật thì cơ chế thực thi quyền chưa thật sự đầy đủ. Để các quyền được bảo vệ
toàn vẹn, cần có cơ quan bảo vệ và thực thi các quyền. Cho đến nay, chúng ta
vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách nào thực hiện chức năng bảo vệ QCN. Ở
Việt Nam hiện nay, các cơ quan bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền chưa tập trung
Bài tiểu luận cá nhân
5
kỷ về xóa đói giảm nghèo trước thời hạn 10 so với hạn đề ra của Tuyên bố Thiên
niên kỷ, song những kết quả đạt được chưa thực sự bền vững. Vì thế, với ưu tiên
“tăng trưởng kinh tế phải đi liền với công bằng, bình đẳng”, nước ta cần phải
thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả các giải pháp sau: Đẩy nhanh tốc độ giảm
nghèo; củng cố thành quả giảm nghèo; nâng cao chất lượng cuộc sống và điều
kiện sản xuất của nhóm hộ nghèo; tiến tới xóa nghèo trong toàn quốc. Cần hạn
chế tốc độ gia tăng khoảng cách về thu nhập, khoảng cách về mức sống giữa
thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, tạo cơ hội để thực hiện mục
tiêu “dân giàu” là một hướng ưu tiên của cơ chế đảm bảo thực hiện và phát triển
quyền con người.
Bài tiểu luận cá nhân
6
Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy QCN ở VN
Về lĩnh vực giảm nghèo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã tập
trung triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững
giai đoạn 2016-2020.Theo đó, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm khoảng 1,3-1,5% so
với cuối năm 2015 (còn khoảng 8,58 - 8,38%); tỷ lệ hộ nghèo các huyện nghèo
giảm khoảng 4% (còn khoảng 46,4%), đạt chỉ tiêu Quốc hội giao.
Vấn đề giải quyết lao động và việc làm
Vấn đề giải quyết lao động và việc làm cần tiếp tục là một hướng ưu tiên
quốc gia, không chỉ để giải quyết những vấn đề bức xúc hiện tại về dân số và
phân công lao động xã hội mà có ý nghĩa cơ bản trong chiến lược phát triển con
người. Năm 2017 Quốc hội, Chính phủ giao ngành Lao động-Thương binh và
Xã hội thực hiện chỉ tiêu chủ yếu sau: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới
4%, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55-57% (trong đó có bằng cấp, chứng chỉ là
22,5%); giải quyết việc làm cho 1,6 triệu người lao động. Để đạt được các chỉ
tiêu trên, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xác định, năm 2017 sẽ tập trung
dân, vì dân. Trọng tâm của chiến lược này là củng cố cơ sở pháp lý về trách
nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các điều ước quốc tế nhân
quyền mà Việt Nam tham gia; hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với
các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà
nước; hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của cơ quan dân cử, quyền trực
tiếp giám sát, kiểm tra của công dân với các hoạt động của các cơ quan, cán bộ,
công chức nhà nước; thể chế hóa các chính sách về công bằng xã hội để bảo
đảm mọi công dân được tiếp cận và hưởng thụ các loại dịch vụ công về văn hóa,
giáo dục, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo.
Thứ hai, về chương trình cải cách hành chính. Cải cách hành chính có
trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa và công khai,
minh bạch các thủ tục hành chính, đồng thời đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước
và hoạt động của chính phủ, hệ thống cơ quan hành pháp và cơ quan hành chính
nhà nước theo hướng thống nhất, tinh giản, gọn nhẹ, hiện đại, phục vụ nhân dân.
Luật hóa cơ cấu tổ chức và hoạt động của chính phủ, tổ chức bộ máy quản lý
theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, đồng thời quản lý chuyên sâu và phân
công hợp lý, phân cấp và giao quyền mạnh hơn cho chính quyền địa phương,
nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực,
thực hiện nghĩa vụ tài chính. Đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động
của HĐND và UBND các cấp, bảo đảm tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của
chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật. Cải cách hành chính của
Nhà nước phải bảo đảm vai trò giám sát của Quốc hội, HĐND và quyền giám
sát trực tiếp của nhân dân đối với toàn bộ hệ thống cơ quan hành pháp; bảo đảm
bộ máy thông suốt và có hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm có đội ngũ cán bộ, công
chức có trách nhiệm công vụ cao và tận tụy phục vụ nhân dân.
Thứ ba, về chiến lược Cải cách tư pháp. Chiến lược Cải cách tư pháp
đến năm 2020 thực hiện nhiệm vụ xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững
mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, độc lập xét xử và có hiệu quả,
hiệu lực cao. Các trọng tâm Chiến lược Cải cách tư pháp bao gồm: Xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật về hỗ trợ tư pháp theo hướng đáp ứng ngày càng
Hạn chế và triệt tiêu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, đảm
bảo ổn định và phát triển đời sống dân cư. Đa dạng hóa và đảm bảo chất lượng
các loại hình bảo hiểm xã hội và cung cấp các dịch vụ xã hội, quan tâm thiết
thực và có hiệu quả với chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của các nhóm
người dễ bị tổn thương.
5.
Ưu tiên phát triển giáo dục
Thực hiện phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát
triển, ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho
giáo dục. Phát triển giáo dục hướng tới việc đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, có trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ, hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nhà nước ưu tiên và tạo điều kiện cho con
em các dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc
6.
Bài tiểu luận cá nhân
9
Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy QCN ở VN
biệt khó khăn, các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật,
khuyết tật thực hiện quyền được học tập. Mọi người trong xã hội không phân
biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội,
hoàn cảnh kinh tế đều được bình đẳng về cơ hội học tập.
IV.
NỘI DUNG CẦN TẬP TRUNG ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN CON
Bài tiểu luận cá nhân
10
Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy QCN ở VN
Hai là, cách ly vĩnh viễn đối tượng ra ngoài xã hội còn nhiều cách khác
“êm ái” hơn. Hiện nay, bất cứ cộng đồng nào trên thế giới cũng có đủ điều kiện
và khả năng để cách ly một cá nhân nguy hiểm khỏi đời sống của nó mà vẫn
đảm bảo được các quyền con người tối thiểu. Mỗi quốc gia đều có đủ khả năng
phân biệt rõ hành vi nào là hành vi nguy hiểm, khả năng theo dõi và bắt giữ các
cá nhân nguy hiểm và khả năng kiểm soát các cá nhân nguy hiểm trong một
phạm vi địa lý nhỏ để họ không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vậy tại sao ta
không sử dụng những cách đó để cách ly vĩnh viễn đối tượng ra ngoài xã hội mà
không cần lấy đi quyền sống thiêng liêng của họ. Làm như vậy sẽ phù hợp với
thực tiễn đời sống xã hội, đồng thời bảo đảm được tính nhân đạo – truyền thống
nhân văn bao đời của dân tộc ta.
Thứ hai là không trái với quy luật tự nhiên.
Một quy luật bất biến của cuộc sống không ai có thể phủ nhận được đó là
sinh – lão – bệnh – tử. Con người được sinh ra do cha, mẹ nhưng suy cho cùng
đó cũng là theo quy luật tất yếu của đời sống tự nhiên theo bản năng sinh tồn và
duy trì nguồn gen mà bất cứ loài nào cũng có chứ không phải chỉ ở xã hội loài
người mới có. Và ai đã nuôi dưỡng sự sống đó, chắc chắn không phải là xã hội
mà do tự nhiên; và thực tiễn đã chứng minh được rằng sự sống đã tồn tại khi
chưa có loài người xuất hiện. Chính vì lẽ đó, mà thức ăn để nuôi sống một thực
thể con người tất cả đều từ tự nhiên mà ra; có thể đưa dinh dưỡng sẵn có trong
tự nhiên hoặc thông qua cải tạo những dinh dưỡng đó để duy trì sự sống cho cá
nhân. Tóm lại, những việc đó chỉ là phương tiện để tự nhiên duy trì sự sống cho
loài người theo bản năng chứ không phải do xã hội sản sinh và nuôi dưỡng.
Chính vì xã hội không phải là “đấng quyền lực tối cao sinh ra con người,
hình phạt.
Thứ năm, hình phạt tương đương tử hình.
Như chúng ta đã biết, mục đích của án tử hình là loại bỏ hành vi nguy
hiểm cho xã hội bằng cách tước bỏ sự sống của chủ thể hành vi nguy hiểm. Tuy
nhiên, để loại bỏ hành vi nguy hiểm không nhất thiết phải loại bỏ chủ thể của nó
bởi vì hành vi nguy hiểm có thể được loại bỏ bằng nhiều cách khác như thay đổi
ý thức của chủ thể, loại bỏ điều kiện thực hiện hành vi nguy hiểm, cách ly hoàn
toàn chủ thể nguy hiểm khỏi cộng đồng v.v. Nếu cộng đồng nhận thấy hành vi
nguy hiểm cần phải loại bỏ hoàn toàn khỏi cộng đồng thì có thể cách ly chủ thể
nguy hiểm cho đến khi người đó chết. Như vậy, việc thay thế án tử hình bằng
một chế tài khác là việc hoàn toàn có thể thực hiện được. Việc không áp dụng
hình phạt tử hình không có nghĩa bỏ qua tội ác của những người phạm tội và coi
nhẹ nỗi đau của người bị hại và gia đình họ, mà có thể áp dụng hình phạt khác
như tù chung thân không được khoan hồng.
Bởi những lý do trên mà pháp luật nước ta nên tiến tới xóa bỏ hình phạt
tử hình trong bộ luật hình sự Việt Nam để quyền con người của mỗi con người
được bảo vệ ngày càng toàn vẹn. Và việc bỏ án tử hình không chỉ là loại bỏ sự
trái ngược trong bộ luật hình sự hiện hành mà còn phù hợp với đòi hỏi chính
đáng của thực tiễn.
V.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CƠ CHẾ THỰC HIỆN VÀ THÚC
ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Bài tiểu luận cá nhân
12
Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy QCN ở VN
Đặt cơ chế này trong tương quan với cơ chế quốc tế và cơ chế ở các quốc
gia khác, có thể thấy cơ chế của chúng ta còn chưa toàn diện trong bảo vệ nhân
Nhân quyền là mô hình phù hợp nhất cho Việt Nam. Theo đó, Ủy ban này sẽ là
Bài tiểu luận cá nhân
13
Các ưu tiên phát triển trong cơ chế thực hiện và thúc đẩy QCN ở VN
cơ quan đầu mối tiếp nhận các khiếu nại hoặc yêu cầu về QCN, trực tiếp xem xét
các khiếu nại hoặc yêu cầu đó và đề nghị hướng giải quyết đến cơ quan có thẩm
quyền, và cơ quan có thẩm quyền này phải thông báo kết quả giải quyết lại cho
Ủy ban Nhân quyền. Nếu phát hiện có sai phạm thì Ủy ban tiếp tục khiếu nại đến
cơ quan có thẩm quyền cao hơn. Hoặc nếu xét thấy khiếu nại hoặc yêu cầu ngoài
khả năng giải quyết của Ủy ban thì Ủy ban chuyển cho cơ quan có thẩm quyền
xem xét và cơ quan này cũng phải thông báo kết quả lại cho Ủy ban. Trong
trường hợp Ủy ban thấy các vi phạm về nhân quyền nhưng không có khiếu nại
hoặc yêu cầu thì tự Ủy ban cũng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem
xét. Bên cạnh đó, Ủy ban này nên có chức năng tư vấn về sự ảnh hưởng đến QCN
của các dự luật hoặc các văn bản khác, đồng thời cũng có quyền đề xuất các dự
thảo luật hoặc văn bản dưới luật có liên quan đến QCN.
Về tổ chức, cơ quan này nên tổ chức thành một nhánh độc lập tương tự như
hệ thống Tòa án và Viện kiểm sát và được tổ chức tương ứng với các cấp hành
chính. Đứng đầu là chủ tịch, dưới là các phó chủ tịch và ủy viên. Ủy ban Nhân
quyền có trách nhiệm báo cáo với Quốc hội về hoạt động của cơ quan này và hoạt
động vi phạm hoặc không phối hợp của các cơ quan khác trong việc bảo vệ và
thúc đẩy QCN.
KẾT LUẬN
Tóm lại, cơ chế thực hiện và thúc đẩy quyền con người ở nước ta hiện nay
góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng
văn minh; góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đẩy
mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính
12. https://danluat.thuvienphapluat.vn/nen-bo-an-tu-hinh-tai-viet-nam75271.aspx
2.
3.
Bài tiểu luận cá nhân
15