VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ NGỌC ANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI - 2017
HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực,
được trích dẫn từ các nguồn công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất kỳ công
trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước .................................................................................................... 58
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 74
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TANDTC
:
Tòa án nhân dân tối cao
TNBTCNN :
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
UBND
Ủy ban nhân dân
:
VKSNDTC :
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỞ ĐẦU
Tuy nhiên, quá trình thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: một số quy định của Luật TNBTCNN chưa
phù hợp với thực tiễn; nội dung quản lý nhà nước, thẩm quyền và trách nhiệm quản lý
nhà nước chưa được quy định cụ thể, rõ ràng; sự nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về
vai trò, tầm quan trọng của các cấp chính quyền trong việc thực hiện pháp luật về
TNBTCNN; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về TNBTCNN chưa đến với các cá
nhân, tổ chức, doanh nghiệp; ý thức chấp hành pháp luật về TNBTCNN của một bộ
phận đội ngũ công chức, tổ chức, công dân còn chưa cao; chưa có sự phối hợp chặt chẽ
giữa cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường với các cơ quan có liên quan
trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức làm công tác bồi thường nhà nước còn thiếu về số lượng và hạn
chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ v.v.
Để từng bước nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động giải quyết bồi
thường của nhà nước có hiệu quả, thống nhất, công bằng và đúng pháp luật thì việc
nghiên cứu, phân tích, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường
là vấn đề có ý nghĩa thiết thực, vừa làm rõ những ưu điểm, hạn chế của hoạt động
này, vừa đề ra những giải pháp nhằm triển khai hữu hiệu các quy định của Luật
TNBTCNN, đồng thời hướng tới việc hoàn thiện hơn pháp luật về TNBTCNN là
việc làm cần thiết. Do đó, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về
thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm Luận
văn thạc sĩ luật học sẽ góp phần đáp ứng được phần nào những đòi hỏi cấp bách nêu
trên cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý nhà nước về công tác bồi thường đã được các nhà nghiên cứu khoa
học xã hội và các nhà quản lý quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau. Kết quả
nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu được thể hiện ở các đề tài nghiên cứu, luận văn,
sách và bài báo khoa học. Trong đó, có thể nêu ra một số công trình sau đây:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2013 “Các biện pháp bảo đảm thi
Luật TNBTCNN cũng là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa
chọn tham khảo khi thực hiện đề tài nghiên cứu, cụ thể: “Kỷ yếu các Tọa đàm thuộc
dự án hợp tác pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản về Luật Bồi thường
Nhà nước” do Bộ Tư pháp phối hợp với dự án JICA thực hiện, giai đoạn 2003 –
2006; “Quản lý nhà nước đối với công tác bồi thường”, của Tiến sĩ Trần Văn
Quảng, Bộ Tư pháp, chuyên đề Tạp chí Dân chủ và Pháp luật năm 2011; “Tăng
3
cường hiệu quả quản lý nhà nước nhằm bảo đảm tính khả thi của cơ chế bồi thường
nhà nước”, của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tịnh, số chuyên đề tạp chí Dân chủ và Pháp
luật năm 2011; “Một số vấn đề lý luận về TNBTCNN”, của tác giả Từ Ninh, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp năm 2011; “Cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ
quản lý nhà nước về công tác bồi thường”, chủ biên Nguyễn Thanh Tịnh, Nhà xuất
bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2014 v.v..
Nhìn chung, các công trình khoa học trên đây đã được các tác giả nghiên cứu
nghiêm túc, đóng góp được rất nhiều vấn đề cơ bản cả về lý luận và thực tiễn về bồi
thường nhà nước nói chung và những vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về công
tác bồi thường nhà nước nói riêng. Các tác giả đã triển khai nghiên cứu ở nhiều góc
độ, khía cạnh khác nhau, là nguồn tư liệu quan trọng để tác giả tham khảo thực hiện
đề tài này. Tuy nhiên, đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý nhà
nước về thực hiện pháp luật TNBTCNN được thực hiện theo chuyên ngành Luật
Hiến pháp và luật Hành chính.
Kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên, Đề tài “Quản
lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện
nay” tiếp tục nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống, toàn diện về quản lý nhà
nước về công tác bồi thường nhà nước ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp
sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: tác giả nghiên cứu một số tài
liệu như: Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm pháp luật, đề tài khoa học, sách báo,
tạp chí, các bài viết trên internet và các báo cáo có nội dung liên quan đến hoạt động
quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước để tìm kiếm, chắt lọc các căn cứ
lý luận và thực tiễn pháp lý cho việc phân tích, đánh giá và kiến nghị tăng cường
hiệu quả quản lý nhà nước về TNBTCNN ở Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp phân tích: nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
công tác quản lý nhà nước về thực hiện TNBTCNN.
- Phương pháp thống kê: để thống kê các số liệu trong thực tiễn quản lý nhà
nước về công tác bồi thường nhà nước làm cơ sở cho việc đưa ra những nhận xét,
kết luận và kiến nghị hoàn thiện các quy định về thể chế bồi thường của Nhà nước.
5
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp
so sánh, tổng hợp, phương pháp trao đổi, v.v..
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý của quản
lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa
học và đào tạo về công tác bồi thường nhà nước.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kiến nghị về giải pháp của Luận văn có giá trị tham khảo đối với cơ quan,
tổ chức hữu quan trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác bồi
thường nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
Dưới góc độ luật thực định, từ cách tiếp cận khái niệm "trách nhiệm bồi thường
thiệt hại" trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo Điều
310 Bộ Luật dân sự năm 1995 thì "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh
thần" [30]. Tiếp theo đó Điều 307 Bộ Luật dân sự năm 2005 khẳng định: "Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất,
trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần" [32]. Điều 360 Bộ Luật dân sự
năm 2015 quy định: "trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có
nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc
luật có quy định khác" [36]; đồng thời, Điều 361 Bộ Luật dân sự cũng quy định
"thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh
7
thần" [33]. Luật TNBTCNN năm 2009 cũng quy định thiệt hại được bồi thường bao
gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
Như vậy, thiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Trong đó, thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm
tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu
nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần
do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích
nhân thân khác của một chủ thể. Những thiệt hại vật chất và tinh thần phải do hành
vi vi phạm pháp luật gây ra.
- Khái niệm về bồi thường thiệt hại: “Bồi thường” theo Đại từ điển tiếng Việt
được hiểu là "đền bù những tổn thất đã gây ra" [48, tr.191]. Về mặt pháp lý, bồi
thường là một dạng cụ thể của nghĩa vụ dân sự phát sinh do hành vi gây thiệt hại. Vậy
bồi thường có thể hiểu là việc đền bù những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần
nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra.
- Khái niệm về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Nhà nước không chỉ nhằm khôi phục các thiệt hại về tài sản mà còn phải bù đắp
những thiệt hại về tinh thần cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Do vậy có thể
hiểu: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm pháp lý mà theo đó
Nhà nước phải bồi thường những thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần trong
trường hợp người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài
sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cho các cá nhân, tổ chức.
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng cả về phương
diện chính trị và pháp lý. Về phương diện chính trị, TNBTCNN là một biểu hiện
của Nhà nước pháp quyền. Thông qua pháp luật, Nhà nước bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều bị xử lý theo quy định của pháp luật mà không
có sự phân biệt chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật là tổ chức, cá nhân hay
Nhà nước. Việc thừa nhận TNBTCNN và thiết lập cơ chế bảo đảm thực thi trách
nhiệm pháp lý này là công cụ hữu hiệu để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân. Do đó, việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật về TNBTCNN là
công việc thiết thực để thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Thông qua cơ chế
TNBTCNN, một mặt, người bị thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra
được quyền yêu cầu bồi thường đối với những thiệt hại về vật chất và tổn thất về
9
tinh thần mà mình đã phải gánh chịu, qua đó nâng cao uy tín của Đảng và Nhà
nước, mặt khác, cán bộ, công chức sẽ có ý thức, trách nhiệm hơn trong khi thi
hành công vụ, đóng góp tích cực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt
động của bộ máy nhà nước, của hoạt động công vụ.
Về phương diện pháp lý, TNBTCNN là cơ chế pháp lý hữu hiệu để bảo đảm
thực hiện quyền được bồi thường của tổ chức, cá nhân đã được Hiến pháp ghi
nhận, đồng thời, góp phần duy trì sự ổn định của hoạt động công vụ. Trong cơ chế
phối hợp hoạt động chung của con người. Là một hoạt động gắn liền với sự xuất
hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý
xã hội. Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ
quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều
hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để
thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ
quản lý nhà nước). Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động
nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý.
Dưới góc độ hình thức, quản lý nhà nước về thực hiện TNBTCNN có thể
được hiểu là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng quyền lực của
mình tác động có tổ chức và điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động giải
quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo
các nguyên tắc nhất định nhằm đạt được mục tiêu của quản lý nhà nước về công
tác bồi thường nhà nước.
Dưới góc nội dung, quản lý nhà nước về thực hiện TNBTCNN bao gồm
nhiều hoạt động, như ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TNBTCNN;
chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản này; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật
về TNBTCNN; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức, viên chức làm công
tác bồi thường nhà nước; chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về giải quyết bồi thường;
kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp
luật về TNBTCNN.
Trên cơ sở những nhận định trên, có thể đưa ra khái niệm cơ bản về quản lý
nhà nước về thực hiện TNBTCNN như sau: Quản lý nhà nước về thực hiện trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước là quá trình tác động có tổ chức và bằng quyền lực
nhà nước đến các hoạt động thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của
11
12
đùn đẩy, né tránh, bao che cho công chức đã gây ra thiệt hại. ngoài ra công tác
hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường cho các cơ quan có trách
nhiệm bồi thường là rất cần thiết, đặc biệt là đối với các lĩnh vực phức tạp, thường
xuyên phát sinh các vụ việc yêu cầu bồi thường. Việc thực hiện tốt các nội dung
quản lý nêu trên góp phần bảo đảm cho các cơ quan có trách nhiệm bồi thường, cán
bộ thực hiện nhiệm vụ giải quyết bồi thường thực hiện đúng, đầy đủ và khách quan
các quy định của pháp luật về TNBTCNN trong quá trình giải quyết và thực hiện
bồi thường.
Thứ ba, xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường
Để khắc phục tình trạng người bị thiệt hại không thể thực hiện được quyền yêu
cầu bồi thường của mình do không xác định được cơ quan có trách nhiệm giải quyết
bồi thường, nên pháp luật quy định một trong những nội dung quản lý nhà nước về
công tác bồi thường nhà nước là: xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong
trường hợp người bị thiệt hại yêu cầu hoặc không có sự thống nhất về cơ quan có
trách nhiệm bồi thường (khoản 5 Điều 21 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP). Thẩm
quyền xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường được quy định cụ thể cho các cơ
quan gồm TANDTC, VKSNDTC, các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh,
UBND cấp huyện.
Sự phân định rõ trách nhiệm nêu trên bảo đảm không có sự chồng chéo cũng
như đùn đẩy, né tránh trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý trong việc xác định cơ
quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi
hành án, bảo đảm cơ chế hỗ trợ xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường cho tổ
chức, cá nhân có yêu cầu bồi thường.
Thứ tư, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực
bồi thường nhà nước
Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm là hoạt động cơ bản,
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc bảo đảm việc triển khai thi hành Luật TNBTCNN
được thông suốt.
Thứ hai, để hoạt động giải quyết bồi thường được thống nhất trên phạm vi
toàn quốc thì việc kịp thời hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường cho
các cơ quan có trách nhiệm bồi thường là rất cần thiết, đặc biệt là đối với các lĩnh
vực phức tạp, thường xuyên phát sinh các vụ việc yêu cầu bồi thường.
Thứ ba, bằng công tác kiểm tra hoạt động giải quyết bồi thường, chi trả tiền
bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thể kịp thời phát
14
hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết bồi thường để có hướng
dẫn cụ thể, qua đó, thúc đẩy hoạt động giải quyết bồi thường được thực hiện nhanh
chóng và đúng pháp luật.
Thứ tư, thông qua hoạt động tham gia thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong hoạt động bồi thường nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi
thường có thể phát hiện những sai phạm trong việc thực hiện công tác bồi thường
nhà nước, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân.
Thứ năm, về phía người bị thiệt hại, để giúp họ thực hiện hiệu quả và đúng
pháp luật quyền yêu cầu bồi thường của mình, thông qua công tác giải đáp vướng
mắc, hướng dẫn, hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà
nước, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động giải
quyết bồi thường, giúp người bị thiệt hại đánh giá, cân nhắc về việc thực hiện quyền
yêu cầu bồi thường của mình, tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc đối với người
bị thiệt hại và cũng qua đó là một kênh thông tin để theo dõi, thực hiện tốt các
nhiệm vụ quản lý chuyên ngành khác về công tác bồi thường nhà nước.
Thứ sáu, đảm bảo công tác phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về công tác
bồi thường trong các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án để đáp ứng
đúng chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về TNBTCNN đối với
hoạt động của các tổ chức, công dân.
Thứ hai, tính quyền lực nhà nước
Đây cũng là một đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước về công tác bồi thường,
đặc điểm này thể hiện ở các nội dung cơ bản là: Tư cách pháp nhân của chủ thể quản
lý, công cụ, phương pháp quản lý.
Tư cách pháp nhân của chủ thể quản lý: là yêu cầu trước tiên trong hoạt động
quản lý nhà nước về công tác bồi thường, theo đó, để triển khai hoạt động, cần có cơ
quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường, trên thực tiễn, cơ quan được thành lập
mới (Cục Bồi thường nhà nước thuộc Bộ Tư pháp), hoặc được giao nhiệm vụ (tổ chức
Pháp chế các Bộ, ngành ở trung ương và tại cơ quan chyên môn thuộc UBND cấp tỉnh;
Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện) thực hiện.
Tuy nhiên, bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường đều có chức
năng, nhiệm vụ như nhau, thì ở mỗi cấp, các cơ quan đều có những nhiệm vụ khác
nhau (ví dụ: chỉ có Bộ, ngành ở trung ương mới có nhiệm vụ tham mưu xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật về TNBTCNN) hoặc chỉ có Cục Bồi thường nhà nước thuộc
16
Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh và Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp
huyện được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin, hướng dẫn thủ tục hỗ trợ người bị thiệt
hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính.
Công cụ, phương pháp quản lý: Công cụ quản lý nhà nước về công tác bồi
thường được hiểu là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về TNBTCNN; phương
pháp quản lý là sử dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính mang tính quyền lực
nhà nước.
Thứ ba, tính chuyên môn hóa cao: Các công chức thực hiện nhiệm vụ trong
các cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường phải bảo đảm các tiêu chuẩn
về trình độ chuyên môn theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và đáp ứng
cơ quan: cơ quan hành pháp (Chính phủ) và cơ quan tư pháp (TANDTC,
VKSNDTC) cùng thực hiện. Tuy nhiên, mặc dù có sự phân công trong thực hiện
quản lý nhà nước về các lĩnh vực (quy định tại Điều 11 Luật TNBTCNN), nhưng sự
thống nhất trong quản lý được thể hiện ở các điểm sau: Nội dung quản lý, phương
pháp quản lý nhà nước về công tác bồi thường cũng bao hàm các đặc điểm như trên
đã nêu và đặc biệt là quy định về hoạt động phối hợp thực hiện các nhiệm vụ quản
lý nhà nước về công tác bồi thường như: định kỳ hàng năm TANDTC, VKSNDTC
đều phải thông báo tình hình và kết quả thực hiện quản lý công tác bồi thường trong
hoạt động thuộc phạm vi do mình quản lý cho Chính phủ (thông qua Bộ Tư pháp là
cơ quan tham mưu, giúp Chính phủ thực hiện) để phục vụ cho hoạt động quản lý
nhà nước về công tác bồi thường trên phạm vi toàn quốc, cũng như tổng hợp chung
tình hình để báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội khi có yêu cầu.
1.1.4.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
Nguyên tắc pháp chế trong hoạt động quản lý
Đảm bảo pháp chế được hiểu như là những điều kiện, những phương tiện và
những khả năng hiện thực trên thực tế đối với pháp luật hiện hành nhằm xây dựng
và củng cố chính quyền của dân, do dân, vì dân, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của
công dân trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Bảo đảm pháp chế trong quản lý hành chính Nhà nước suy cho cùng là hoạt
động thực thi pháp luật ngày càng có hiệu quả trong thực tế.
- Các yêu cầu cụ thể trong công tác thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước:
+ Hoạt động đảm bảo pháp chế phải diễn ra trên cơ sở các quy định của Luật
trách nhiệm bồi thường của nhà nước
18
+ Hoạt động đảm bảo phải thực hiện một cách thường xuyên nhanh chóng và
kịp thời.
+ Các biện pháp bảo đảm pháp chế phải được phối hợp với nhau vì mỗi biện
nhiệm về các kết quả cần phải đạt được chứ không chỉ là trách nhiệm tuân thủ các
quy trình, thủ tục.
Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp quản lý theo lãnh thổ
Theo nguyên tắc này, các cơ quan tham mưu thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính ở địa phương (Sở
Tư pháp, Phòng Tư pháp) thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác bồi thường nhà
nước theo sự chỉ đạo về chuyên môn của của cơ quan nhà nước cấp trên. Tuy nhiên,
Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp
huyện, nên cũng chịu sự quản lý, chỉ đạo về tổ chức, bộ máy và chỉ đạo hoạt động
của các cơ quan này (theo nguyên tắc tổ chức song trùng trực thuộc). Đối với quản lý
nhà nước trong hoạt động thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an
(quản lý về thi hành án hình sự) tuy được tổ chức theo hệ thống ngành dọc, nhưng
đều phải đóng trụ sở và hoạt động trên một địa bàn cụ thể, nên cũng phải chịu sự
quản lý của chính quyền địa phương theo lãnh thổ. Chính vì vậy, mọi hoạt động quản
lý nhà nước về công tác bồi thường (trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành
án) không thể tách rời hoạt động chỉ đạo của cơ quan quản lý chuyên ngành và cơ
quan quản lý tại địa phương.
Đối với quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng, cơ
quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ này là TANDTC, VKSNDTC, ở địa phương
Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, có nhiệm vụ trao đổi
thông tin các vụ việc giải quyết bồi thường cho cơ quan quản lý nhà nước về công
tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính cùng cấp (Sở Tư pháp, Phòng
Tư pháp) để phục vụ hoạt động quản lý công tác bồi thường ở địa phương.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật quản lý nhà nước về công
tác bồi thường nhà nước ở Việt Nam
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước đã được Nhà nước ta
ghi nhận từ sau khi thành lập nước. Điều này được thể hiện ngay từ Hiến pháp năm
1959, Điều 29 Hiến pháp 1959 quy định: “Người bị thiệt hại về hành vi vi phạm
pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”. Hiến pháp
năm 1980 khẳng định pháp luật bảo hộ tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm
lập dự toán ngân sách Nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức,
người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
21