VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ HỒNG PHƢƠNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI
TỘI GIẾT NGƢỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Thị Mai
Phản biện 1: TS. Võ Thị Kim Oanh
Phản biện 2: PGS. TS. Hoàng Thị Minh Sơn
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội
vào lúc 09 giờ ngày 11 tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Khoa học xã hội
MỞ ĐẦU
sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” làm luận văn Thạc sĩ Luật
học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài “Thực hành quyền công tố đối với tội giết người theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” là
đề tài nghiên cứu THQCT chuyên sâu về một tội danh và suốt quá
trình giải quyết vụ án. Dạng đề tài này được một số tác giả nghiên
cứu và các công trình khoa học đã được công bố như: Cơ sở lý luận,
thực trạng của điều tra và truy tố các tội phạm về ma túy của Nguyễn
Thị Mai Nga.THQCT đối với tội Buôn lậu từ thực tiễn thành phố Hồ
Chí Minh của tác giả Đỗ Thị Quí. Nguyên nhân, điều kiện của tội
giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang của tác giả Trần Chí Tâm.
Các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai, Đỗ
Thị Quí mặc dù đã đề cập đến THQCT về tội danh cụ thể nhưng lại
nghiên cứu đối với vụ án buôn lậu, ma túy. Trong khi đó luận văn
thạc sĩ của tác giả Trần Chí Tâm nghiên cứu về tội Giết người trên
địa bàn tỉnh Tiền Giang nhưng lại đánh giá tình hình, nguyên nhân
và giải pháp phòng ngừa đối với tội giết người, phục vụ cho công tác
đấu tranh phòng ngừa tội phạm, mà không đề cập đến chức năng,
nhiệm vụ, cũng như chưa đi sâu làm rõ về mặt lý luận của VKS về
2
THQCT đối với tội giết người trong suốt quá trình giải quyết vụ án
từ khi tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố; trong giai đoạn điều tra; truy tố và xét xử.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về THQCT tội giết
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật nói
chung và tổ chức, hoạt động của VKS nhân dân nói riêng.
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các
phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê để
làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng góp phần làm sáng tỏ
thêm những vấn đề lý luận cơ bản về THQCT; Trên cơ sở khảo sát
thực tế, đánh giá, phân tích thực trạng công tác THQCT đối với tội
giết người ở tỉnh Tiền Giang, luận văn tìm ra các giải pháp nâng cao
chất lượng THQCT đối với các VAHS nói chung và đối với các vụ
án giết người nói riêng. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng
làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu liên quan đến
4
hoạt động THQCT cũng như đối với các nhà hoạch định chính sách
pháp luật và đặc biệt là cán bộ VKSND tỉnh Tiền Giang trong công
tác thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về THQCT đối
với tội giết người.
Chương 2: Thực trạng THQCT đối với tội giết người theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang.
Chương 3: Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp
6
“Thực hành quyền công tố đối với tội giết người là hoạt động
của VKS trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà
nước đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định tại Điều 93 của BLHS 1999 (Điều 123 BLHS năm 2015), xâm
phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác;
được thực hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền điều tra giải quyết
nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử vụ án; nhằm đảm bảo không để lọt tội phạm và người
phạm tội, không làm oan người vô tội”.
1.1.2. Đặc điểm của thực hành quyền công tố đối với tội giết
người
Thứ nhất, THQCT đối với tội giết người chỉ do VKS tiến hành. Các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác không có chức năng
này.
Thứ hai, hoạt động THQCT đối với tội giết người chỉ tồn tại
trong lĩnh vực TTHS, không có trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư
pháp.
Thứ ba, Quyền công tố chỉ là một dạng quyền năng và được cụ
thể hóa trong các quy phạm pháp luật. Để thực hiện có hiệu quả chức
năng THQCT phải do Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND và BLTTHS
quy định.
Thứ tư, THQCT đối với tội giết người không chỉ thực hiện việc
buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội mà còn không làm
oan người vô tội.
7
ngƣời
1.2.1. Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố tội giết người
Bao gồm: Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia
hạn tạm giữ và các biện pháp khác; Hủy bỏ quyết định tạm giữ; Đề
ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thực
hiện; Hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp quyết định
tạm đình chỉ giải quyết tin báo không có căn cứ; Trực tiếp giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp
phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt
tội phạm mà VKS nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc
phục.
1.2.2. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều
tra vụ án hình sự
Bao gồm: Ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều 104
BLTTHS); Thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều
156 BLTTHS); Hủy quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều 109
BLTTHS); Phê chuẩn, hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, yêu cầu
thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra các
quyết định trên (Điều 126, 179 BLTTHS); Đề ra yêu cầu điều tra;
9
trực tiếp tiến hành điều tra khi cần thiết ( Điều 112 BLTTHS); Quyết
định áp dụng, thay đổi biện pháp năng chặn
1.2.3. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Bao gồm các hoạt động sau: 1) Truy tố bị can trước Tòa án
bằng bản cáo trạng; 2) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung; 3) Đình chỉ
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với tội giết người trên địa
bàn tỉnh Tiền Giang
05 năm thông qua THQCT đối với 81 trường hợp bị bắt, tạm
giữ hình sự về hành vi giết người, VKSND phát hiện 01 trường hợp
việc bắt người không có căn cứ và ra quyết định không phê chuẩn
bắt khẩn cấp, phê chuẩn gia hạn tạm giữ đối với 02 trường hợp.
11
Tuy nhiên vẫn còn hạn chế nhất định: số lượng các trường hợp
bắt khẩn cấp, tạm giữ, gia hạn tạm giữ, sau đó trả tự do vì không đủ
căn cứ khởi tố, xử lý hình sự về tội giết người 05 trường hợp.
2.2.2. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều
tra vụ án về tội giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
* Hoạt động THQCT đối với quyết định khởi tố, quyết định
không khởi tố vụ án hình sự về giết người
VKSND xem xét căn cứ 109 quyết định khởi tố vụ án hình sự
về tội giết người, 93 quyết định không khởi tố; yêu cầu thay đổi
quyết định khởi tố vụ án 02 vụ do Cơ quan tố tụng cấp huyện khởi tố
vụ án chưa đúng tội danh. Hạn chế, khó khăn, vướng mắc như sau:
+ Qua nghiên cứu 109 quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội giết
người, có 73 trường hợp việc khởi tố vụ án hình sự chưa kịp thời,, VKS chỉ
yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 08 trường hợp.
+ Khoản 2 Điều 109 BLTTHS quy định: “Nếu quyết định không
khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền không có căn
cứ, thì VKS hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án” là
chưa phù hợp thực tế.
* THQCT đối với hoạt động khởi tố bị can tội giết người
- VKS THQCT đối với 125 quyết định khởi tố bị can về tội
định khởi tố bị can về tội giết người, sau đó trưng cầu giám định
pháp y tâm thần, nếu kết luận người đó không có năng lực chịu trách
13
nhiệm hình sự thì ra quyết định đình chỉ điều tra bị can và áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
* Hoạt động phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh tạm giam, bắt
tạm giam; yêu cầu bắt tạm giam bị can về tội giết người
Trong tổng số 123 bị can bị khởi tố về tội giết người: tạm
giam 116 trường hợp, 07 bị can được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi
nơi cư trú. Bên cạnh đó khó khăn, vướng mắc sau:
+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 88 BLTTHS: Đối với người
già yếu mà có nơi cư trú rõ ràng thì không áp dụng biện pháp tạm
giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (ngoại trừ các trường
hợp bị can bỏ trốn và bắt theo lệnh truy nã, tiếp tục phạm tội…).
Trên thực tế áp dụng pháp luật có nhiều cách hiểu khác nhau về khái
niệm “người già yếu” và phạm vi áp dụng khái niệm này khi xem xét
tạm giam người phạm tội giết người.
+ Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 119 và khoản 2,
khoản 3 Điều 419 BLTTHS năm 2015 thì người từ đủ 14 đến dưới
18 tuổi nếu phạm tội kể cả trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng (giết người), thì phải áp dụng biện pháp ngăn chặn khác trước
(điểm a khoản 2 Điều 119) nếu vi phạm tiếp thì mới áp dụng biện
pháp tạm giam, điều này hoàn toàn không phù hợp thực tế.
+ BLTTHS năm 2003 không có điều luật quy định về áp giải
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (giết người). Một số
trường hợp người bị bệnh tâm thần điều trị ngoại trú khi phạm tội,
can về tội giết người. Trong đó VKS truy tố 97 vụ/111 bị can, ra
quyết định đình chỉ 01 vụ án/06 bị can về tội giết người.
2.2.4. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử đối với
tội giết người
VKS tỉnh Tiền Giang rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án
ra quyết định đình chỉ xét xử 01 vụ/ 01 bị cáo. Hoạt động THQCT
trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa về tội giết người của VKS trong
thời gian qua cơ bản tốt, KSV tham gia xét hỏi tại phiên tòa ngày
càng mang tính tích cực, chủ động. Chất lượng luận tội của KSV
ngày càng được cải thiện. Đối đáp, tranh luận tại phiên tòa của phần
lớn KSV thực hiện tốt. Bên cạnh đó THQCT còn hạn chế :
- Một số trường hợp việc xây dựng bản dự thảo luận tội của
KSV chưa đạt yêu cầu. Hoạt động xem xét kháng nghị bản án, quyết
định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm được chú trọng, tuy nhiên
trong thời gian qua VKS cùng cấp không có kháng nghị phúc thẩm
bản án xét xử về tội giết người, trong khi đó số vụ án xét xử sơ thẩm
bị cấp phúc thẩm sửa án, hủy án vẫn còn xảy ra.
2.3. Đánh giá kết quả, những hạn chế và nguyên nhân của
hoạt động thực hành quyền công tố đối với tội giết ngƣời
2.3.1. Những ưu điểm đạt được và nguyên nhân
Nhìn chung công tác THQCT của VKSND đối với tội giết
người cơ bản đạt được kết quả tương đối tốt do các nguyên nhân cơ
bản sau: Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp là
động lực mạnh mẽ thúc đẩy các cán bộ, KSV quyết tâm nâng cao
16
Thứ tư, nâng cao hiệu quả hoạt động THQCT đối với tội giết
người phải gắn với nâng cao năng lực, trách nhiệm KSV, đồng thời
đảm bảo về điều kiện, cơ sở vật chất cho KSV hoàn thành nhiệm vụ
được giao.
Thứ năm, nâng cao chất lượng hoạt động THQCT đối với vụ
án giết người phải trên cơ sở đánh thực tiễn quá trình giải quyết vụ
án từ đó đưa ra giải pháp cụ thể mới đảm bảo tính khả thi.
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công
tố đối với tội giết người từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang
3.2.1. Nhóm giải pháp về công tác tổ chức cán bộ và phân
công phân cấp khi thực hành quyền công tố đối với tội giết người
18
Một là, cần phải sửa đổi, bổ sung Quy chế THQCT và kiểm
sát điều tra vụ án hình sự, theo hướng xác định rõ thẩm quyền
THQCT và Kiểm sát điều tra đối với tội giết người phải do KSV
Trung cấp và KSV Cao cấp thực hiện, theo đó KSV Sơ cấp không
thực hiện nhiệm vụ này.
Hai là, Đối với các thông tin về tội phạm, nếu xác định có dấu
hiệu của tội phạm giết người như (qua khám ngoài tử thi xác định có
tác động ngoại lực, xác nạn nhân bị dìm, treo vật nặng…) VKSND
cấp huyện phải báo VKSND tỉnh cử KSV Trung cấp tiến hành tham
gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường, tử thi
Ba là, VKSND Tối cao cần có văn bản thống nhất với Bộ
Công an về các trường hợp Cơ quan điều tra - Bộ Công an phối hợp
với Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án giết người, tạo thuận lợi
quá trình THQCT đối với loại tội này, vừa đảm bảo hiệu quả trong
công tác đấu tranh, truy tìm thủ phạm.
ra. Trang bị cơ sở vật chất, phương tiện và hoàn thiện chế độ chính
sách đối KSV.
3.2.4. Giải pháp nâng cao nghiệp vụ thực hành quyền công
tố đối với tội giết người
- Thực hiện tốt công tác THQCT trong giải quyết các tố giác,
tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: Trong quá trình nghiên
cứu, quyết định phê chuẩn, không phê chuẩn việc áp dụng các biện
20
pháp ngăn chặn trước khi khởi tố vụ án giết người, VKS luôn phải
kiểm sát chặt chẽ căn cứ, điều kiện áp dụng; phải kiên quyết không
phê chuẩn đối với các trường hợp bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ
không đủ căn cứ.
- Thực hiện tốt hoạt động THQCT giai đoạn khởi tố, điều tra
vụ án hình sự: Khi nhận được quyết định khởi tố, không khởi tô vụ
án, áp dụng biện pháp ngăn chặn về tội giết người, VKS phải nghiên
cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đảm bảo phê chuẩn có căn cứ
đúng quy định pháp luật.
- Thực hiện tốt hoạt động THQCT giai đoạn truy tố: THQCT
của VKS trong giai đoạn truy tố đối với vụ án giết người VKS phải
đảm bảo tính có căn cứ khi ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung
hoặc ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bị can; quyết định
truy tố bị can ra Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng.
- Thực hiện tốt hoạt động THQCT giai đoạn xét xử: Tại phiên
tòa KSV trình bày bản cáo trạng phải rõ ràng, mạch lạc, thể hiện sự
uy nghiêm. Khi tranh luận KSV phải bình tĩnh, khách quan và tôn
trọng, lắng nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng. Sau phiên
tòa khi nghiên cứu hồ sơ và quyết định kháng nghị, VKS luôn xem
+ Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm, tấn công vào các vùng
trọng yếu trên cơ thể con người với cường độ không mạnh (như đâm,
chém chỉ 01 cái) với lỗi cố ý gián tiếp, thì hậu quả đến đâu xử lý đến
đó: Nếu hậu quả chết người xảy ra thì định tội Giết người, nếu hậu
quả chết người không xảy ra (chỉ gây thương tích) thì xử lý về tội Cố
ý gây thương tích.
22
+ Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm, tấn công vào các vùng
trọng yếu trên cơ thể con người với cường độ mạnh (như đâm, chém
nhiều cái) nếu nạn nhân không chết thì cũng phải xử lý tội giết
người.
- Hướng dẫn áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ”.
+ Nếu người bị hại không có hành vi đánh bị can trước, chỉ có
lời nói cự cải, dẫn đến mâu thuẩn nhưng bị can đâm, đánh chết người
bị hại, thì đây là phạm tội có tính chất côn đồ.
+ Trường hợp người bị hại tấn công người có hành vi giết
người trước: Thì cần xác định tính chất mức độ của sự tấn công, tỷ lệ
thương tật gây ra (nếu có), để làm căn cứ xác định hành vi người
phạm tội trong trường hợp này có tính chất côn đồ không. Nếu người
bị hại tấn công có cường độ tương đối lớn, gây thương tích hoặc tổn
hại sức khoẻ người phạm tội; hoặc mặc dù không gây tổn thương
nhưng là nguyên nhân dẫn đến việc bị can bị ức chế tâm lý, phản
kháng giết chết nạn nhân, thì trường hợp này không phạm tội có tính
chất côn đồ.
+ Đối với những vụ việc mâu thuẩn xảy ra trước đó như cải vả,
đánh nhau nhưng đã chấm dứt (về không gian và thời gian) hoặc đã
được giải quyết xong, nhưng sau đó người phạm tội tiếp tục lấy hung