VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ ĐÀO
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.10.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
Phản biện 1: .............................................................
Phản biện 2: ..............................................................
Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại Học viện khoa học xã hội ....... giờ ...... ngày ......
tháng ..... năm 2017.
Có thể tìm hiểu luận văn tại
cho những người tiến hành tố tụng, điều này làm ảnh hưởng đến chất
1
lượng xét xử của Tòa án. Trong khi đó, các tranh chấp thương mại
được giải quyết tại các Trung tâm trọng tài thì quá ít, thậm chí có
Trung tâm trọng tài từ khi thành lập đến nay vẫn chưa giải quyết bất
kỳ tranh chấp nào. Pháp luật quy định về trình tự, thủ tục giải quyết
tranh chấp thương mại tại Tòa án rất chặt chẽ, rất phức tạp, song, quy
định về trọng tài thì mềm dẻo và linh hoạt hơn, ưu điểm của phương
thức này là tạo quyền chủ động cho các bên, nhanh chóng và tiết
kiệm được thời gian, có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài và đảm
bảo bí mật. Phán quyết trọng tài không được công bố công khai, rộng
rãi nên các bên có thể giữ được bí quyết kinh doanh cũng như danh
dự, uy tín của mình. So với Tòa án thì thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có
quyền lựa chọn bất kỳ Trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh
chấp của mình, và một ưu điểm nổi trội hơn nữa là phán quyết của
trọng tài có tính chung thẩm, nghĩa là không bị kháng cáo, kháng
nghị như bản án của Tòa án. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về
trọng tài cũng còn nhiều hạn chế, bất cập, pháp luật trọng tài chưa
phát huy được đầy đủ vai trò của mình trong môi trường kinh tế xã
hội hiện nay, nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các chủ thể
tham gia hợp đồng thương mại chưa đầy đủ, bên cạnh đó quy định về
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại chưa rõ ràng… Do
đó, pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức
trọng tài cần phải hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết
tranh chấp thương mại phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế. Từ
các vấn đề phân tích nêu trên, tác giả chọn “Giải quyết tranh chấp
chất của trọng tài, thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm
trọng tài, sự hỗ trợ của Tòa án trong hoạt động tố tụng trọng tài. Kể
từ ngày ban hành Luật trọng tài thương mại, có một số đề tài nghiên
cứu như: Luận văn thạc sĩ “Hủy phán quyết của Trọng tài thương mại
theo Luật trọng tài thương mại năm 2010” của tác giả Phạm Minh;
Luận văn thạc sĩ “Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo Luật trọng
tài thương mại năm 2010” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn. Tuy nhiên,
3
vấn đề nghiên cứu pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại
bằng phương thức trọng tài lại hạn chế, lĩnh vực nghiên cứu này giúp
các chủ thể tham gia hợp đồng thương mại xác định được thẩm
quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, nhằm phát huy được đầy
đủ vai trò của trọng tài trong quá trình hội nhập quốc tế và đây cũng
là một trong những điểm mới quan trọng được quy định trong Luật
trọng tài thương mại.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là để hoàn thiện những quy định
của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng
phương thức trọng tài.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, nghiên cứu về mặt lý luận của phương thức giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài như:
khái niệm, đặc trưng pháp lý và ý nghĩa của phương thức này.
Hai là, phân tích kiểm tra thực trạng quy định của pháp luật về
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng
tài.
và duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm của Đảng, Nhà nước
và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học truyền thống như: phương pháp phân tích, so
sánh, tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hoàn thiện hơn về nhận thức và pháp luật
quy định về giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức
trọng tài. Đồng thời là tài liệu tham khảo tốt cho giới doanh nghiệp,
phục vụ và đáp ứng nhu cầu hiểu biết pháp luật về trọng tài cho các
nhà kinh doanh, giúp họ tin tưởng và sử dụng một cách thường xuyên
5
phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng rất bổ ích cho việc
học tập, nghiên cứu và giảng dạy pháp luật về Trọng tài thương mại
tại các Trung tâm đào tạo khoa học pháp lý tại Việt Nam. Các kết quả
nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện hơn
pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng
tài
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu
tham khảo, thì toàn bộ nội dung của luận văn được xây dựng thành
ba chương cụ thể sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp
thương mại được hiểu theo nghĩa rộng hơn và kế thừa khái niệm hoạt
động thương mại của pháp lệnh Trọng tài thương mại, quy định: Hoạt
động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác [42, tr.5], với cách hiểu này
thì mọi tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại của các chủ thể
tham gia đều là tranh chấp thương mại, chủ thể tham gia hoạt động
thương mại không chỉ là các doanh nghiệp, mà còn là các chủ thể
khác chỉ cần tham gia nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.1.2. Khái niệm tranh chấp thương mại theo Luật trọng tài
thương mại 2010
7
Luật trọng tài thương mại 2010 không nêu định nghĩa về tranh
chấp thương mại mà chỉ nêu đối tượng thuộc thẩm quyền giải quyết
tranh chấp của trọng tài [K.6, Đ2]. Đến khi Luật trọng tài thương mại
được ban hành thì Luật này đã đương nhiên thừa nhận thuật ngữ hoạt
động thương mại và xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
của Trọng tài mang tính rộng hơn và phù hợp với xu hướng thống
nhất khi ban hành các văn bản pháp luật, cụ thể Luật này quy định về
thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài là các tranh chấp
sau:
1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên
có hoạt động thương mại.
3. Tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải
quyết bằng trọng tài. [42, tr. 4]
Như vậy, qua việc nghiên cứu hai khái niệm này tác giả nhận
thấy rằng phạm vi của những hoạt động thương mại và tranh chấp
nghiệp, phong phú về hình thức kinh doanh, nó bảo đảm cho các
thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động kinh doanh thương mại
được đối xử bình đẳng với nhau trước pháp luật, đáp ứng được nhu
cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại cho các chủ thể
tham gia hoạt động kinh doanh thương mại. Ở Việt Nam, sự xuất
hiện của phương thức này đã mang lại những ý nghĩa quan trọng
trong đời sống kinh tế xã hội như sau:
Thứ nhất, phương thức này được sử dụng dựa trên sự thống
nhất ý chí, sự tự do thỏa thuận của các chủ thể tham gia hoạt động
kinh doanh thương mại khi có phát sinh tranh chấp giữa chính các
chủ thể đó, quy định như vậy là nhằm nâng cao và tôn trọng quyền tự
do kinh doanh của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thương
mại, quyền này được quy định trong đạo luật tối cao của Việt Nam,
đó là Hiến pháp, đồng thời góp phần phát huy tính dân chủ, khách
quan trong quá trình tố tụng trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp có
thể được tiến hành bởi một trọng tài viên hay một hội đồng trọng tài
tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên.
9
Thứ hai, sự xuất hiện và được công nhận phương thức này
nhằm chia sẻ gánh nặng và giảm tải đáng kể trong hoạt động xét xử
vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án, giảm bớt áp lực
cho các người tiến hành tố tụng tại Tòa án, tạo sự hài hòa cân đối vấn
đề giải quyết tranh chấp trong đời sống kinh tế xã hội.
Thứ ba, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có tính
ràng buộc các bên đương sự về mặt pháp lý. Điều đó làm cho cơ chế
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hữu hiệu hơn biện pháp hoà giải
hay thương lượng. Hoà giải hay thương lượng chỉ mang tính chất
khuyến nghị chứ không có tính ràng buộc thực hiện về mặt pháp lý
bằng pháp luật.
Thứ bảy, thông qua việc áp dụng phương thức này trong thực
tiễn kinh doanh sẽ chỉ ra được những bất cập trong việc quy định của
pháp luật và tạo định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật, tạo hành
lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng phát
triển.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI
2.1. Những quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết
tranh chấp thương mại bằng trọng tài
2.1.1. Thẩm quyền của trọng tài khi giải quyết tranh chấp
Thương mại bằng trọng tài
Một tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài
thương mại khi có các điều kiện sau:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 2, Luật trọng tài thương mại
2010, thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
trọng tài là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương
mại.
Thứ hai, theo quy định tại Khoản 1, Điều 5 Luật trọng tài
thương mại 2010 quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng
11
tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể
được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”.
2.1.2. Điều kiện và các thủ tục thụ lý
2.1.2.1. Chủ thể tham gia tố tụng
2.1.2.2. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện
Thi hành
Hủy phán quyết
2.1.3.1. Thủ tục thông báo
2.1.3.2. Đơn kiện lại
2.1.3.3. Hòa giải
2.1.3.4. Phiên xử
12
Áp dụng
BPKCTT
2.1.3.5. Phán quyết
Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải
quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài.
Theo quy định pháp luật, phán quyết trọng tài phải thuân thủ các quy
định về nguyên tắc, nội dung, hình thức và hiệu lực như sau:
- Nguyên tắc ra phán quyết
- Nội dung và hình thức của phán quyết trọng tài
- Hiệu lực của phán quyết trọng tài
2.1.4. Thi hành phán quyết của trọng tài
Phán quyết của trọng tài do các bên tự nguyện thi hành. Hết
thời hạn thi hành mà bên phải chịu thi hành phán quyết không tự
nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, thì
bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án
dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài. Đối với phán
quyết của trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu
Biểu đồ 2.2: So sánh tỷ lệ tính chất tranh chấp từ 1993 - 2015
14
Hình 2.3: Quốc tịch các bên tranh chấp năm 2015
(Nguồn: VIAC: Thống kê tình hình giải quyết tranh chấp trung
tâm trọng tài quốc tế Việt Nam năm 2015)
Bảng thống kê lĩnh vực tranh chấp
Biểu đồ 2.4: Lĩnh vực tranh chấp
(Nguồn: VIAC: Thống kê tình hình giải quyết tranh chấp trung
tâm trọng tài quốc tế Việt Nam năm 2015)
15
Biểu đồ 2.5: Số lượng vụ tranh chấp được thụ lý qua các năm
Biểu đồ 2.6: Số lượng vụ tranh chấp thụ lý tại VIAC Hà Nội và
VIAC thành phố Hồ Chí Minh
(Nguồn: VIAC: Thống kê tình hình giải quyết tranh chấp trung
tâm trọng tài quốc tế Việt Nam năm 2015)
Bảng 2.5: Trị giá tranh chấp
Năm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Tổng cộng
2013 421.710.301.961
512.099.587.229
933.809.889.190
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG
THỨC TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM
3.1. Phương hướng
Trọng tài thương mại Việt Nam đã và đang phát triển mạnh mẽ
trong những năm gần đây. Trọng tài Việt Nam đang hoạt động trong
cơ chế thị trường, xuất phát từ lợi ích của khách hàng - tức là các đương sự đẫ tranh chấp ra giải quyết ở trung tâm trọng tài - thì không
thể không quan tâm đến bước hoà giải trước Uỷ ban trọng tài - cũng
như phải làm sao để giúp các đương sự đạt được giải pháp giải quyết
tranh chấp hiệu quả nhất cả về kinh tế lẫn hiệu quả xã hội. Trọng tài
thương mại trong cơ chế thị trường phải quan tâm và hết lòng phục
vụ vì lợi ích khách hàng thì mới tồn tại và phát triển được.
Trên thực tế, trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã áp dụng
một quy chế tố tụng khó gần gũi với quy chế tố tụng của trung tâm
trọng tài Quốc tế Singapore. Việt Nam đang hướng vào việc tăng
cường tham gia vào các Hiệp ước Quốc tế và công nhận hiệu lực của
các phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Việt Nam đang nổ
lực phát triển hệ thống pháp luật trên cơ sở tham khảo, đối chiếu và
học hỏi những chuyên gia có kinh nghiệm của nhiều quốc gia như
Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc . . . là những nước trong khu vực
khá gần gũi, và Pháp, Anh, Canada, Australia, Mỹ . . . là những nước
18
có nền kinh tế thị trường phát triển, có hệ thống pháp luật đạt đến độ
hiệu quả cao.
Để hoạt động của Trọng tài có hiệu quả, cần phải có một sự hỗ
trợ của Chính phủ cho hoạt động của Trọng tài. Sự hỗ trợ có thể là hỗ
trợ tập huấn nghiệp vụ, hỗ trợ nhân lực, cung cấp thông tin… Nhà
nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của các cơ quan trọng
động và thái độ công tác của nhà kinh doanh vì thế rất quan trọng
trong việc giải quyết tranh chấp hiệu quả, cũng như tránh được các
rủi ro pháp lý.
Nếu xem xét tranh chấp gồm tranh chấp hiện tại và tranh chấp
tương lai thì việc giải quyết tranh chấp phải gồm cả giải quyết tranh
chấp hiện tại và tranh chấp tương lai. Nói cách khác hiệu quả giải
quyết tranh chấp phải tính cả các biện pháp nhằm phòng tránh các rủi
ro trong kinh doanh. Khi có các biện pháp phòng ngừa, có thể mức
độ tranh chấp sẽ phần nào được dự liệu trước, có thể nói đó là hiệu
quả cao nhất mà doanh nghiệp thu được. Một trong những phẩm chất
của nhà kinh doanh là phải nắm vững quy định pháp luật liên quan đế
hoạt động kinh doanh của mình, không những là những quy định
trong nước mà còn cả những quy định của pháp luật nước khác và
quốc tế các luật bất thành văn trong hoạt động kinh doanh thương
mại. Đây là điều kiện đầu tiên để giảm tối thiểu rủi ro trong kinh
doanh, đặc biệt là kinh doanh thương mại quốc tế.
3.2. Giải pháp cụ thể
3.2.1. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật
Pháp luật vê Trọng tài thương mại cần có chế định về phương
thức gửi và nhận đơn khởi kiện để phục vụ cho việc xác định thời
hiệu khởi kiện được thuận lợi và chính xác hơn. Cần có chế tài trong
quy định về nội dung đơn khởi kiện, tuy nội dung đơn khởi kiện chỉ
mang tính hình thức, nhưng nếu có quy định này thì nó hoàn toàn
phục vụ tốt cho quá trình tố tụng trọng tài diễn ra ở những bước tiếp
theo. Vấn đề hình thức của đơn khởi kiện là rất cần thiết và bắt buộc
phải được ghi nhận trong pháp luật về Trọng tài thương mại. Như đã
phân tích thì vấn đề này quyết định tính hợp pháp của của chủ thể khởi
20
21
cho đến những cán bộ quản lý doanh nghiệp, pháp chế doanh nghiệp.
Công tác giảng dạy pháp luật trọng tài tại trường học cho sinh viên
cũng phải nâng cao ý thức tuyên truyền, phổ biến để tạo sư đam mê
môn học này cho các sinh viên ngay từ khi ngồi ghế nhà trường, đây
cũng là nền móng cho sự phát triển ý thức về pháp Luật trọng tài
thương mại.
Năm là, cơ quan Nhà nước cần có những hành động cụ thể để
các doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ trọng tài bằng mọi hình thức như
tổ chức hội thảo, tọa đàm, quảng bá trên báo, đài, trang thông tin điện
tử về những ưu việt của phương thức giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại bằng trọng tài, lợi ích của các doanh nghiệp khi sử
dụng dịch vụ này. Các Trung tâm trọng tài cũng cần phải tự mình
tuyên truyền phổ biến pháp luật trọng tài thông qua các hoạt động
thực tiễn của Trung tâm.
Sáu là, phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tuyên
truyền, phổ biến pháp luật trọng tài trong các doanh nghiệp.
Rõ ràng, muốn khắc phục những hạn chế bất cập trong giải
quyết tranh chấp Kinh doanh thương mại bằng trọng tài, trước hết
phải định hướng thay đổi tâm lý của các doanh nghiệp, Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới, một cơ chế mới cần sự thông thoáng, hỗ trợ rất
nhiều từ nhiều phía, một khi doanh nghiệp ý thức được những lợi thế
của mình trong việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp
thì khi đó trọng tài mới có cơ hội chuyển mình, sánh vai cùng với cơ
chế Tòa án trong tương lai.
3.2.2.2 Xác định rõ thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét
hủy phán quyết của trọng tài
Từ những phân tích, quy định của pháp luật trọng tài về các
dụng biện pháp trọng tài để giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung
và tranh chấp thương mại nói riêng cũng không phổ biến trong đời
sống văn hoá, pháp luật của người Việt Nam. Tuy nhiên, Nhà nước
Việt Nam đã và đang ra sức tiến hành cải cách pháp luật nhằm xây
23