Tội chống người thi hành công vụ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ANH TUẤN

TỘI CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, Năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ANH TUẤN

TỘI CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CHỐNG
NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ .................................................................. 49
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về
tội chống người thi hành công vụ.................................................................... 49
3.2. Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về
tội chống người thi hành công vụ.................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

ĐTV

: Điều tra viên

KSV

: Kiểm sát viên

PLHS

: Pháp luật hình sự

TAND

: Tòa án nhân dân

5.136,88 km2, dân số trung bình là 1,28 triệu người, chiếm 1,6% dân số của cả
nước. Quảng Ngãi có bờ biển dài khoảng 129 km, đảo Lý Sơn và các đảo
nhỏ; có 01 thành phố trực thuộc tỉnh và 13 huyện. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng
Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông
giáp biển Đông.
Từ năm 2012 đến năm 2016, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi xảy ra 2.840
vụ phạm pháp hình sự, trong đó tội chống người thi hành công vụ 38 vụ, chiếm
1,34%. Tuy số vụ chống người thi hành công vụ xảy ra với số lượng không
nhiều nhưng đang cho thấy loại tội phạm này ngày càng diễn ra nhiều hơn với
tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng cao. Hành vi chống người thi hành
công vụ diễn ra ngày càng nghiêm trọng, nhiều vụ ngang nhiên, công khai,
trắng trợn. Trong nhiều vụ thể hiện sụ liều lĩnh, thách thức pháp luật, sẵn sàng
giải cứu đồng bọn, chống trả lại lực lượng thi hành pháp luật để tẩu thoát.
1


Trước thực trạng trên, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự tỉnh Quảng
Ngãi tăng cường áp dụng PLHS để giải quyết các vụ án chống người thi hành
công vụ giữ vững kỷ cương pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự. Bên cạnh
những mặt tích cực, việc áp dụng PLHS để giải quyết các vụ án chống người
thi hành công vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự tỉnh Quảng Ngãi
vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót, nhất là trong định tội danh và quyết định
hình phạt. Nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ cũng đã có một số
công trình nghiên cứu nhưng ở phạm vi cả nước hoặc ở các vùng, miền, địa
phương khác. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu tội chống người thi
hành công vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Điều đó đòi hỏi cần phải nghiên
cứu một cách hệ thống, khách quan, toàn diện những vấn đề lý luận, quy định
của PLHS về tội chống người thi hành công vụ và thực tiễn áp dụng trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi nhằm tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả công
tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này cũng như nâng cao công tác

trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 3/2015, tr. 32 – 34;
- Bài viết “Trao đổi về bài viết: Nguyễn Từ H và đồng bọn phạm tội
"Cướp tài sản" hay "Chống người thi hành công vụ" của tác giả Nguyễn Anh
Chung đăng trên Tạp chí Tòa án, Số 10/2014, tr. 24 – 26;
- Bài viết “Thực trạng, nguyên nhân tội chống người thi hành công vụ và
các biện pháp phòng ngừa” năm 1993 của tác giả Bùi Hữu Hùng –
VKSNDTC;
- Bài viết “Bàn về hành vi chống người thi hành công vụ” của tác giả
Đinh Văn Quế;
- Bài viết “Một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật
hình sự để xử lý hành vi chống người thi hành công vụ” của các tác giả Trần
Vi Dân và Đào Anh Tới đăng trên Tạp chí Kiểm sát, Số 14/2011, tr. 36 – 39;
- Bài viết “Nguyễn Từ H. và đồng bọn phạm tội "Cướp tài sản" hay
"Chống người thi hành công vụ"? của tác giả Lê Văn Sua đăng trên Tạp chí
Tòa án nhân dân. Tòa án, Số 17/2014, tr. 23 – 27.
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về tội chống người thi hành
công vụ dưới góc độ tội phạm học và một số luận văn về tội chống người thi
3


hành công vụ nhưng nội dung nghiên cứu hoàn toàn khác. Điều đó cho phép
khẳng định rằng, đề tài này không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào
đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của BLHS về tội
chống người thi hành công vụ và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi. Luận văn hướng tới việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của
PLHS về tội chống người thi hành công vụ và nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định đó trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.

- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu tội chống người thi hành công vụ được
quy định tại Điều 257 BLHS Việt Nam năm 1999 (Được sửa đổi, bổ sung
năm 2009) dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình sự.
- Số liệu được sử dụng làm chất liệu để nghiên cứu đề tài là số liệu
thống kê các vụ án chống người thi hành công vụ đã được xét xử sơ thẩm ở
các TAND các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi;
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi;
- Về thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính
sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hệ
thống, thống kê, so sánh, lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh, dự báo
để rút ra được những kết luận có tính lý luận và thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đây là công trình nghiên cứu một cách hệ thống và tương đối toàn diện
về tội chống người thi hành công vụ theo PLHS Việt Nam. Do vậy, kết quả
5


nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, làm phong phú thêm lý luận
chuyên ngành luật hình sự về một tội danh cụ thể.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo để sửa đổi bổ sung
hoàn thiện các quy định của PLHS về tội chống người thi hành công vụ cũng
như nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

cần làm rõ một số khái niệm có liên quan như “Công vụ”, “Người thi hành
công vụ”, “Chống người thi hành công vụ”.
* Đầu tiên là khái niệm về công vụ:
Công vụ là một khái niệm rộng về phạm vi và quan trọng về ý nghĩa
trong nền hành chính nhà nước. Nói đến công vụ là nói đến hoạt động của nhà
nước, với nhiều yếu tố hợp thành như thể chế công vụ, đội ngũ công chức, các
cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước... Một số giáo trình hoặc tài liệu ở Việt
Nam hiện nay quan niệm công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực
và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính
sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã
hội hoặc coi công vụ là một dạng của lao động xã hội chủ yếu do các công
chức thực hiện. Hoạt động công vụ được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm
thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và
gắn với quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước. Ở một số nước trên thế giới
7


cũng có nhiều quan niệm khác nhau về công vụ. Cộng hòa Pháp quan niệm
khi nói về công vụ: “Toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng
lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong một công sở hay
một công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được thực thụ vào một trong các
ngạch của nền hành chính công" [47]. Theo đó, từ điển Pratique du Francais
1987 định nghĩa: "Công vụ là công việc của công chức" [47]. Các nhà nghiên
cứu của đại học Michigan- Hoa kỳ quan niệm về công vụ là "một khái niệm
chung miêu tả về các nhân viên do Chính phủ tuyển dụng, những người cấu
thành nên công vụ theo chức nghiệp. Các công chức được tuyển dụng trên cơ
sở thực tài (công tích), được đánh giá định kỳ theo kết quả thực thi công tác
của mình, được nâng bậc căn cứ theo tính điểm hiệu quả và được bảo đảm về
công việc" [47].
Nghiên cứu các quan niệm về công vụ nêu trên, có thể thấy ở Việt Nam

Theo nghĩa hẹp: Công vụ thuộc khu vực của “Nhà nước” tương ứng

với chủ thể công vụ là các cơ quan thuộc hệ thống bộ máy nhà nước và cán
bộ, công chức là chủ thể trực tiếp hoạt động công vụ trong các cơ quan nhà
nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) thực thi chức năng, nhiệm vụ công do
cấp có thẩm quyền quy định.
Theo nghĩa hẹp hơn, công vụ được giới hạn trong hoạt động hành pháp
của cán bộ, công chức thuộc khu vực hành chính nhà nước.
Thực chất, khái niệm công vụ nêu trên được thể hiện qua các tiêu chí:
-

Đối tượng công vụ là công việc hay nhiệm vụ thuộc khu vực công,

trong đó nhà nước chịu trách nhiệm đảm nhiệm trước xã hội.
-

Chủ thể công vụ là các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công

chức nhân danh nhà nước thực thi công vụ theo quy định của pháp luật.
-

Hoạt động công vụ do nhà nước đảm bảo ngân sách và các nguồn lực

khác nhằm phục vụ lợi ích chung của nhân dân, cộng đồng, xã hội.
Tiếp cận khái niệm về hoạt động công vụ. chúng ta có thể hiểu đó là hoạt
động đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ, chức
năng của nhà nước, phục vụ xã hội, công dân, nhà nước.
Trong mỗi một nhà nước khác nhau, tất nhiên bản chất khác nhau nên
hoạt động công vụ của nhà nước đó được thực hiện theo những nguyên tắc
khác nhau. Thậm chí trong cùng một nhà nước, ở những giai đoạn khác

cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp.
Điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về hoạt động công
10


vụ của cán bộ, công chức, theo đó thì hoạt động công vụ “là việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và
các quy định khác có liên quan”. Cán bộ, công chức khi tham gia hoạt động
công vụ phải tuân thủ các nghĩa vụ và có trách nhiệm thực hiện đúng quyền
hạn được giao.
Từ những phân tích trên, tác giả rút ra khái niệm: Hoạt động công vụ là
việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, gắn với quyền lực nhà
nước, nhân danh nhà nước và được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm phục
vụ lợi ích của nhân dân và xã hội do những người có thẩm quyền thực hiện
theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ.
* Khái niệm về người thi hành công vụ:
Khái niệm về người thi hành công vụ được quy định tại một số văn bản
pháp luật, cụ thể:
Tại khoản 1, Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009
quy định “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển
dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện
nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt
động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”.
Nghị định số 208/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về các biện
pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công
vụ, tại khoản 1, Điều 3 đã giải thích về người thi hành công vụ như sau:

hợp cụ thể để xác định một tội phạm khác có tình tiết vì lý do công vụ của
nạn nhân. Trên thực tế có rất nhiều trường hợp những đối tượng sai phạm
không có hành động, lời lẽ, thái độ chống đối lực lượng đang thi hành công
vụ, nhưng sau khi những người công vụ kết thúc nhiệm vụ hoặc trở về với
cuộc sống thường ngày thì những đối tượng này lại có những hành vi xâm hại
đến họ. Những hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh, bởi suy cho cùng
đó là sự gián tiếp thể hiện thái độ phản kháng, tư thù đối với người thi hành
công vụ.
Đồng thời chúng ta cũng phải xác định rằng, nếu người đang thi hành
12


công vụ thực hiện nhiệm vụ của họ một cách trái pháp luật mà bị cản trở, xâm
phạm thì người cản trở, xâm phạm không bị truy cứu TNHS về tội chống
người thi hành công vụ.
* Khái niệm về chống người thi hành công vụ:
Hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi xâm phạm đến hoạt
động bình thường của các cơ quan, tổ chức, làm giảm hiệu lực quản lý của
các cơ quan, tổ chức đó và có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của chính những người thi hành công vụ.
Tại khoản 2, Điều 3 Nghị định số 208/2013/NĐ-CP của Chính phủ đã
giải thích như sau:
“Hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực hoặc không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành
công vụ hoặc có hành vi khắc nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện
nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện
nhiệm vụ được giao” [13].
Theo quy định tại Điều 257 BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung
năm 2009) thì hành vi chống người thi hành công vụ là “dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực

nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong quản lý lĩnh vực hành chính Nhà nước
nhất định (cán bộ thuế vụ, cảnh sát giao thông, bộ đội biên phòng...).
Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp
pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người
thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm phạm thì hành vi
của người có hành vi xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành
công vụ.
- Thứ hai là mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm chống người
thi hành công vụ thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các
thủ đoạn khác cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện những hành vi trái
pháp luật hoặc không cho họ thực thi chức trách, nhiệm vụ của mình. Dùng
vũ lực được hiểu là sự tác động bằng sức mạnh vật chất lên thân thể người
đang thi hành công vụ như trói, đấm, đá gây thương tích nhẹ, bắt nhốt, không
14


cho người đó thực thi nhiệm vụ của mình.
Đe dọa dùng vũ lực là dọa sẽ dùng sức mạnh vật chất để chống lại nếu
người thi hành công vụ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình. Hành vi đe dọa
dùng vũ lực phải mang tính chất hiện thực tức là phải có cơ sở để người thi
hành công vụ tin rằng nó sẽ được thực hiện ngay tức khắc nếu không thực
hiện các hành vi trái pháp luật theo yêu cầu của người phạm tội.
Các thủ đoạn khác cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện hành vi
trái pháp luật có thể là đe dọa sẽ công bố những tin tức, tài liệu bất lợi cho
người thi hành công vụ hoặc cho người thân thích của họ, đe dọa gây thương
tích, hủy hoại tài sản của họ.
Để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 257 BLHS cần xác định các
hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác của người phạm
tội không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 93 (Tội giết người) và Điều
104 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác)

Trong mặt chủ quan của tội chống người thi hành công vụ thì yếu tố lỗi
và mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Tuy nhiên chúng ta cũng
cần phải xem xét đánh giá lỗi và mục đích phạm tội trong mối quan hệ với động
cơ phạm tội để nhận định đúng về thái độ chủ quan của người phạm tội.
- Thứ tư là chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có đủ
khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có độ tuổi chịu TNHS
theo quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 12 của BLHS năm 1999, chủ thể
của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Theo quy định về
khung hình phạt của tội chống người thi hành công vụ thì tội chống người thi
hành công vụ có thể là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng
nên chủ thể phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đủ năng lực TNHS.
1.2. Phân biệt tội chống ngƣời thi hành công vụ với các tội phạm
khác có dấu hiệu chống ngƣời thi hành công vụ
Bên cạnh Điều 257 BLHS năm 1999 quy định về tội chống người thi
hành công vụ thì trong BLHS hiện hành còn quy định một số tội phạm khác
có yếu tố công vụ, cụ thể:
- Tội giết người nếu “giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lí do
16


công vụ của nạn nhân” (điểm d, khoản 1, Điều 93);
- Tội đe dọa giết người nếu “đe dọa giết người thi hành công vụ hoặc vì
lí do công vụ của nạn nhân” (điểm b, khoản 2, Điều 103);
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
nếu cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác “để
cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân” (điểm k,
khoản 1,2,3,4 Điều 104);
- Tội lây truyền HIV cho người khác nếu lây truyền HIV “đối với người thi
hành công vụ hoặc vì lí do công vụ của nạn nhân” (điểm d, khoản 2, Điều 117);
- Tội cố ý truyền HIV cho người khác nếu cố ý truyền HIV “đối với

những trường hợp phạm tội nêu trên có thể trước, trong hoặc sau khi người thi
hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao một cách đúng pháp luật, vì lợi
ích chung của xã hội, của nhân dân. Riêng đối với tội chống người thi hành
công vụ thì bắt buộc thời điểm xảy ra hành vi phạm tội là khi người bị hại
đang thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Xét về mặt hành vi khách quan thì những trường hợp phạm tội nêu trên
đều có dấu hiệu chống người thi hành công vụ, tuy nhiên hành vi cụ thể của
người phạm tội nếu thõa mãn các trường hợp được quy định tại điểm d, khoản
1, Điều 93; điểm b, khoản 2, Điều 103; điểm k, khoản 1,2,3,4 Điều 104; điểm
d, khoản 2, Điều 117; điểm d, khoản 2, Điều 118; điểm d, khoản 2, Điều 121;
điểm đ, khoản 2, Điều 122; điểm c, khoản 2, Điều 123; điểm đ, khoản 2, Điều
143 thì sẽ bị truy cứu TNHS theo điều luật tương ứng. Ví dụ: Trong khi Trần
Văn A đang thực thi một nhiệm vụ đúng quy định của pháp luật, thì Trần Văn
B có hành vi chống người thi hành công vụ, cụ thể B dùng chân tay đấm, đá
vào phần đầu, mặt của A làm A bị chết thì Trần Văn B sẽ bị truy cứu TNHS
về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS
hoặc tội “Giết người” được quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 93 chứ không
bị truy cứu về tội chống người thi hành công vụ.
1.3. Tội chống ngƣời thi hành công vụ theo quy định của Bộ luật
hình sự năm 1999
Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257, thuộc
18


Chương XX, Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, Bộ luật hình sự
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (Được sửa đổi, bổ sung
năm 2009) với nội dung như sau:
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác
cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ
thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa
những người cùng thực hiện tội phạm. Nghĩa là có từ hai người trở lên cố ý
cùng thực hiện một tội phạm (đồng phạm). Tình tiết phạm tội có tổ chức đối
với Tội chống nguời thi hành công vụ cũng có hình thức như trên. Nghĩa là
trước khi thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ các đối tượng (từ
hai người trở lên) đã có sự bàn bạc thống nhất, cấu kết, phân công vai trò cụ
thể của từng người... tạo điều kiện thực hiện tốt hơn những hành vi của mình,
cản trở triệt để việc thi hành công vụ của người đang thi hành công vụ.
- Phạm tội nhiều lần: Phạm tội nhiều lần là người phạm tội phạm từ hai
tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều luật, hoặc tại cùng
một khoản của điều luật tương ứng trong phần riêng của BLHS, đồng thời đối
với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu TNHS và người phạm tội vẫn chưa
bị xét xử. Phạm tội nhiều lần đối với tội chống người thi hành công vụ cũng
được hiểu như trên, nghĩa là người phạm tội đã thực hiện hành vi chống người
thi hành công vụ từ hai lần trở lên, mỗi lần thực hiện hành vi đều thõa mãn
những dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng chưa bị xét xử.
- Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội: Trong trường hợp
này người phạm tội đã có những hành vi xúi giục, kích động khiến người
khác phạm tội, những người phạm tội do thiếu hiểu biết, ý thức chấp hành
pháp luật còn kém, cũng có thể là do nóng nảy, bức xúc, do sỹ diện... nên khi
bị người khác xúi giục, kích động, lôi kéo đã nảy sinh hành vi chống lại cán
bộ và nhân viên thi hành nhiệm vụ. Sự xúi giục này được thực hiện bằng
nhiều thủ đoạn như lôi kéo, kích động, cưỡng ép, lừa dối, nghĩ ra việc phạm
tội, thúc đẩy cho tội phạm đó được thực hiện thông qua người khác nhằm
thực hiện ý định phạm tội đã có.

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status