ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHAN THị NGọC
BIếN ĐổI SINH Kế CủA NÔNG DÂN ở MộT
LàNG VEN ĐÔ
(Trờng hợp làng Gia Trung, Mê Linh, Hà Nội)
LUậN VĂN THạC Sĩ LịCH Sử
1
Hà Nội - 2013
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHAN THị NGọC
BIếN ĐổI SINH Kế CủA NÔNG DÂN ở MộT
LàNG VEN ĐÔ
(Trờng hợp làng Gia Trung, Mê Linh, Hà Nội)
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử
BIẾN ĐỔI SINH KẾ Ở GIA TRUNG.........................................................50
3.1. Biến đổi của nghề nông.............................................................................................51
3.2. Sự xuất hiện của tầng lớp công nhân.........................................................................55
3.3. Sự phát triển của kinh doanh nhà trọ.........................................................................58
3.4. Sự phát triển của các hoạt động buôn bán và dịch vụ...............................................60
3.5. Một số hoạt động sinh kế khác..................................................................................62
3.6. Tác động của thị trường.............................................................................................64
3.7. Tiểu kết......................................................................................................................67
Chương 4........................................................................................................67
MỘT SỐ BIẾN ĐỔI VỀ VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI Ở GIA TRUNG..........67
4.1. Những biến đổi trong không gian cư trú...................................................................67
4.2. Biến đổi về mức sống................................................................................................69
4.3. Biến đổi trong quan hệ xã hội....................................................................................71
4.4. Biến đổi giá trị văn hóa làng xã truyền thống............................................................72
3
4.5. Phân hóa xã hội..........................................................................................................76
4.6. Tiểu kết......................................................................................................................77
KẾT LUẬN....................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................81
PHỤ LỤC.......................................................................................................93
4
DANH MỤC BẢNG
thập kỷ qua nhanh chóng trở thành đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học
thuộc các lĩnh vực khác nhau trong đó có các nhà nhân học, dân tộc học, xã
hội học, tâm lý học, kinh tế học,…
Tuy nhiên, khảo sát tài liệu nghiên cứu của tôi cho thấy còn có ít những
nghiên cứu dân tộc học về những biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội ở những
cộng đồng làng cụ thể. Chính vì thế, tôi muốn tìm hiểu về những biến đổi sinh
kế của các hộ gia đình nông dân ở một làng ven đô Hà Nội trong bối cảnh đổi
mới và dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa trong hơn một thập kỷ
vừa qua.
2. Mục đích nghiên cứu
1. Tìm hiểu lịch sử hình thành và biến đổi về mặt hành chính của làng
Gia Trung, thấy được quá trình biến động đất đai của làng trong lịch sử cũng
như hiện tại. Trên cơ sở đó phân tích quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông
nghiệp để phục vụ mục tiêu phát triển công nghiệp và đô thị.
2. Dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững về sự biến đổi các nguồn
6
vốn dưới tác động của việc thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp để phân
tích và lý giải quá trình biến đổi sinh kế của hộ gia đình nông dân ở Gia
Trung, những loại hình sinh kế mới mà người nông dân đã và đang tiếp nhận
và thích nghi.
3. Lý giải một số biến đổi về văn hóa, xã hội ở Gia Trung trong môi
trường sống mới dưới tác động của công nghiệp và đô thị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này đặt trong bối cảnh các vùng ven đô Hà Nội đang từng
ngày thay đổi cả về vật chất và lối sống. Luận văn chọn làng Gia Trung, xã
Quang Minh, huyện Mê Linh làm địa bàn nghiên cứu, bởi trong khoảng hơn
10 năm qua, ở đây có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng, chứng
kiến bước chuyển mình từ xã hội nông thôn sang đô thị, tạo nên bức tranh
quanh họ. Tôi sẽ giới thiệu và phân tích chi tiết về khung sinh kế bền vững ở
phần tiếp theo của Luận văn.
5. Đóng góp của luận văn
Với nguồn tài liệu và những phân tích về biến đổi sinh kế của các hộ
gia đình nông dân ở Gia Trung trong hơn một thập kỷ qua, luận văn mong
muốn đóng góp thêm những tri thức về thực tiễn biến đổi sinh kế trong không
gian làng ven đô dưới tác động của các chính sách phát triển công nghiệp và
đô thị ở Hà Nội.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục
thành 4 chương chính:
Chương 1: Tổng quan tài liệu và tiếp cận lý thuyết.
Chương 2: Làng Gia Trung và quá trình thu hồi quyền sử dụng đất
nông nghiệp.
Chương 3: Biến đổi sinh kế ở Gia Trung.
Chương 4: Một số biến đổi về văn hóa và xã hội ở Gia Trung.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về làng Việt Nam, bản chất và quá trình biến đổi của làng
Việt là chủ đề hấp dẫn và được nghiên cứu từ khá sớm bởi cả những nhà
nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Chủ đề này đã thu hút và làm nổi danh
nhiều học giả trong giới nghiên cứu nhân học nói riêng và giới khoa học xã
hội ở Việt Nam nói chung như Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Toan Ánh,
Từ Chi, Phan Đại Doãn,... và một số nhà khoa học nước ngoài như Pierre
Gourou, James C.Scott, Samuel L.Popkin... Những công trình nghiên cứu của
vùng chuyển đổi đã biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, buộc người ta
phải nhìn nhận lại và đánh giá đúng mức những tác động to lớn mà sự chuyển
đổi đó đã tạo ra. Người dân vùng chuyển đổi trở thành đối tượng nghiên cứu
và quan tâm của nhiều nhà khoa học, đi đầu trên lĩnh vực này là các nhà kinh
tế học, dân tộc học, nhân học, xã hội học và các loại phương tiện thông tin đại
chúng, cũng như các ban ngành từ Trung ương đến địa phương. Với vùng ven
đô Hà Nội, lúc đầu địa bàn của các nghiên cứu đều tập trung ở các quận
huyện được sáp nhập vào nội đô Hà Nội như phường Yên Sở (Hoàng Mai),
khu vực quận Tây Hồ (phường Phú Thượng), khu vực các làng (làng Tám)
của phường Giáp Bát... Các nghiên cứu này bước đầu tập trung về việc bán
đất, giá đất tăng, quá trình lan tràn của đô thị hóa từ nội đô ra, việc chuyển đổi
từ hoạt động sản xuất nông nghiệp sang làm các loại hình công việc khác như
kinh doanh dịch vụ; mà chưa khảo sát kỹ về quá trình công nghiệp hóa, đô thị
hóa dẫn đến việc thu hồi quyền sử dụng đất, suy giảm hoạt động sinh kế
truyền thống của nông dân và những mâu thuẫn nông thôn do thu hồi đất gây
ra. Để bổ sung khoảng trống đó, các công trình nghiên cứu nông thôn thời
gian gần đây đã có một cách nhìn phân tích, chuyên ngành hơn và chia đối
tượng nghiên cứu thành các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội khác
nhau nên có thể đi sâu nghiên cứu vào từng mảng nhỏ. Phải nói rằng, các
10
nghiên cứu này đã góp phần thay đổi căn bản nhận thức của chúng ta về khả
năng phát triển toàn diện của nông thôn đồng bằng sông Hồng nói chung
trong quá trình đổi mới.
Tổng hợp tài liệu nghiên cứu cho thấy có một số lượng đáng kể các công
trình nghiên cứu trực tiếp hoặc liên quan đến chủ đề luận văn. Trong đó, có bài
nghiên cứu “Vấn đề đất đai ở nông thôn Việt Nam” của tác giả Lê Du Phong
[93, tr. 34-42]. Tác giả phân tích và khái quát những biến đổi quan trọng trong
trị vật chất, hạ tầng cơ sở và nếp sống văn hóa đô thị. Đồng thời, những bất
cập mà quá trình này mang lại là không nhỏ, thành vấn đề xã hội bức xúc ở
những địa bàn bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, đó là mất đất,
không có hoặc thiếu việc làm.
Nghiên cứu “Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam”
của tác giả Đình Quang [99] khảo sát về đời sống của những người công nhân
ở các khu công nghiệp, một mặt đời sống văn hóa, tín ngưỡng của tầng lớp
này đã có nhiều biến đổi sau khi trở thành công nhân lao động ở khu vực công
nghiệp. Nhưng mặt khác, những giá trị văn hóa và lối sống tiêu cực của xã hội
hiện đại cũng đã làm mất đi bản chất nông nghiệp của nhiều đối tượng. Tác
giả đánh giá cao vai trò tiếp thu, biến đổi và thích ứng của cá nhân, gia đình
và xã hội.
Tổng hợp lại các nguồn tài liệu đã nghiên cứu về làng xã trong thời kỳ
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tôi nhận thấy, các nghiên cứu về
công nghiệp hóa, đô thị hóa và người nông dân bị thu hồi đất trong khoảng
thời gian trước năm 2008 tập trung vào hai vấn đề. Trước hết, là những bức
xúc của người nông dân về việc bị thu hồi đất, về chính sách đền bù và hỗ trợ
đất đai, về các vấn đề việc làm của người nông dân ở các vùng bị thu hồi đất.
Đồng thời, cộng đồng làng đang từng ngày biến đổi trong xu thế công nghiệp
hóa, đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay. Trong số này, những làng ven đô luôn
nằm trong vòng tác động đầu tiên và trực diện của mọi thay đổi, là tâm điểm
của sự va đập giữa cái cũ và cái mới, truyền thống và hiện đại. Làng ven đô
12
vẫn cơ bản là một xã hội nông nghiệp - nông thôn nhưng đồng thời cũng
mang trong nó nhiều yếu tố của xã hội đô thị. Ngoài ra, các nghiên cứu về đô
thị hóa, trong đó có những nghiên cứu mang tính tổng quát và những nghiên
cứu cụ thể về một vấn đề của đô thị hóa. Các nghiên cứu đã khái quát nên bức
hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ
tương lai” [72, tr. 3].
Khung sinh kế bền vững lấy con người làm trung tâm của sự phân tích
nhằm giải thích mối quan hệ giữa con người, sinh kế của họ, môi trường sống,
các chính sách và các loại thiết chế khác liên quan đến việc sử dụng các loại vốn
mà họ có để sinh tồn và ứng phó với những rủi ro hay biến đổi diễn ra với họ và
xung quanh họ. Khung phân tích này được cụ thể hóa thành sơ đồ dưới đây:
Hình 1: Phân tích khung sinh kế của nông dân nghèo
Bối cảnh
dễ tổn
thương
- Xu hướng
- Thời vụ
- Chấn động
(trong tự
nhiên và
môi trường,
thị trường,
chính trị,
chiến
tranh…)
Con người
Xã hội
Vật chất
Tự nhiên
vững
- Chính sách và
thái độ đối với
khu vực tư nhân
- Các thiết chế
công dân, chính
trị và kinh tế (thị
trường, văn hoá).
Các kết quả SK
- Thu nhập nhiều
hơn
- Cuộc sống đầy đủ
hơn
- Giảm khả năng tổn
thương
- An ninh lương thực
được cải thiện
- Công bằng xã hội
được cải thiện
- Tăng tính bền
vững của tài nguyên
thiên nhiên
- Giá trị không sử
dụng của tự nhiên
được bảo vệ.
Nguồn: DFID (2004)
Như vậy, khung sinh kế bền vững nhấn mạnh rằng sinh kế của con
lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình.
Ở Việt Nam, khung sinh kế bền vững đã được ứng dụng vào nhiều
nghiên cứu hành động ở cả khu vực nông thôn, đô thị, bởi cả các nhà khoa
học, cơ quan Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ. Trong đề tài nghiên cứu
này, tôi sử dụng khung sinh kế bền vững như được trình bày tóm lược ở trên
15
để phân tích tiếp cận đất đai, quá trình thu hồi đất nông nghiệp để phát triển
công nghiệp và đô thị, những biến đổi sinh kế của các hộ gia đình nông dân
như là một hệ quả của thu hồi đất nông nghiệp ở một làng ven đô Hà Nội cụ
thể (ở một số mặt: mức độ tiếp cận đất nông nghiệp, cơ cấu nguồn thu nhập,
cơ cấu lao động, nghề nghiệp và mức sống,...). Cụ thể hơn, vận dụng khung
sinh kế bền vững vào đề tài nghiên cứu của mình, tôi muốn đi sâu tìm hiểu và
lý giải những thay đổi về các chiến lược sinh kế mới của người nông dân ven
đô sau khi đã mất hết tư liệu sản xuất truyền thống. Lập luận chính trong luận
văn này không tập trung vào sự dịch chuyển từ vốn tự nhiên sang vốn tài
chính để thực hiện chiến lược sinh kế bằng những ngành nghề phi nông
nghiệp. Mà nghiên cứu tập trung lý giải về các loại hình sinh kế mới mà người
nông dân đã và đang từng bước chuyển đổi, đặc điểm cũng như xu hướng phát
triển của loại hình sinh kế mới này. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số đặc điểm
của hộ gia đình nông dân bị thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp cũng như
một số thay đổi của các hộ gia đình này từ trước và sau khi bị thu hồi đất; một
số khác biệt giữa các hộ gia đình bị thu hồi hết đất và không bị thu hồi hết. Từ
đó, mong muốn có thể gợi ra những suy ngẫm khoa học về ảnh hưởng nhiều
chiều của quá trình thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế của hộ gia đình nông
dân trong điều kiện cụ thể của các gia đình này. Tôi cũng muốn có một cách
nhìn đối sánh về loại hình sinh kế truyền thống và sinh kế mới mà người nông
dân ven đô đã và đang tiếp nhận để ứng phó với những biến đổi về tư liệu sản
466 - 467].
Dưới góc độ quản lý, các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra một số
định nghĩa về vùng ven đô, có thể tóm tắt như sau:
Về mặt địa lý, vùng ven đô được hiểu là khu vực kế cận với thành
phố. Vùng ven đô là nơi vừa có các hoạt động đặc trưng cho nông
thôn vừa có các hoạt động mang tính chất đô thị. Vùng ven đô
không tồn tại độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn
- ven đô - đô thị. Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của các bộ
phận hợp thành hệ thống nông thôn - ven đô - đô thị được thể hiện ở
17
chỗ nông thôn và ven đô là nơi cung cấp thường xuyên, lâu dài
lương thực thực phẩm, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động cho
đô thị, ngược lại đô thị tạo ra thị trường để tiêu thụ các sản phẩm
nông nghiệp, tạo cơ hội việc làm và nơi ở cho các dòng di dân từ
nông thôn đến đô thị và cung cấp các sản phẩm phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp. Thông thường, người ta xác định ranh giới của
vùng ven đô dựa vào các chính sách quy hoạch đô thị và các biện
pháp quản lý hành chính [110, tr. 80].
Nếu xem xét từ tiêu chí địa giới hành chính thì:
“Làng ven đô ở đây được hiểu bao gồm ngoài các làng thuộc các huyện
ngoại thành như Thanh Trì, Gia Lâm, Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm còn có tất
cả các làng thuộc các quận: Cầu Giấy, Tây Hồ, Thanh Xuân, Hoàng Mai và
Long Biên, vốn là các làng (thuộc xã, huyện) được chuyển thành các làng
trong phường (thuộc quận) trong khoảng thời gian mươi năm trở lại đây” [52,
tr. 7]. Theo quan niệm này thì toàn bộ các làng thuộc các huyện mới sáp nhập
năm 2008 của tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh được xác định là ranh giới của
các làng ven đô. Một lần nữa, địa giới các làng ven đô của Hà Nội được mở
nghiệp tự cung tự cấp, sản xuất và tiêu dùng trên cùng một mảnh đất chung
mà quyền chiếm hữu đất đai tùy thuộc vào tư cách thành viên trong cộng
đồng đó, gắn bó với nhau bởi các quan hệ phụ thuộc cá nhân có tính chất
bình đẳng [119, tr. 20].
Tchayanov, nhà nông học người Nga, vào những năm 20 của thế kỷ XX
đưa ra khái niệm “kinh tế nông dân”, vốn được hiểu là một hình thức tổ chức
kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình và nhằm thỏa mãn
nhu cầu của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công
theo lao động đối với mỗi thành viên của nó. Về mặt kinh tế, do đặc điểm tự
cung tự cấp và những hạn chế của sức sản xuất gia đình, kinh tế nông dân về
cơ bản, nhằm cân bằng khả năng lao động và nhu cầu tiêu dùng của hộ gia
đình mà không nhằm vào hoạch toán lợi nhuận như trường hợp của xí nghiệp
tư bản chủ nghĩa [119, tr. 22].
19
Mấy thập kỷ qua, trong giai đoạn hợp tác xã nông nghiệp, kinh tế hộ
còn nhiều hạn chế đã làm cho sản xuất nông nghiệp bị sút kém, bị khủng
hoảng. Tuy nhiên, kinh tế hộ gia đình không phải là vạn năng, không thể tồn
tại độc lập, không thể tự thân hiện đại hóa. Kinh tế hộ bao giờ cũng phải tồn
tại trong sự hợp tác đa dạng, phong phú. Sự phát triển lâu dài của kinh tế thị
trường và tổ chức hợp tác xã không làm thay đổi được kinh tế hộ gia đình. Do
vậy, trong thiết chế chính trị - xã hội nông thôn, thành tố đầu tiên phải kể đến
là hộ gia đình. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Việt
Nam xác định kinh tế hộ gia đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần thiết cho
quyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến
hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2.2.3. Công nghiệp hóa và đô thị hóa
Trên thế giới, vấn đề công nghiệp hóa, đô thị hóa và tác động của nó
bản quá trình sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
sang phương thức sản xuất mới hiện đại. Trong quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hoá, tiến trình phát triển xã hội đã có thay đổi căn
bản, đó là phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, là
thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp. Để đẩy
mạnh công nghiệp hóa, đô thị hoá cần phải thực hiện việc thu hồi
đất cho xây dựng các khu công nghiệp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội” [94, tr. 8].
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng cách định nghĩa về công nghiệp hóa
và đô thị hóa của nhóm tác giả Vũ Đình Tôn, Nguyễn Thị Huyền, Võ Trọng
Thành cho rằng “Công nghiệp hoá, đô thị hoá được hiểu là quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ và tập trung dân cư đô thị”
[118, tr. 50]. Quan điểm của nhóm tác giả này nhấn mạnh đến sự chuyển dịch
theo hướng nông thôn sang đô thị, nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Công
nghiệp hóa và đô thị hoá hiểu theo cách này thường bao hàm một số nét đặc
trưng cơ bản sau: Có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang
21
công nghiệp; Làm chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công
nghiệp, nâng cao tỷ lệ lao động trong công nghiệp; Có sự tăng trưởng nhanh
của dân số và đô thị hoá; Đất đai chuyển từ phục vụ sản xuất nông nghiệp
sang phục vụ sản xuất công nghiệp và các mục đích phi nông nghiệp khác.
Áp dụng khái niệm công nghiệp hóa và đô thị hóa với nội hàm mà
nhóm tác giả Vũ Đình Tôn, Nguyễn Thị Huyền, Võ Trọng Thành đưa ra,
chúng ta có thể thấy quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra ở vùng
ven đô Hà Nội bao hàm những chuyển đổi ở nhiều khía cạnh khác nhau, như
chuyển đổi trong sử dụng đất nông nghiệp, chuyển đổi về cơ sở hạ tầng, di cư,
các hoạt động sinh kế, cư trú và lối sống của cộng đồng dân cư và không gian
đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Ở mục 5, điều 4 đề cập: “Thu hồi
đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho các tổ chức, ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn
quản lý theo quy định” [84, tr. 02].
Như vậy, một quan điểm và chủ trương cơ bản xuyên suốt chính sách
đất đai của Nhà nước Việt Nam là Nhà nước giao quyền sử dụng đất nông
nghiệp, đất phi nông nghiệp cho cá thể, hộ gia đình và các tổ chức, vì thế Nhà
nước có quyền và có thể thu hồi quyền sử dụng đất ấy với một mức giá đền bù
do Nhà nước quy định. Quan điểm này không chỉ được thể hiện ở trong văn
bản, mà đã được áp dụng vào thực tiễn thu hồi đất phục vụ các chính sách
phát triển trên phạm vi cả nước nói chung và trong quá trình công nghiệp hóa,
đô thị hóa ở khu vực ven đô nói riêng.
1.3. Tiểu kết
Làng Việt và những biến đổi trong không gian làng là một vấn đề cần
được tìm hiểu và giải thích. Việc tìm hiểu những biến đổi về sinh kế của các
hộ gia đình nông dân ở các làng ven đô do tác động của quá trình công nghiệp
hóa và đô thị hóa trong bối cảnh xã hội Việt Nam từ khi đổi mới đến nay lại
càng là một đề tài hấp dẫn cần được tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau.
Nghiên cứu này của tôi tìm hiểu về những biến đổi sinh kế của các hộ gia đình
23
nông dân trong các bối cảnh nêu trên ở một làng cụ thể ở ven đô Hà Nội thông
qua lăng kính của khung phân tích sinh kế bền vững. Chúng tôi cho rằng
khung sinh kế bền vững là một cách phân tích toàn diện về việc các nguồn
vốn sinh kế và việc các hộ gia đình sử dụng các ngồn vốn sinh kế để kiếm
sống và phát triển. Những biến đổi về vốn sinh kế và môi trường sống vì thế
có ảnh hưởng quan trọng đến sinh kế và các chiến lược mưu sinh của các hộ
gia đình. Lập luận này sẽ được diễn giải cụ thể trong trường hợp làng Gia
1
Dưới thời Nguyễn, về mặt tổ chức các cấp hành chính có sự khác biệt giữa hai thời kỳ trước và sau cuộc cải
cách hành chính năm 1831 - 1832 dưới triều Minh Mệnh [Nguyễn Quang Ân, Việt Nam, những thay đổi địa
danh và địa giới hành chính (1945-2002), tr. 15].
2
Thời điểm cuối thế kỷ XIX, xã chỉ một làng lớn và thôn chỉ một làng nhỏ (Philip Papin, Olivier Tessier
(2002), Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
Quốc gia, Hà Nội, tr. 98).
3
Trận lũ lịch sử tháng 8 năm 1971 ở Hà Nội được Cơ quan Quản trị Hải Dương và Khí tượng Hoa Kỳ (“Top
Global Weather, Water and Climate Events of the 20th Century”, U.S. National Oceanic & Atmospheric
Administration) liệt kê vào danh sách các trận lụt lớn nhất thế kỷ XX, đã làm vỡ đê sông Hồng và 100.000
người đã bị thiệt mạng.
25