Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ MINH KHÁNH

HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ MINH KHÁNH

HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS BÙI NGUYÊN KHÁNH

Đà Nẵng, ngày 17 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn

Hồ Minh Khánh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT .................................... 9
1.1.Những vấn đề lý luận về chuyển giao công nghệ .................................... 9
1.2. Khái niệm chuyển giao công nghệ ....................................................... 12
1.3. Tổng quan về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt 19
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước
sinh hoạt ....................................................................................................... 29
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT VÀ THỰC TIỄN
GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ................ 31
2.1. Thực trạng pháp luật hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh
hoạt ở Việt Nam hiện nay ............................................................................ 31
2.2 Giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh
hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ........................................................... 44
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC
SINH HOẠT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................... 52
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay .................................................. 52
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý
nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay ........................................................... 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 67


Nxb

Nhà xuất bản

UBND

Ủy ban Nhân dân

UBTVQH

Ủy ban Thường vụ Quốc hội

UNIDO

Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc

WIPO

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1. Các thành phần cấu tạo công nghệ 1 ................................................ 9
Bảng 2-1. Tiến độ thực hiện chuyển giao công nghệ tại Đà Nẵng 1 .............. 49


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế đất nước đã phá vỡ

thu, làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại trên một số ngành và lĩnh vực
kinh tế góp phần tập hợp, có thêm điều kiện để phát huy khả nǎng và công
hiến cho sự nghiệp chung.
Tuy nhiên trong bối cảnh trái đất ngày càng nóng dần lên, không khí
ngày càng ô nhiễm dẫn đến biến đổi khí hậu, một vấn đề khác cũng quan
trọng không kém chính là nguồn nước tinh khiết ngày càng trở nên khan hiếm
trên toàn cầu. Và chắc hẳn, Việt Nam cũng rơi vào trường hợp tương tự, phần
lớn dân cư sống ở vùng nông thôn đang trong tình trạng thiếu nước sạch.
Thực tế hiện nay cho thấy, trong số 80% dân số sống ở nông thôn thì chỉ có
60% hộ dân được sử dụng nước sạch. Nước sử dụng cho sinh hoạt bao gồm:
nước mặt (chiếm 70%) và nước ngầm (chiếm 30%), nhưng nguồn nước ngầm
và nước mặt nước ta phân bố không đồng đều và phụ thuộc vào lượng mưa
hàng tháng nên đa phần khu vực miền núi, miền Trung thiếu nước, đặc biệt
vào mùa khô. Người dân được tiếp cận với nguồn nước sạch chỉ trên 28%.
Nhiều nguồn nước bị nhiễm phèn, nhiễm mặn không thể sử dụng để sinh hoạt
được nữa, vì thế việc sử dụng công nghệ để lọc nước tạo ra nguồn nước sạch,
tinh khiết trong sử dụng là vô cùng cần thiết. Để làm được điều này, cần phải
tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt trong quá trình lọc nước. Theo cách
truyền thống trước đây, nguồn nước vẫn chưa được lọc đi hẳn các tạp chất
bẩn như phèn, sắt... Do đó, với guồng quay phát triển của khoa học kỹ thuật
hiện nay, chúng ta cần phải áp dụng các công nghệ xử lý nước sinh hoạt tiên
tiến trên thế giới để có thể tạo ra nguồn nước sạch cho xã hội. Thực tế cho
thấy, nền khoa học và công nghệ nước ta vẫn còn khoảng cách khá xa so với
các nước phát triển, chưa tạo ra được những năng lực khoa học và công nghệ
cần thiết để thực sự trở thành nền tảng và động lực cho tiến trình công nghiệp

2


hóa, hiện đại hóa đất nước. Trình độ công nghệ thấp, chậm đổi mới trong

này chủ yếu là do những hạn chế trong việc phát triển thị trường khoa học
công nghệ, mà một trong những thành phần cốt lõi của nó là dịch vụ chuyển
giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt vẫn còn rất sơ khai.
Trong khuôn khổ của chương trình đào tạo cao học luật và tính cấp
thiết của các vấn đề như đã trình bày ở các phần trên, tác giả đã chọn đề tài
“Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành
phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan
đến chuyển giao công nghệ nói chung, trong đó có các công trình liên quan
đến chuyển giao công nghệ trong xử lý nước sạch sinh hoạt. Có thể kể đến
các công trình sau:Trần Văn Hải. (2014) Báo cáo đề dẫn, Tổ chức và hoạt
động chuyển giao công nghệ tại một số quốc gia: kinh nghiệm cho Việt Nam.
Kỷ yếu Hội thảo, Tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ: Kinh nghiệm
của Australia và đề xuất cho Việt Nam. Hội thảo do Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/12/2014.;
Nguyễn Quỳnh Mai, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan. (2008) Bài giảng chuyển
giao công nghệ. Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh.; Đỗ Thị Bích
Ngọc. (2014) Luật Chuyển giao công nghệ và những vướng mắc cần sửa đổi.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 22 năm 2014, ISSN 1859 –
4794; GS. Nguyễn Văn Quý, GS. Nguyễn Thiện Thanh: Tính chất của cuộc
cách mạng khoa học – công nghệ đương đại, Nxb ĐH KHXH&NV TP.HCM,
2000, pp.29-35; Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Mạnh Hùng. (2008) Xu hướng
phát triển ngành dịch vụ trên thế giới hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với
sự phát triển của ngành dịch vụ Việt Nam.; Trần Tịnh. (2011) Sự phát triển
của CGCN Trung Quốc và chính sách chung.
Các công trình này đã nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao công nghệ

4



vấn đề có tính nguyên tắc về chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt, đều
luôn dành những điều khoản điều chỉnh các vấn đề liên quan hợp đồng
chuyển giao công nghệ nước sinh hoạt như nội dung hợp đồng, các vấn đề
liên quan đến đăng ký, phê chuẩn hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý
nước sinh hoạt v.v..., tạo cơ sở pháp lý bảo đảm các quyền và lợi ích của các
bên có liên quan trong giao dịch .Có thể khẳng định rằng, trong một thời gian
dài, Luật Chuyển giao công nghệ được ban hành vào ngày 19/06/2006 đã định
hình khung pháp lý cho chuyển giao công nghệ nói chung và chuyển giao
công nghệ xử lý nước sinh hoạt nói riêng
Tuy nhiên, do thực tiễn và yêu cầu vào thời điểm ban hành các văn bản
pháp quy nói trên đã có nhiều thay đổi và không còn phù hợp với hiện tại. Kế
thừa và khắc phục các thiếu sót của các quy định pháp luật trước đó, Luật
chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 được ban hành ngày 19 tháng 06
năm 2017 đã đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu đặt ra từ thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là luận giải những vấn đề lý luận về hợp đồng
chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt; phân tích, đánh giá thực trạng
pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt
Nam hiện nay; thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công
nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng; để từ đó đề xuất
những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử
lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
được xác định cụ thể gồm:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển giao công nghệ

6

7


phương pháp này được vận dụng trong nhiều phần khác nhau của luận văn
như phân tích làm rõ sự khác biệt giữa hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý
nước sinh hoạt với các hợp đồng chuyển giao công nghệ khác.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Ngoài ra, luận án còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh tính
phổ biến của pháp luật và thông lệ quốc tế về giao kết và thực hiện hợp đồng
chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu và làm sáng tỏ bản chất các vấn đề liên quan đến hợp đồng
chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt - loại hợp đồng có đối tượng rất
đặc thù là công nghệ xử lý nước sinh hoạt dưới cả góc độ pháp lý và thực tiễn
sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt, đồng thời có những đề
xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật Việt Nam về
vấn đề này, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chuyển giao
công nghệ xử lý nước sinh hoạt nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được thực hiện theo cơ cấu 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt và thực tiễn giao kết và thực hiện tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng
chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay

8


Là thành phần cốt lõi của công nghệ, nó giúp con người
tăng được cả sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động
sản xuất.

Con người

Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nhờ học hỏi, tích

9


(Human)

lũy được từ đời sống, bao gồm cả khả năng sáng tạo, sự
khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức, kỷ luật của
người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất.

Thông tin
(Info)

Dữ liệu về kỹ thuật, con người và tổ chức; các thông
số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị để
duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để
thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật. Đây là tổng hợp tất
cả các tri thức trong công nghệ.

Tổ chức
(Orga)


Hệ thống được hiểu là sự liên kết chặt chẽ của nhiều thành tố để đạt
được kết quả nhất định. Không thể nhìn nhận công nghệ như những thành tố
riêng rẽ, bởi công nghệ chỉ phát huy tác dụng của nó nếu có sự phối hợp và
liên hệ chặt chẽ giữa các thành tố khác nhau của công nghệ.
Trên thực tế, việc chuyển giao từng thành tố của công nghệ không phủ
nhận bản chất của công nghệ phải là tập hợp cần và đủ các thành tố tương ứng
tạo nên. Kinh nghiệm cho thấy không ít trường hợp, sự tách rời của từng
thành tố công nghệ vẫn có thể được chấp nhận nếu như bên ứng dụng công
nghệ có khả năng tự mình đáp ứng được những thành tố còn lại.
 Tính ứng dụng của công nghệ:
Công nghệ phải có tính ứng dụng trên thực tế nhằm giải quyết những
vấn đề nhất định nhằm phục vụ lợi ích của con người, thể hiện ở chỗ: việc
tuân theo công nghệ sẽ làm cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao hơn như
tăng năng suất, giảm chi phí, gia tăng tính năng của sản phẩm hoặc để phát
triển những công nghệ mới, sản phẩm mới. Khả năng ứng dụng của công
nghệ là động lực để phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ và hình
thành thị trường công nghệ.
 Tính trao đổi của công nghệ:
Đặc trưng này cho thấy bản thân công nghệ có thể được tiếp nhận, dịch
chuyển từ nơi này sang nơi khác và giữa các cá nhân, tổ chức khác nhau. Sự

11


trao đổi công nghệ là vô cùng quan trọng nhằm đạt hiệu quả cao trong việc
biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Tính trao đổi của công nghệ là thuộc
tính gắn liền với tính ứng dụng của công nghệ. Công nghệ có khả năng ứng
dụng thì mới nảy sinh nhu cầu tiếp nhận cũng như chuyển giao. Việc trao đổi
công nghệ sẽ cho phép bên chuyển giao có thể tiếp tục phát triển công nghệ
mới, còn bên nhận chuyển giao sẽ được ứng dụng công nghệ tiên tiến với chi

doanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định,
cùng với đó là việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết
kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền. Như
vậy, phạm vi đối tượng chủ yếu chung của cả nhượng quyền thương mại và
chuyển giao công nghệ là các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Tuy nhiên, nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ lại có
những điểm khác biệt:
Thứ nhất, nhượng quyền thương mại là phương thức mở rộng quy mô
sản xuất kinh doanh thông qua việc cho phép một doanh nghiệp khác được
sản xuất kinh doanh trên cơ sở uy tín, tên thương mại, công nghệ... của bên
nhượng quyền (ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy nhượng quyền thương mại
đã được thực hiện rất thành công tại việc kinh doanh cafe Trung Nguyên và
Phở 24). Trong khi đó, chuyển giao công nghệ đơn thuần là việc chuyển giao
các công nghệ để ứng dụng vào quá trình sản xuất.
Thứ hai, trong nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền chỉ được sử
dụng các công nghệ mà mình nhận được để sản xuất, cung ứng các loại dịch
vụ có cùng chất lượng, hình thức và dưới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại
của bên nhượng quyền. Bên cạnh đó, bên nhận quyền còn phải tuân theo sự
bày trí cửa hàng, cung cách phục vụ khách hàng, phương pháp xúc tiến.
Trong khi đó, một đơn vị nhận chuyển giao công nghệ có quyền ứng dụng
công nghệ đó để sản xuất ra sản phẩm dưới bất kỳ thương hiệu, kiểu dáng, tên
thương mại mà họ mong muốn, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

13


Thứ ba, nhượng quyền thương mại có phạm vi đối tượng không chỉ tập
trung tại quy trình sản xuất (như trong chuyển giao công nghệ) mà còn cả các
quy trình sau sản xuất nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, quy trình
quản lý - không chỉ giới hạn ở cơ cấu tổ chức kinh doanh, kiểm toán, nhân sự,

nghệ. Xét dưới khía cạnh pháp lý, chuyển giao công nghệ là một giao dịch
dân sự, và do tính đặc thù của nó, nên Bộ luật Dân sự 2005 đã có hẳn một
phần riêng để điều chỉnh giao dịch này (Bộ luật Dân sự 2015 đã không còn
phần riêng để quy định về giao dịch này)
Chuyển giao công nghệ được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng, thỏa
thuận và được xác lập thông qua cơ chế hợp đồng, gọi là hợp đồng chuyển
giao công nghệ. Như vậy, một cách khái quát, khái niệm chuyển giao công
nghệ được hiểu như sau: Chuyển giao công nghệ là một giao dịch dân sự,
được thực hiện qua cơ chế hợp đồng mà theo đó, bên có quyền chuyển giao
công nghệ sẽ chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ cho
bên tiếp nhận theo phương thức và các điều kiện do các bên thỏa thuận.
 Tiêu chí đánh giá hiệu quả chuyển giao công nghệ
Ở phần này, tác giả sẽ đề cập đến thêm một khái niệm mới liên quan
đến chuyển giao công nghệ - li xăng. Li xăng chuyển quyền sử dụng đối
tượng SHCN (Li-xăng): là việc tổ chức, cá nhân nắm độc quyền sử dụng một
đối tượng sở hữu công nghiệp (Bên chuyển quyền sử dụng - thường được gọi
là bên giao) cho phép tổ chức cá nhân tổ chức khác (Bên nhận quyền sử dụng
- thường được gọi là Bên nhận) sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó.
Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề có liên quan trong nước,
trên thế giới và tình hình chuyển giao công nghệ tại Việt Nam hiện nay. đề tài
đã đưa ra 5 nhóm tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động chuyển giao
công nghệ như sau:
 Tài sản trong chuyển giao công nghệ phải là tài sản trí tuệ:
Li - xăng công nghệ chỉ diễn ra khi một trong các bên sở hữu những tài

15


sản vô hình có giá trị, đó là tài sản trí tuệ. Đây là một khái niệm rộng bao gồm
nhiều tài sản vô hình khác nhau như bằng độc quyền sáng chế, quyền tác giả

Việc đàm phán về li-xăng công nghệ, giống như mọi cuộc đàm phán
khác, liên quan đến lợi ích khác nhau của các bên, nhưng trong chưng mực
nào đó những lợi ích này phải trùng nhau. Khó có thể đàm phán thành công
một li-xăng nếu bạn muốn nhận được quyền sử dụng công nghệ nhưng các
được mang ra để đánh đổi lại là quá ít. Một cách lý tưởng là cả hai bên tham
gia đàm phán đều đưa ra những yếu tố có giá trị khác nhau, bao gồm, chẳng
hạn nhân viên có kỹ năng, thị trường có thể khai khác với quy mô thương
mại, bí quyết kỹ thuật, các cơ sở và hoạt động nghiên cứu và một số đối tượng
quyền sở hữu trí tuệ khác. Cơ sở để đánh giá một li-xăng công nghệ hiệu quả
là tìm ra được sự cân bằng lợi ích thỏa đáng để cả hai bên cùng có lợi.
Các điều khoản trong hợp đồng được giữ nguyên đến mức nào:
Một li-xăng công nghệ thành công khi đạt được hợp đồng về một loạt
các điều khoản hoàn chỉnh mà mỗi điều khoản trong đó đều có một số giải
phát nhất định.
Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong hợp đồng chuyển giao công nghệ
Hợp đồng chuyển giao công nghệ có ba đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, hợp đồng chuyển giao công nghệ là có đối tượng là công nghệ,
với tư cách là một loại "tài sản" đặc thù. Tài sản đặc thù này đã được đề cập
đến phần trên. Do đặc trưng của công nghệ là tính hệ thống, nên việc hợp đồng
chuyển giao công nghệ cũng phải có những nội dung để đảm bảo tính hệ thống
của công nghệ được chuyển giao, theo đó, mục tiêu cao nhất là đảm bảo bên
tiếp nhận công nghệ phải có được những lợi ích từ việc chuyển giao công nghệ
(có khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ), nhưng đồng thời phải đảm bảo
những quyền lợi hợp pháp cho bên chuyển giao công nghệ theo thỏa thuận.
Thứ hai, hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được lập dưới hình thức
văn bản. Trong điều kiện hiện nay, khái niệm "văn bản" được hiểu khá rộng,

17





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status