MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
II. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1. Ý nghĩa khoa học
2. Ý nghĩa thực tiễn
III. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
IV. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
1. Khách thể nghiên cứu
2. Phạm vi nghiên cứu
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VI. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT
1. Giả thuyết nghiên cứu
2. Khung lý thuyết
B. TIẾP CẬN MẠNG XÃ HỘI TRONG NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI
I. PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
1. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
2. Phương pháp luận nghiên cứu chuyên ngành
II. HỆ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
III. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
C. MẠNG XÃ HỘI VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM SỨC KHOẺ
I. KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA HỆ THỐNG DỊCH VỤ Y TẾ
II. THÀNH PHẦN, KIỂU DẠNG CỦA MẠNG XÃ HỘI TRONG TÌM KIẾM
SỨC KHOẺ
1. Hành vi tìm kiếm sức khoẻ theo mô hình mạng lưới xã hội truyền thống
2
2. Hành vi tìm kiếm sức khoẻ theo mô hình mạng lưới chức năng
3. Hành vi tìm kiếm sức khoẻ theo mô hình mạng hỗn hợp
vi tìm kiếm sức khoẻ của mình? Đây cũng là cách tiếp cận xã hội học mới mẻ,
phương pháp phân tích dựa trên những lý thuyết về mạng xã hội.
II. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1. Ý nghĩa khoa học
Việc nghiên cứu mạng xã hội và hành vi tìm kiếm sức khoẻ của người dân có
ý nghĩa lý luận trong xã hội học. Thông qua nghiên cứu chúng tôi muốn tìm hiểu và
vận dụng một số lý thuyết xã hội học vào thực tiễn, tìm hiểu vai trò của mạng xã
hội đối với việc lựa chọn hành vi tìm kiếm sức khoẻ của người dân dưới góc độ
nhìn nhận, đánh giá của những người có hành vi tìm kiếm sức khoẻ - với tư cách là
một thành viên của mạng quan hệ xã hội đó.
2. Ý nghĩa thực tiễn
4
Tiếp cận mạng xã hội đối với hành vi tìm kiếm sức khoẻ của người dân là
một hướng đi mới trong nghiên cứu xã hội học. Việc tiến hành đề tài nghiên cứu
giúp chúng tôi tích luỹ được kinh nghiệm trong việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu,
tiếp cận được nhiều lý thuyết xã hội học mới và phương pháp nghiên cứu mới trong
nghiên cứu thực tế,
Đồng thời thông qua nghiên cứu, chúng tôi mong muốn xây dựng một cái
nhìn tương đối đầy đủ về hành vi tìm kiếm sức khoẻ của người dân thông qua các
mạng lưới quan hệ xã hội. Qua đó cung cấp những thông tin đánh giá nhận xét từ
chính những người dân có hành vi tìm kiếm sức khoẻ, giúp cho các nhà chính sách,
những nhà quản lý có thể điều tiết những hoạt động này, góp phần nâng cao chất
lượng dịch vụ y tế.
III. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đặt ra các mục tiêu cho nghiên cứu của mình như sau:
1. Xác định thành phần, kiểu dạng các quan hệ xã hội được xây dựng thông
qua hành vi tìm kiếm sức khoẻ.
2. Tìm hiểu vai trò của mạng xã hội tác động đến hành vi tìm kiếm sức khoẻ
1. Giả thuyết nghiên cứu
- Hành vi tìm kiếm sức khoẻ chủ yếu được thực hiện thông qua kiểu mạng
lưới xã hội theo quan hệ chức năng.
- Vai trò chủ yếu của mạng xã hội trong hành vi tìm kiếm sức khoẻ là thiết lập
những mối quan hệ chức năng nhằm tìm kiếm những thông tin về chăm sóc sức
khoẻ.
2. Khung lý thuyết
6
Cá nhân
Mạng xã
hội
Kiểu dạng,
thành phần
mạng
Vai trò
của mạng
xã hội
Hành vi tìm kiếm
sức khoẻ
B. TIẾP CẬN MẠNG XÃ HỘI TRONG NGHIÊN CỨU VỀ
HÀNH VI
thành lên mạng lưới xã hội thong qua hành vi tìm kiếm sức khoẻ. Đồng thời cũng
đặt ra vấn đề mới mẻ hơn thông qua việc xem xét sự tồn tại hay không tồn tại của
các mối liên hệ này sau khi hành vi tìm kiếm sức khoẻ đã tạm kết thúc. Chúng tôi
mong muốn xây dựng mô hình các mạng xã hội đang tồn tại thông qua việc các cá
nhân tham gia vào hành vi tìm kiếm sức khoẻ và xem xét vai trò của các mạng này
đối với hành vi của các cá nhân.
- Quan điểm “Sức mạnh của những liên hệ yếu”
8
Trên cở sở các nghiên cứu về mạng xã hội, Mark Granovetter đã phát hiện ra
“sức mạnh của những liên hệ yếu” (the strength of the weak ties). Mark
Granovetter đã nghiên cứu về mật độ và cường độ của mạng lưới xã hội trên cấp độ
vĩ mô cho biết những đặc điểm của mạng lưới xã hội có tác dụng khác nhau đối với
sự giao tiếp và sự hội nhập xã hội.
Trái với quan điểm thông thường, ông cho rằng những người có mạng lưới
xã hội dày đặc trong đó mọi người đều quen biết và thân thiết lại bị giới hạn trong
việc trao đổi thông tin và hạn chế sự liên hệvới thế giới bên ngoài.
Ngược lại, một mạng xã hội gồm các mối liên hệ yếu, lỏng lẻo, thưa thớt lại tỏ ra
có lợi cho sự trao đổi thông tin và tạo ra sự hội nhập với xã hội cũng như tạo ra cơ
hội cho cá nhân thay đổi mục đích của họ.
Granovetter phân biệt giữa các “liên hệ yếu” và các “liên hệ vững”. Liên hệ
vững là sự kết nối giữa bạn bè thân hữu. Liên hệ yếu chỉ là các mối quan hệ quen
biết bình thường. Và các nhà xã hội học khác thường có xu hướng tập trung vào
những người có mối liên hệ vững trong các nhóm xã hội, đấy là cái cơ bản và
những liên hệ yếu thường bị coi là không có ý nghĩa trong nghiên cứu xã hội học.
Tuy vậy, Granovetter lại cho rằng giữa hai hành thể có mối liên hệ yếu vẫn có thể
tạo thành cầu nối giữa hai mạng này. Ông đề cao vai trò của các mối liên hệ yếu ớt
đồng thời chỉ ra những hiệu ứng rất mạnh của các mối liên hệ yếu này. Ông cho
rằng các liên hệ yếu có thể dễ dàng thoát khỏi sự ràng buộc của mạng, của nhóm để
khoẻ có một hàm nghĩa rộng hơn khái niệm không có bệnh tật, vốn là đối tượng
của ngành y tế. Khái niệm y tế chỉ liên quan tới tình trạng bệnh tật, trong đó khái
niệm đau ốm để chỉ sự xác định chủ quan của một người cho rằng mình không
khoẻ và khái niệm bệnh tật gắn với tình trạng bệnh lý của cơ thể, nó có tính khách
quan, để chỉ những tổn thương về mặt thực tế. Tuy nhiên, trên thực tế, các thang đo
của y tế, bao gồm thể lực và có hay không các loại bênh thường được dùng để đo
lường tình trạng sức khoẻ, cho dù là nó không đầy đủ.
- Chăm sóc sức khoẻ
Là một khái niệm có nội hàm rộng hơn, bao gồm các hoạt động tăng cường
sức khoẻ, phòng chống bệnh tật và chữa trị bệnh khi đau ốm. Đa số các hoạt động
thuộc ba khối vấn đề này đều là các nhu cầu cơ bản, với một thiết chế xã hội riêng
biệt là hệ thống chăm sóc sức khoẻ, bao gồm hệ thống y tế và các bảo đảm xã hội
10
khác. Hệ thống chăm sóc suíưc khoẻ ra đời tuỳ thuộc vào các đặc điểm và trình độ
phát triển của mỗi xã hội, trong đó hệ thống chính sách và thể chế là những phản
ánh những đặc thù hệ thống chăm sóc sức khoẻ của một xã hội.
- Hành vi tìm kiếm sức khoẻ
Là một khái niệm quan trọng của xã hội học sức khoẻ. Khái niệm này để chỉ
toàn bộ các ứng xử của con người đối với các hoạt động tăng cường, phòng chống
và chữa trị bệnh tật; đó là các phản ứng của con người trước những vấn đề sức khoẻ
trong những môi trường sống cụ thể, bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội.
Các hành vi tìm kiếm sức khoẻ không phải là các ứng xử mang tính ngẫu
nhiên. Nó là sự phản ánh các khái niệm, giá trị, các chuẩn mực về sức khoẻ. Các
hành vi tìm kiếm sức khoẻ tiên tiến, đáp ứng các chuẩn về tăng cường thể lực,
phòng chống bệnh tật, chữa trị đúng, kịp thời…lại được coi là các mô hình, chuẩn
mực cho các hành vi tìm kiếm sức khoẻ.
Dưới góc độ xã hội học hành vi đi tìm sức khoẻ được xem như một hiện
Theo MaxWeber, hành động xã hội là điểm xuất phát của mọi quá trình xã
hội, thậm chí ông còn cho rằng “Xã hội học là khoa học về hành động xã hội”.
Theo quan niệm này, muốn giải thích một hiện tượng xã hội nào, phải quy về
những hành vi cá nhân sơ đẳng coi như một sự kiện xã hội, một dữ kiện riêng.
Hành vi của xã hội của một cá nhân vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ
quan. Hành vi cá nhân đều bao hàm những yếu tố bất biến của những bối quan hệ
văn hoá khác nhau. Có thể coi những hằng số này hợp thành bản tính của con
người, nhưng chỉ có thể hiểu được nhũng hành vi cá nhân khi chúng tuân theo
những hằng số.
Như vậy, khái niệm hành vi chính thống và hành vi xã hội khác nhau một
cách căn bản. Tuy nhiên, khái niệm hành vi xã hội và khái niệm hành động xã hội
có nội dụng cơ bản khá giống nhau.
Hành vi sức khoẻ là hành vi của con người có liên quan đến việc chăm sóc,
bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho bản thân hoặc những người xung quanh. Trong
12
khuôn khổ đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu và tìm hiểu hành vi tìm kiếm
sức khoẻ của mỗi cá nhân dưới ảnh hưởng của mạng xã hội và vai trò của nó trong
quá trình tìm kiếm sức khoẻ.
III. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Xu hướng nghiên cứu mạng xã hội đã và đang được các nhà nghiên cứu Xã
hội học quan tâm và sử dụng trong quá trình nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực xã hội
khác nhau. Hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung chỉ ra vai trò to lớn và các
cách tiếp cận của hệ thống mạng xã hội trong các hành vi cụ thể của mỗi cá nhân.
Trên thế giới, việc áp dụng lý thuyết mạng xã hội trong nghiên cứu tương đối phổ
biến. Lý thuyết mạng xã hội tỏ ra có hiệu quả to lớn trong việc nghiên cứu và giải
thích quá trình di cư, tìm kiếm việc làm và trong hành vi tìm kiếm sức khoẻ. Các
khái niệm về mạng an toàn, mạng sức khoẻ.. đã được sử dụng rộng rãi.
Ở Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu xã hội học vận dụng lý thuyết mạng
thống mạng và vai trò của từng kiểu dạng mạng xã hội ấy có ảnh hưởng như thế
nào trong hành vi tìm kiếm sức khoẻ. Đó là những điểm mới căn bản trong báo cáo
khoa học này của chúng tôi.
C. MẠNG XÃ HỘI VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM SỨC KHOẺ
I. KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA HỆ THỐNG Y TẾ
Trong những năm vừa qua, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu trong
nhiều lĩnh vực của đời sống. Chiến lược phát triển và đầu tư vào con người là
nhiệm vụ trọng tâm của quá trình phát triển. Đảng và nhà nước ta đã không ngừng
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bằng việc đầu tư vào mạng lưới dịch
vụ y tế - chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Chỉ trong vòng hai mươi năm, mạng lưới
dịch vụ y tế công cộng đã được mở rộng và nâng cao chất lượng từ các dịch vụ y tế
cơ sở dến các dịch vụ y tế xã, huyện và trung ương. Song, một thực tế cho thấy
rằng với mạng lưới dịch vụ y tế hiện nay vẫn còn là chưa đủ so với một nước có
dân số đông và tăng nhanh như nước ta. Bên cạnh đó là những căn bệnh hiểm
14
nghèo, những căn bệnh nảy sinh từ cuộc sống nghèo khó, từ sự thiếu thốn của
mạng lưới dịch vụ y tế. Điều này đặt ra cho ngành y tế Việt Nam nhiều vấn đề hết
sức nan giải và cần kíp trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Theo thống kê cho thấy Việt Nam có 817 bệnh viện công trong cả nước.
Trong số đó, phần lớn (64%) là các bệnh viện huyện, trong khi bệnh viện tỉnh
chiếm khoảng 24%. Khoảng 9% số bệnh viện là các bệnh viện chuyên khoa, trong
khi 91% còn lại là bệnh viện đa khoa (kể cả y học dân tộc). Các bệnh viện chuyên
khoa bao gồm các bệnh viện lao, phong, tâm thần và một số ít các trung tâm y tế kỹ
thuật cao như tim mạch, chấn thương và ung thư. Các bệnh viện huyện có quy mô
nhỏ hơn nhiều (71 giường/ bệnh viện) so với các bệnh viện tỉnh (241 giường) và
trung ương (479 giường), vì thế mà các bệnh viện huyện chỉ chiếm 38% tổng số
gường bệnh trong cả nước. Có tới 78 bệnh viện và 4965 giường bệnh trực thuộc
8,30
49
Đa khoa
Chuyên khoa
Tỉnh
Đa khoa
Chuyên khoa
Y học dân tộc
Huyện(tất cả là
đa khoa)
Bệnh
viện
không thuộc bộ
y tế (tất cả là đa
khoa)
Tất cả bệnh
viện
10
7
197
91
65
41
525
1,22
78
9,55
4.965
5,06
64
817
100,00
98.117
100,00
120
15
(Số bệnh viện theo tuyến và theo chuyên khoa -1997)
Nguồn: Bộ Y tế - 1997
Số liệu trên cho thấy, mức tăng này không theo kịp mức tăng dân số, kết quả
là số y bác sĩ, số giường bệnh tính, trên đầu người dân đã giảm đi đáng kể theo thời
gian. Khả năng cung ứng của mạng lưới y tế không theo kịp nhu cầu khám chữa
bệnh của người dân. Chính những hạn chế này đã có những tác động không nhỏ
Hành vi chăm sóc sức khoẻ được coi là một hiện tượng xã hội, nó cũng chịu
tác động của các yếu tố về nhu cầu. Nói đến hành vi tìm kiếm sức khoẻ là nói đến
nhu cầu được đáp ứng những đòi hỏi về chăm sóc sức khỏe một cách hoàn thiện,
với mức sống và trình độ dân trí ngày càng cao thì nhu cầu đặt ra đối với các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Nhằm thoả mãn
những nhu cầu về chất lượng dịch vụ, thì hành vi tìm kiếm sức khoẻ của người dân
quan tâm đến chất lượng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ thường được xem là yếu tố
ảnh hưởng hàng đầu tới việc lựa chọn cơ sở, hình thức khám chữa bệnh của người
dân. Tuy nhiên, đôi khi người ta đặt yếu tố chất lượng xuống sau mối quan hệ.
- Yếu tố mối quan hệ xã hội/ mạng xã hội
Trong hành vi tìm kiếm sức khoẻ, con người thường có xu hướng thiết lập
mối quan hệ đối với bác sĩ hoặc những người có chức năng chăm sóc sức khoẻ của
người dân. Bằng quan hệ chức năng, người bệnh có thể tìm thấy sự tin tưởng hơn
trong quá trình khám chữa bệnh.
Nhà anh có quem một bác sỹ làm ở bệnh viện tư, ở đó họ có dịch vụ khám tại
nhà, lần đầu gọi điện mời người ta đến khám thì chưa quen ai cả, sau đó thì mình
thiết lập mối quan hệ với chị bác sỹ đến nhà khám cho con mình, xin số điên thoại
di động, lần sau khi bọn trẻ có bị ốm đau sổ mũi gì thì chỉ gọi điện cho chị ấy là
chị ấy đến.Giờ thì thành thân quen rồi, chị ấy quen khám cho con mình rồi nên
mình cũng cảm thấy yên tâm hơn, chứ đưa bọn trẻ con vào bệnh viện cũng ngại
lắm.
17
(Nam, 41 tuổi, công nhân viên chức)
Ngoài ra, người ta còn sử dụng các mối quan hệ khác để tìm kiếm những
thông tin, sự giúp đỡ của người thân, bạn bè… để lựa chọn phương pháp, cách thức
chữa trị. “Có bệnh thì vái tứ phương” đặc biệt đối với những người mắc những
bệnh khó chữa thì mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong hành vi tìm kiếm
sức khỏe. Thông qua các mối quan hệ, người ta tìm kiếm những thông tin, sự giúp
mạng hình sao để mô tả những kiểu mạng xã hôi khác nhau được hình thành trong
quá trình tìm kiếm sức khoẻ. Những yếu tố cơ bản nhất tạo nên mạng trong tìm
kiếm sức khoẻ đó là các thành viên trong gia đình bao gồm bố mẹ, anh chị em, bà
con ruột thịt; những người quen của gia đình, các bạn bè của cá nhân và những
người khác; những nhóm, tổ chức xã hội mà họ có những mối liên hệ nhất định
trong quá trình sống.
Ở góc độ lý thuyết, dựa trên đặc trưng của các mối liên hệ chúng ta có thể
khái quát 3 kiểu mạng xã hội:
- Kiểu truyền thống: đặc điểm của kiểu mạng lưới xã hội truyền thống là
quan hệ của các cá nhân dựa trên quan hệ họ hàng, huyết thống. Kiểu mạng truyền
thống xuất hiện từ rất sớm. Emile Durkheim cho rằng đó chính là kiểu đoàn kết cơ
giới - đặc trưng cho các xã hội nông nghiệp, lạc hậu.
- Kiểu mạng hiện đại: các cá nhân chủ yếu thực hiện các quan hệ chức năng
với các cơ quan, tổ chức và với các thiết chế xã hội khác như y ế, giáo dục, pháp
luật, tôn giáo, đạo đức…Quan hệ của các cá nhân là quan hệ chức năng, theo Emile
Durkheim đó là kiểu đoàn kết hữu cơ, chỉ xuất hiện trong các xã hội công nghiệp
hiện đại.
- Kiểu mạng lưới xã hội hỗn hợp: đây là kiểu mạng lưới xã hộ được đánh giá
là phổ biến nhất hiện nay. Ở kiểu mạng này, các cá nhân không chỉ thiết lập các
quan hệ trên cơ sở huyết thống, thân tộc mà còn cộng gộp cả kiểu quan hệ chức
năng. Trong xã hội hiện nay, kiểu quan hệ hỗn hợp tỏ ra có hiệu quả cao hơn hẳn so
với hai kiểu mạng lưới xã hội trước đó.
19
Quan hệ gia
đình
Cá nhân
Qua nghiên cứu thực tế tại bệnh viện Bạch Mai - một trong những bệnh viện
trực thuộc trung ương lớn nhất cả nước cho thấy, các bệnh nhân có xu hướng tận
dụng mối quan hệ sẵn có của mình hoặc tạo dựng những mối quan hệ xung quanh
hành vi tìm kiếm sức khoẻ. Song đối với những bệnh nhân có người thân ruột thịt
làm trong bệnh viện thì việc khám chữa bệnh lại trở nên dễ dàng và nhanh chóng,
không những thế lại còn rất hiệu quả. Các mối quan hệ này tạo nên những mạng
lưới xã hội trong quá trình khám chữa bệnh.
“Hầu như cả nhà tôi đều theo nghề y, dược nên việc khám chữa bệnh với tôi
cũng không quá phức tạp.. Nếu bệnh nhẹ tôi chỉ cần ở nhà để bố mẹ tôi khám chữa,
nhưng bệnh nặng nên tôi phải đến đây vì ở nhà không có thiết bị máy móc hiện
đại”
( Nữ, 25 tuổi, nhân viên máy tính)
Có thể khẳng định, mạng lưới xã hội có vai trò quan trọng quá trình tìm kiếm
sức khoẻ của mỗi cá nhân (được nhóm nghiên cứu đề cập rõ hơn ở phần sau).
Thông qua phỏng vấn sâu một số đối tượng, chúng tôi có thể khẳng định rằng kiểu
mạng lưới xã hội truyền thống mà ở đó các quan hệ xã hội chủ yếu mang tính chất
gia đình, thân tộc được tận dụng rất nhiều trong quá trình tìm kiếm sức khoẻ. Khi
được hỏi, hầu hết các bệnh nhân đều khẳng định quan hệ của họ với y, bác sĩ hay kĩ
thuật viên y tế trong bệnh viện là quan hệ họ hàng, đều là “những người trong gia
đình…”
“Người trong nhà thì nhờ vả nhau dễ hơn, mà thực sự thì mình cũng thấy tin
tưởng hơn khi khám ở chỗ người nhà …”
(Nam, 42 tuổi, công nhân)
Như vậy có thể lý giải rằng, chính các đặc tính cố kết cộng đồng, các quan
niệm của Nho giáo như chữ hiếu, chữ nghĩa có vai trò quan trọng trong việc tác
động và chi phối các mối quan hệ. Giúp đỡ nhau không đơn thuần là tự nguyện mà
dường như nó trở thành một nghĩa vụ, một chuẩn mực đạo đức ngầm chi phối mỗi
cá nhân.
Hình 2: Kiểu hành vi tìm kiếm sức khoẻ theo mô hình mạng lưới truyền thống
Một đặc điểm có ở hầu hết các kiểu dạng mạng lưới xã hội là quan hệ của hai
chủ thể góp mặt trực tiếp trong quá trình tìm kiếm sức khoẻ (bệnh nhân – y, bác sĩ)
thường là các mối quan hệ gián tiếp. Chính vì vậy, mức độ tương tác giữa hai chủ
thể quan hệ chỉ thực sự mạnh mẽ trong quá trình tìm kiếm sức khoẻ. Sau đó những
tương tác này trở nên yếu dần. Để lý giải cho điều này, chúng tôi đã tiến hành
phỏng vấn sâu một số đối tượng và thấy rằng: sau một hành vi tìm kiếm sức khoẻ,
bệnh nhân thường ít liên lạc với thầy thuốc phần vì họ đã hết bệnh, phần vì điều
kiện ở xa, bận rộn…Theo chúng tôi, ngoài các nguyên nhân trên các mối quan hệ
này yếu dần đi bởi vì bản thân nó mang tính chất của các mối quan hệ gián tiếp,
22
thông qua những cá nhân khác. Thứ hai là do những đặc tính trong quan hệ họ
hàng, tạo ra “sức mạnh ngầm” chi phối mối quan hệ này. Đôi khi chỉ cần một tiếng
nói của ông trưởng họ cũng có thể mạng lại những tác động lớn hơn cả những
tương tác liên tục. Cũng như các kiểu mạng xã hội khác, ở kiểu mạng này, các cá
nhân luôn có xu hướng duy trì, củng cố các mối quan hệ sau lần gặp gỡ đầu tiên.
Điều này được khẳng định bởi hầu hết các đối tượng hỏi, vì nó có lợi cho họ. Cũng
có rất nhiều cách để duy trì các mối quan hệ này: “Thỉnh thoảng gọi điện thăm hỏi,
cảm ơn. Những dịp lễ Tết ở quê lên chơi thì mang theo quà biếu để trả ơn họ…nếu
có việc gì lại có thể nhờ được giúp đỡ…”
Một biểu hiện khác của mô hình mạng lưới xã hội theo kiểu truyền thống đó
là mạng các quan hệ họ hàng xung quanh bệnh nhân. Kiểu mạng này không hẳn chỉ
là quan hệ thầy thuốc bệnh nhân mà trong hành vi tìm kiếm sức khỏe, mạng truyền
thống cũng được sử dụng như là một nguồn lực để chia sẻ tình cảm, thông tin, vật
chất và tiền bạc, công sức. Người Việt Nam vốn có tinh thần tương thân tương ái,
“lá lành đùm lá rách”, nên khi trong gia đình có một người bị bệnh thì cả nhà cùng
góp công sức, tiền bạc và vật chất ra để giúp đỡ người bệnh. Đây có thể coi là một
Các quan hệ chức năng thường được xây dựng trên cở sở các quan hệ trong
nội bộ một nhóm, một tổ chức nhất định hay là quan hệ giữa các nhóm, các tổ chức
khác nhau. Các quan hệ chức năng bao gồm rất nhiều đầu mối liên hệ và thường
mang tính chất công việc. Như vậy ngoài quan hệ gia đình, không ít trường hợp
nhờ mối quan hệ mà họ đã xây dựng được trong quá trình sống và làm việc trong
một nhóm, tổ chức hay một cộng đồng nhất định như quan hệ đồng nghiệp, quan hệ
bạn bè, quan hệ đồng hương, quan hệ làng xóm…có thể quan hệ đó là thân thiết,
cũng có thể đó là quan hệ xã giao bình thường, họ đều tận dụng sao cho quá trình
khám chữa bệnh của mình được thuận lợi và nhanh chóng.
“Tôi có quen một bác sỹ trước kia làm ở bệnh viện huyện nhưng sau này được
chuyển lên bệnh viện Bạch Mai, trước khi lên Hà Nội tôi có gọi điện nhờ bác ấy
giúp đỡ trong việc khám chữa bệnh cho con trai tôi… ”.
(Nam, 35 tuổi, làm nông nghiệp)
24
Mối quan hệ này vốn đã có từ trước và thường được củng cố qua những lần
thăm hỏi và ngày càng trở nên thân thiết hơn. Một điển hình khác về mạng lưới
chức năng:
“Chị làm ở phòng tài vụ, còn anh ấy là phó phòng kinh doanh của công ty.
Anh ấy có bạn học cũ là kỹ thuật viên y tế tại Xanhpon nhưng anh này lại quen một
đồng nghiệp ở Bạch Mai. Anh bạn chi gọi điện nhờ anh ta đưa chị đến Bạch Mai
khám. Thực ra chi khám ở Saint - Paul cũng được nhưng bạn bè khuyên chị nên
khám ở Bạch Mai tốt hơn bởi vì ở đó tập trung nhiều các chuyên gia đầu ngành
trong lĩnh vực tiêu hoá. Vậy là chị được giới thiệu đến gặp anh kỹ thuật viên y tế
của Bạch Mai. Anh ấy đã giúp đỡ chị rất nhiều trong quá trình khám. Bây giờ chị
và anh ấy thỉnh thoảng vẫn liên lạc. Chị vẫn giữ số điện thoại của anh ấy…”
(Nữ, 32 tuổi, giáo viên).
Qua trường hợp này chúng ta nhận thấy rằng, mạng lưới chức năng thường
chúng ta còn có thể đề cập đến một kiểu quan hệ chức năng xảy ra giữa các bệnh
25
nhân với nhau - những người có cùng nhu cầu tìm kiếm sức khoẻ. Đây là trường
hợp của những bệnh nhân bị suy thận của bệnh viện Bạch Mai. Suy thận là một căn
bệnh cực kỳ nguy hiểm và ít có khả năng thay thận. Suy thận làm giảm chức năng
lọc máu của thận. Để duy trì sự sống, các bệnh nhân suy thận phải thường xuyên
đến bệnh viện để lọc máu bằng máy nhân tạo. Trong hoàn cảnh như vậy, những
người bệnh đã cảm thông lẫn nhau, họ liên kết và gắn bó với nhau ngày càng chặt
chẽ hơn tạo nên một mạng lưới xã hội đặc biệt.
Đối với mạng theo quan hệ chức năng, qua quá trình nghiên cứu chúng tôi
phát hiện ra một dạng vai trò khá đặc biệt trong quá trình tìm kiếm sức khoẻ của
người dân đó là với những bệnh nhân khi đi khám chữa bệnh mà chưa có các mối
quan hệ có sẵn và sự hiểu biết về cơ sở khám chữa bệnh thì họ thiết lập những
thông tin về cơ sở khám chữa bệnh thông qua “cò bệnh viện” – “cò bệnh viện” là
những người làm dịch vụ môi giới, cung cấp thông tin cho những bệnh nhân đến
khám chữa bệnh tại bệnh viện. Thông thường, những người này đã có sự thoả thuận
với một bác sĩ nào đó trong bệnh viện. Họ đóng vai trò tìm kiếm khách hàng cho
các bác sĩ và họ nhận được phần trăm hoa hồng từ phía bác sỹ.
“Anh đưa người nhà vào khám bệnh và được yêu cầu phải mổ ngay. Vậy là
chờ để lấy quyết định mổ trong bệnh viện, nhưng chờ suốt cả buổi sáng mà không
xin được quyết định mổ, may mà khi ra cổng lại gặp một người xe ôm, họ gợi ý sẽ
giúp anh với điều kiện anh phải trả cho anh ta một trăm nghìn đồng, anh đồng ý
thì được anh ta đưa đi gặp bác sỹ. Người bác sỹ nói cho anh biết lệ phí mổ mất hai
triệu rưỡi, nếu đồng ý thì hẹn 5 giờ chiều ngày hôm đó tại bệnh viện Tràng An.
Anh đồng ý vì không thể chờ được nữa, thế là chiều hôm ấy người nhà anh được
mổ luôn như thoả thuận.”
(Nam, 42 tuổi, công nhân)
Đối với những bệnh nhân không có những mối quan hệ quen biết từ trước,