Tương quan giữa nhận thức về sức khỏe tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐẶNG THỊ THU TRANG

TƢƠNG QUAN GIỮA NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN
VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM SỰ TRỢ GIÚP VẤN ĐỀ SỨC KHỎE
TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐẶNG THỊ THU TRANG

TƢƠNG QUAN GIỮA NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN
VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM SỰ TRỢ GIÚP VẤN ĐỀ SỨC KHỎE
TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Mã số: Thí điểm

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Hoàng Minh

Hà Nội – 2017


Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
(Ký, ghi rõ họ tên)

Đặng Thị Thu Trang

ii


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Chữ viết tắt

Đọc là

SKTT

Sức khỏe tâm thần

TKTG

Tìm kiếm trợ giúp

HV

Hành vi

THPT

Trung học phổ thông

10.

Wolrd Health Organization

Tổ chức Y tế Thế giới.

iii


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo nhận thức về SKTT của học sinh THPT ..... 32
Bảng 2.2. Các nhân tố của bảng hỏi hành vi tìm kiếm trợ giúp của học sinh THPT..... 37
Bảng 2.3. Phân phối mẫu thu thập được trên thực tế .......................................... 40
Bảng 3.1 Giá trị trung bình của tổng thang đo nhận thức về SKTT ................... 43
Bảng 3.2. Mức độ nhận thức về Sức khỏe tâm thần của học sinh Trung học phổ
thông .................................................................................................................... 43
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học đến điểm trung bình thang đo MHL 44
Bảng 3.4 Mức độ nhận thức của tiểu thang đo «Nhận diện các rối loạn tâm thần».......... 46
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của các biến nhân khẩu học lên tiểu thang «Nhận diện rối
loạn tâm thần» ..................................................................................................... 47
Bảng 3.6. Mức độ nhận thức của tiểu thang đo «kiến thức tìm kiếm thông tin» ...... 47
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của các biến nhân khẩu học đến điểm trung bình của nhân
tố «Kiến thức tìm kiếm thông tin» ...................................................................... 48
Bảng 3.8. Mức độ nhận thức của tiểu thang đo “thái độ tiêu cực về SKTT” ..... 50
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của các biến nhân khẩu học đến điểm trung bình của nhân
tố «Thái độ tiêu cực về bệnh tâm thần» .............................................................. 51
Bảng 3.10. Mức độ nhận thức của tiểu thang đo “thái độ tích cực đối với SKTT”....... 52
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của các biến nhân khẩu học đến điểm trung bình của nhân
tố “Thái độ tích cực về bệnh”.............................................................................. 53
Bảng 3.12 Giá trị trung bình của bảng hỏi hành vi tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề SKTT........ 55

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ........................................................................ 8
1.1.1 Tổng quan những nghiên cứu về “nhận thức về Sức khỏe tâm thần” ......... 8
1.1.2. Tổng quan các nghiên cứu về hành vi TKTG và sử dụng nguồn trợ giúp ở
học sinh THPT .................................................................................................... 11
1.1.3 Tổng quan những nghiên cứu về tương quan giữa nhận thức về Sức khỏe
tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp của học sinh THPT ................................ 16
1.2Các khái niệm công cụ của đề tài ................................................................... 17
1.2.1. Nhận thức .................................................................................................. 17
1.2.2. Sức khỏe tâm thần ..................................................................................... 19
1.2.3. Hành vi ...................................................................................................... 26
Kết luận chƣơng 1 ............................................................................................. 29
Chƣơng 2TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................ 30
2.1. Xác định biến nghiên cứu............................................................................. 30
2.2. Các phương pháp nghiên cứu....................................................................... 30
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận............................................................... 30
2.2.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi ................................................................. 30
2.3. Mẫu nghiên cứu ............................................................................................ 38
2.3.1. Xác định địa bàn nghiên cứu ..................................................................... 38
2.3.2. Quy trình thu thập số liệu .......................................................................... 39
2.3.3. Mẫu nghiên cứu thu thập được trên thực tế: ............................................. 40
Kết luận chƣơng 2 ............................................................................................. 41
vi


CHƢƠNG 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 42
3.1. Thực trạng mức độ nhận thức về SKTT của học sinh THPT ...................... 42
3.1.1. Nhận thức về Sức khỏe tâm thần của học sinh THPT .............................. 42
3.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến thang đo nhận thức về SKTT .................... 44
3.1.3 Mức độ nhận thức của bốn tiểu thang đo về SKTT của học sinh THPT ... 46
3.2. Thực trạng hành vi tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề SKTT của học sinh THPT ....... 54

cho thấy 18,56% trẻ trai và 17,22% trẻ gái tuổi 4-18 có các rối loạn hành vi và
cảm xúc; 22,40% trẻ trai và 20,94% trẻ gái tuổi 12 – 18 có các rối loạn hành vi
và cảm xúc nói chung (trung bình là 19,67%).
Theo khảo sát về sức khỏe tâm thần ở học sinh trên địa bàn Hà Nội được
tiến hành giữa Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với Đại học
Melbourne (Australia) về “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học tại
Hà Nội” là dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y tế Hà Nội, bằng bộ công cụ SDQ
của Tổ chức Y tế Thế giới ở 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở (10-16
tuổi) cho thấy tỷ lệ học sinh có các vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là
19,46%, không khác biệt về nam, nữ, học sinh tiểu học hay trung học cơ sở,
trong đó lạm dụng chất gây nghiện đang tăng nhanh chóng. Nghiên cứu trên
21.960 thanh thiếu niên Hà Nội phát hiện 3,7% em có rối loạn hành vi. Tỷ lệ này
giữa nội thành, ngoại thành không có gì khác biệt.Theo khảo sát của dự án, quận
Hai Bà Trưng có tỷ lệ học sinh gặp khó khăn về ứng xử cao nhất, với 44,2% so
với các quận còn lại là Hoàng Mai (28,8%), Từ Liêm (26,9%). Điều này cho
thấy ảnh hưởng của điều kiện sống, môi trường sống tác động hành vi ứng xử
của các em
1


Tại hội thảo quốc gia “Sức khỏe tâm thần trong trường học” do Quỹ Tài
năng Trẻ tâm lý học - giáo dục học (Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam)
tổ chức tại Đồng Nai, nhiều chuyên gia tâm lý, sức khỏe tâm thần đã lên tiếng
cảnh báo về tình trạng ngày càng sa sút của học sinh. Tâm lý lo sợ không hoàn
thành bài vở mới là nỗi ám ảnh với các học sinh lứa tuổi THPT, nhất là các em
lớp 12.Từ đó, học sinh cảm thấy căng thẳng trong việc học. Chiếm 13,6% học
sinh khá cảm thấy ăn không ngon, 17,6% chỉ muốn uống nước hoặc sữa và gần
20% thường xuyên bỏ bữa. Thậm chí, một số em tâm sự đang đối mặt với kỳ thi
quan trọng, sợ làm bài không tốt, sợ gia đình thất vọng và khi nghĩ đến những
điều đó thì các em chỉ muốn... 'nổ tung'.

chỉ dẫn của bác sĩ; hút thuốc lá hoặc chơi games để giảm căng thẳng; tự ý nạo phá
thai tại các cơ sở y tế không đảm bảo; lạm dụng cafe trong những ngày thi cử…
Bên cạnh những nghiên cứu về SKTT của giới trẻ, đã có nhiều nghiên cứu
chỉ ra có khoảng 18-34% thanh niên với mức độ cao của những triệu chứng trầm
cảm hoặc lo âu tìm sự giúp đỡ chuyên nghiệp. Những người bị bệnh tâm thần và
đặc biệt là những người bị trầm cảm có xu hướng trì hoãn điều trị vì nhiều lý do
khác nhau. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng có một sự phụ
thuộc cao vào “tự để giải quyết vấn đề, giới trẻ thiếu thẩm quyền tình cảm và có
thái độ tiêu cực về việc tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp” đó là những rào cản
khiến giới trẻ và thanh niên ít tìm kiếm giúp đỡ từ các chuyên gia trên Thế giới.
Bên cạnh đó, kết quả cũng chỉ ra, ở những người trẻ tuổi và thiếu niên, họ chỉ
tìm sự giúp đỡ chuyên nghiệp khi nó là cần thiết, thường bạn bè và gia đình là
những nguồn tìm kiếm giúp đỡ ưa thích của họ [39].
Một nghiên cứu về Trầm cảm, Tìm kiếm Sự trợ giúp và Tự nhận thức về
Trầm cảm giữa người nhập cư Dominican, Ecuador và Colombian ở Đông Bắc
Hoa Kỳ, nghiên cứu được thực hiện trên 177 người Mỹ Latino, kết quả nghiên
cứu chỉ ra có 25% người có biểu hiện của rối loạn trầm cảm theo Bảng hỏi Điều
tra Y tế Bệnh nhân (PHQ-9). Các yếu tố có thể có liên quan đến rối loạn này là:
nghèo đói; Khó khăn trong hoạt động; Các triệu chứng soma lớn hơn, cảm giác
căng thẳng và kỳ thị; Số bệnh mãn tính. Năm mươi bốn người đã xác nhận sự
giúp đỡ tìm kiếm và nghiên cứu chỉ ra các yếu tố liên quan đến việc tìm kiếm trợ
giúp là: giới tính nữ, khó vận động, mức độ nặng nhẹ của trầm cảm [47].Điều đó
3


cho thấy, các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần liên quan đến vấn đề tinh
thần và sự nghèo đói về vật chất là những yếu tố góp phần thúc đẩy hình thành
rối loạn tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp chịu ảnh hưởng của một số yếu tố
liên quan đến tình trạng rối loạn, giới tính cũng ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm
trợ giúp.

4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1.1. Khách thể nghiên cứu:
- Học sinh trong độ tuổi từ 16 – 18 tuổi đang theo học tại 2 trường THPT
trên địa bàn Hà Nội (THPT FPT, THPT Nhân Chính), 2 trường tại tỉnh Hưng
Yên (THPT Yên Mĩ, THPT Hồng Bàng).
- Số lượng khách thể nghiên cứu 271 Học sinh THPT.
4.1.2. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu mối tương quan giữa nhận thức về SKTT và hành vi tìm kiếm
sự trợ giúp vấn đề SKTT ở học sinh THPT.
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Mức độ nhận thức của học sinh THPT về SKTT ở mức trung bình.
- Nguồn tìm kiếm trợ giúp được lựa chọn nhiều nhất cho vấn đề SKTT của
học sinh THPT là nguồn trợ giúp không chính thức.
- Có tương quan thuận giữa nhận thức về SKTT và hành vi tìm kiếm sự trợ
giúp cho vấn đề SKTT ở học sinh THPT.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận:
- Thu thập tài liệu đã được nghiên cứu và công bố trên tạp chí, bài báo, nghiên
cứu khoa học trong nước và thế giới nhằm làm rõ cơ sở lý luận cho đề tài nghiên
cứu nhằm làm rõ khái niệm nhận thức; SKTT; hành vi tìm kiếm trợ giúp.
- Tổng kết, khái quát tài liệu, điểm luận những tài liệu thu thập được để làm
sáng rõ ý định nghiên cứu.
6.1.

Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn:
- Nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức về SKTT và hành vi TKTT cho vấn đề

SKTT của học sinh THPT.
- Chỉ ra tương quan giữa nhận thức về SKTT và hành vi TKTT cho vấn đề

- Bảng hỏi tự xây dựng nhằm tìm hiểu hành vi tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề
SKTT của học sinh THPT.
- Thang đo Likert: Đánh giá mức độ nhận thức và mức độ thực hiện hành vi
tìm kiếm trợ giúp vấn đề SKTT của học sinh THPT.
8.3.

Phương pháp xử lý số liệu: Phần mềm xử lý số liệu SPSS.

9. Đóng góp mới của luận văn
Hiện nay tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu về mối tương quan giữa nhận
thức về SKTT và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề SKTT ở học sinh THPT.
Do vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ đi sâu vào nghiên cứu thực trạng nhận thức về
SKTT và thực trạng tìm kiếm trợ giúp và mối tương quan giữa 2 biến nhằm chỉ
ra. Từ đó, đưa ra kiến nghị nhằm giúp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần
thúc đẩy những chiến lực nâng cao nhận thức về SKTT và hành vi TKTG ở học
sinh THPT.
6


10.

Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính

của luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu

7

SKTT cao hơn nhóm cộng đồng. Trong một nghiên cứu khác của Jorm và cộng
8


sự(2005),cho biết mức độ hiểu biết của cộng đồng về sức khỏe tâm thần là rất
thấp, trong đó có nhiều cá nhân không nhận biết được những triệu chứng của rối
loạn tâm thần, đặc biệt là trầm cảm, thái độ tích cực sẽ kéo theo khả năng nhận
thức về sức khỏetâm thần là tốt hơn. [35, tr.515].
Một cuộc khảo sát nhận thức về SKTT của hộ gia đình người Malaysia
được tiến hành từ cuối tháng 8 năm 2007 đến đầu tháng 10 năm 2007, sau khi
được sự đồng ý của Ủy ban Đạo đức trường Đại học Malaya Medical. Các hộ
gia đình được tiếp xúc chủ yếu vào cuối tuần và buổi trưa các ngày trong tuần
(từ 1500 đến 1930 giờ). Sau khi giải thích các mục tiêu của cuộc điều tra, người
trả lời cũng được đảm bảo rằng sự tham gia của họ vẫn còn ẩn danh. Một lá thư
đồng ý đã được ký bởi mỗi người trả lời trước buổi phỏng vấn. Người phỏng
vấn kiểm tra bằng tay bản câu hỏi sau mỗi cuộc phỏng vấn trước khi tiếp tục gia
đình kế tiếp. Cuộc khảo sát gồm tổng cộng 651 người trả lời phỏng vấn, 69
người phiếu loại và chỉ còn 587 câu hỏi hoàn thành đã được trả lại, đạt tỷ lệ
phản hồi chung là 90,2%. Trong số 587 người trả lời, 321 (54,7%) là nam giới
và 266 (45,3%) là nữ, tuổi từ 18 đến 60 (trung bình và độ lệch chuẩn [SD] 33,9
± 12,13) năm. Phần lớn người được hỏi là người Mã Lai (70,9%), trong khi 118
(20,1%) là người Trung Quốc và 51 (8,7%) là người Ấn Độ. Phần lớn người
được hỏi là người Hồi giáo (71,2%), tiếp theo là Phật tử (9,0%), Hindu (7,3%)
và Kitô hữu (11,1%). Có hơn một phần tư số người được hỏi đã hoàn thành giáo
dục sau trung học, trong khi 57,8% số người đã hoàn thành bậc trung học,
13,7% chỉ có trình độ tiểu học và không có bằng cấp chính thức. Tuy nhiên kết
quả chỉ ra, có ít hơn 5% số người được hỏi (n = 29) cho biết bản thân họ, hoặc
những người mà họ biết có vấn đề về sức khoẻ tâm thần [53, tr.1171].
Đồng thời,kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra phần lớn những người trả lời
không có kiến thức về sức khoẻ tâm thần. Tuy nhiên, tất cả những người trả lời

Phần lớn nhận thức và hành vi TKTG về SKTT của người Việt Nam bị
ảnh hưởng bởi các khái niệm Việt về bệnh tâm thần và gắn với nhiều tên gọi
định kiến như: điên, thần kinh, dở… nên tâm lý miệt thị và mặc cảm có ảnh
hưởng nhiều đến việc cá nhân thực hiện tìm kiếm trợ giúp chủ động [28].
Qua đó những nghiên cứu trên thế giới và trong nước về nhận thức về
SKTT đã đánh giá phần nào thực trạng nhận thức của cộng đồng về SKTT, từ đó
cho thấy cộng đồng còn nhận thức thấp về SKTT[34, tr.515], đặc biệt còn nhiều
10


kỳ thị và định kiến đối với vấn đề SKTT[36]. Do đó, tại Việt Nam, việc thực
hiện nghiên cứu về nhận thức về SKTT của cộng đồng nói chung được nhiều
nghiên cứu đề cập. Tuy nhiên sự mới mẻ của đề tài ở chỗ, tập trung chỉ ra thực
trạng nhận thức về SKTT trên đối tượng là học sinh THPT, tức các em học sinh
nằm trong độ tuổi từ 15 – 18 tuổi. Bởi đây làgiai đoạn phát triển và thay đổi
mạnh mẽ về đặc điểm tâm sinh lý, nên tồn tại nhiều mâu thuẫn giữa hiện thực
khách quan và mong muốn chủ quan, cùng với nhiều áp lực trong học tập để
hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp và hướng nghiệp sắp tới (bước ngoặt lớn trong cuộc
đời). Chính vì thế, bản thân các em sẽ có nhiều trải nghiệm để cảm nhận rõ nét
về SKTT của bản thân và/hoặc quan sát từ những người xung quanh. Qua đó,
nghiên cứu sẽ tìm hiểu được nhiều điều có ý nghĩa khi nghiên cứu SKTT trong
độ tuổi này, góp phần đề xuất chiến lược phòng ngừa với những cơ sở đào tạo
và chăm sóc SKTT nhằm giúp các em dễ dàng vượt qua giai đoạn nhạy cảm
này. Do đó, với đề tài “Tương quan giữa nhận thức về Sức khỏe tâm thần và
hành vi tìm kiếm trợ giúp của học sinh THPT” là đề tài nghiên cứu khả mới mẻ
tại Việt nam và sẽ hướng đến làm rõ hơn thực trạng nhận thức về SKTT và hành
vi tìm kiếm trợ giúp của học sinh THPT và mối quan hệ giữa chúng.
1.1.2. Tổng quan các nghiên cứu về hành vi TKTG và sử dụng nguồn trợ giúp
ở học sinh THPT
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ý định, hành vi tìm

nhiều lý do để giải thích tại sao người lớn trong dân số chung không tìm kiếm sự
trợ giúp chuyên nghiệp cho các rối loạn tâm thần phổ biến. Chúng bao gồm thái
độ tiêu cực đối với tìm kiếm sự giúp đỡ [29], những lo ngại về chi phí, sự di
chuyển bất tiện, bảo mật, lo lắng những người khác phát hiện ra vấn đề của họ,
cảm giác như họ có thể xử lý các vấn đề của riêng mình, niềm tin rằng việc điều
trị sẽ không giúp giải quyết được vấn đề của họ [37]. Mối quan tâm tương tự đã
được tìm thấy trong một dân số nông thôn, đã bổ sung thêm những lo lắng rằng
việc chăm sóc sẽ không có sẵn khi cần thiết và không biết đi đâu để tìm kiếm trợ
giúp [24].
Một trong những nghiên cứu được thực hiện mới đây của nhóm tác giả Ho
Dung và cộng sự thực hiện nghiên cứu định lượng bàn về những nhân tố ảnh
hưởng đến hành vi tìm kiếm trợ giúp trong dịch vụ sức khỏe tâm thần của người
bị trầm cảm tại Thừa Thiên Huế (11/2015), chỉ ra tỷ lệ thực hiện hành vi tìm
12


kiếm trợ giúp tại dịch vụ y tế địa phương chiếm 24%, thực hiện hành vi tìm
kiếm trợ giúp từ nguồn tôn giáo (thầy lang, thầy bói) chiếm 26%, trong khi đó
dịch vụ y tế chuyên sâu chiếm 28%. Đặc biệt, trong nhóm các bệnh nhân đang
được điều trị tại khoa tâm thần học của một bệnh viện đa khoa và bệnh viện tâm
thần tỉnh đã chỉ ra tỷ lệ người tìm cách giúp đỡ chữa bệnh tinh thần là 22,2% (8
trường hợp) và 38,5% (10 trường hợp). Điều này cho thấy rằng mô hình phổ
biến mà bệnh nhân tiếp cận để tìm kiếm sự giúp đỡ là nhiều nguồn lực hỗ trợ
khác trước khi điều trị chính thức (một bệnh nhân nam bệnh nhân nói, "... lần
đầu tiên tôi sử dụng y học cổ truyền với các loại thảo mộc như đồ uống ...) Phần
lớn hành vi tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề SKTT của người Việt Nam bị ảnh
hưởng bởi các khái niệm Việt về bệnh tâm thần và gắn với nhiều tên gọi định
kiến như: điên, thần kinh, dở… nên tâm lý miệt thị và mặc cảm có ảnh hưởng
nhiều đến việc cá nhân thực hiện tìm kiếm trợ giúp chủ động [28, tr.34].
Nhìn chung, những nghiên cứu về hành vi tìm kiếm sự trợ giúp trên thế

nguồn chính thống, trong đó bạn bè và gia đình là những nguồn chính của sự
giúp đỡ. Bạn bè thường là những nguồn giúp đỡ ưa thích cho vấn đề của giới trẻ,
trong khi cha mẹ thường được xếp hạng thứ hai sau bạn bè [17]. Hình thức
TKTG qua tổng đài cũng là hình thức ưa thích của VTN. Điều này cho thấy rằng
những người trẻ có thể thích sử dụng hình thức vô danh hơn và ít TKTG từ mối
quan hệ thân thiết khi trải qua ý nghĩ tự tử.
- Các em gái và phụ nữ có nhiều khả năng để tìm sự giúp đỡ hơn trẻ trai và
nam giới [26]. Ngược lại, một người đàn ông có xu hướng tự dựa vào chính
mình hơn là tìm kiếm trợ giúp từ những người khác [37].
- Một số dạng vấn đề thúc đẩy TKTG hơn các vấn đề khác cũng như các
nguồn trợ giúp cho một số vấn đề sẵn có hơn vấn đề khác. Chẳng hạn các vấn đề
về quan hệ bạn bè có TKTG ở bạn bè, quan hệ cá nhân có TKTG ở bố mẹ, và
các vấn đề học tập có TKTG ở giáo viên.
Với số liệu điều tra cho thấy, có rất ít người trẻ tuổi tìm kiếm sự trợ giúp
chuyên nghiệp cho vấn đề SKTT, đặc biệt ở nam giới. Những nguồn trợ giúp ưa
thích của giới trẻ thường là nguồn trợ giúp không chính thức và qua các dịch vụ
tư vấn gián tiếp.
14


 Rào cản tìm kiếm trợ giúp
Có nhiều lý do được đưa ra để giải thích tại sao giới trẻ không tìm kiếm trợ
giúp chuyên nghiệp cho các rối loạn tâm thần phổ biến. Tại mỗi thời điểm, có
những nhân tố cản trở cá nhân thực hiện hành vi tìm kiếm trợ giúp như không
xác định được nhu cầu cần trợ giúp; khi có nhu cầu lại không thể vạch ra ý định
triển khai; và ý định triển khai không phải luôn dẫn đến hành vi thực hiện ý định
đó [38].
Ngay cả khi đã xác định được nhu cầu nhưng thái độ không phù hợp đối
với các vấn đề về SKTT, dịch vụ chăm sóc cũng có thể cản trở việc thực hiện
TKTG [26], chẳng hạn như họ tin rằng việc điều trị sẽ không được giúp đỡ như

giúp từ các dịch vụ chỉ được thực hiện khi thực sự cần thiết và thường có xu
hướng tìm kiếm trợ giúp từ những nguồn trợ giúp không chính thức trước khi
tìm kiếm từ nguồn trợ giúp chuyên nghiệp. Trong khi đó, nam giới có xu hương
tự giải quyết vấn đề của chính mình hơn là chia sẻ hoặc tìm kiếm trợ giúp từ
người khác. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những rào cản cho việc
thực hiện hành vi tìm kiếm trợ giúp thường bị ảnh hưởng từ những yếu tố như
niềm tin vào dịch vụ hoặc khả năng của chuyên gia không như mong muốn, các
vấn đề về chi phí là quá cao hoặc thiếu năng lực nhận thức ra mức độ trầm trọng
của vấn đề.
1.1.3 Tổng quan những nghiên cứu về tương quan giữa nhận thức về Sức
khỏe tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp của học sinh THPT
Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu về tương quan giữa nhận thức về
SKTT và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề SKTT, chỉ mới gần đây khía
cạnh này được Matt O’Conner đề cập đến trong nghiên cứu của mình khi xây
dựng thang đo mức độ nhận thức về SKTT (MHLS). Trong đó, O’Conner chỉ ra
rằng, nhận thức về SKTT và ý định tìm kiếm trợ giúp của mẫu cộng đồng được
nghiên cứu có tương quan thuận khá lớn khi kết hợp thang đo MHLS và bảng
câu hỏi hành vi tìm kiếm trợ giúp chung (GHSQ). Kết quả nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng những cá nhân có nhận thức về SKTT cao hơn sẽ có xu hướng tìm kiếm
giúp đỡ nhiều hơn đối với cả nguồn trợ giúp chính thống và không chính thống.
Tuy nhiên, không có mối quan hệ nào giữa mức độ nhận thức về SKTT và sự
đau buồn về mặt tâm lý [34, Tr.515].

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status