LỜI MỞ ĐẦU
Thuật ngữ “Chính quyền địa phương” thường được hiểu là những đơn vị
của chính quyền trực tiếp cung cấp dịch vụ cho công dân tại cấp trung gian thấp
và thấp nhất. Tại một số nước trên thế giới, các đơn vị chính quyền địa phương
đã có quyền tự trị từ rất lâu trước khi các quốc gia đó được thành lập với cơ cấu
tổ chức chính quyền như hiện nay và do đó, không cần sự phân cấp thấm quyền
từ cấp chính quyền cao hơn cho các đơn vị này. Tại một số nước có cơ cấu nhà
nước đơn nhất, chính quyền địa phương thi hành quyền lực của mình theo
nguyên tắc quyền lực của chính quyền cấp dưới do chính quyền Trung ương trực
tiếp ủy nhiệm, và cấp trung ương có thế bãi bỏ việc ủy nhiệm đó. Tại một số
nước thuộc hệ thống đơn nhất khác, chính quyền địa phương hoạt động theo
nguyên tắc thẩm quyền chung, và trên nguyên tắc được phép thực thi những
thẩm quyền không thuộc chính quyền Trung ương.
Khác với chế độ tự quản địa phương của một số nước, chính quyền địa
phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước
thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân
địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ
sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật nhằm quản
lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập
trung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích
chung của cả nước.
Với nội dung tiểu luận, tôi mong muốn góp phần làm rõ hơn về cơ cấu
chính quyền địa phương tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động của chính quyền địa phương Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
theo xu hướng chung và phù hợp với Hiến pháp 2013.
Chương I.
CÁC MÔ HÌNH TỔ CHÚC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRÊN THẾ
GIỚI
giải của toà án. Đây là mô hình dân chủ hơn cả, CQĐP có khả năng và điều kiện
phát huy được quyền chủ động của mình, không có sự bảo trợ nào của chính
quyền cấp trên, cũng như của cả chính quyền trung ương. Trong trường hợp hãn
hữu gặp khó khăn về tài chính, CQĐP được sự trợ giúp của chính quyền trung
ương. Một khi đã nhận sự trợ giúp về mặt kinh tế của trung ương, ít nhiều
CQĐP phải chịu sự chỉ đạo của chính quyền trung ương. Trong trường hợp
không chịu sự chỉ đạo của trung ương, thì lẽ đương nhiên các khoản viện trợ
kinh phí sẽ bị giảm bớt, thậm chí là cắt hẳn. Điều đặc biệt ở CQĐP Anh quốc là
có nơi chỉ có các cơ quan đại diện, mà không có cơ quan chịu trách nhiệm thực
hiện các quyết định do cơ quan đại diện ban hành kiểu như Ủy ban nhân dân của
Việt Nam hiện nay. Hội đồng địa phương vừa làm cả chức năng của Hội đồng
nhân dân lẫn chức năng của Uỷ ban nhân dân. Các hội đồng địa phương ở Anh
thường thành lập rất nhiều các ban của mình để quản lý và điều hành công việc.
Chính vì vậy mà có học giả gọi CQĐP ở nước này là “Nhà nước của các ban”
hay “điều hành bằng các ban”.
2.2 Mô hình chính quyền đia phương ở Mỹ
Mô hình hành chính địa phương của Nhà nước Mỹ áp dụng nguyên tắc phân
quyền một cách đậm đặc nhất. Địa phương ở Mỹ quốc được toàn quyền giải
quyết các công việc của mình mà không cần thiết có sự bảo trợ từ trung ương.
Sự phục tùng trung ương, cũng như việc giám sát trung ương đối với địa phương
chủ yếu bằng pháp luật và thông qua hoạt động xét xử của toà án. Việc phân
quyền tuyệt đối được thể hiện trước hết bằng việc các địa phương thoải mái
trong việc lựa chọn các mô hình tổ chức và hoạt động của mình. Hiện nay, nước
Mỹ có tới 4 mô hình tổ chức: Hội đồng và Thị trưởng mạnh; Hội đồng và thị
trưởng yếu; Ban quản đốc cùng với Hội đồng do dân bầu ra; và Uỷ ban và Hội
đồng cùng do dân bầu ra.
Khi soạn thảo Hiến pháp năm 1787, các nhà lập hiến Mỹ đã không đả động đến
hệ thống chính quyền đa cấp và đa dạng này. Trong khi vẫn coi cơ cấu quốc gia
là quan trọng nhất, họ đã khôn khéo thừa nhận sự cần thiết của một loạt các cấp
chính quyền có quan hệ trực tiếp hơn đến dân chủ và thích ứng một cách nhạy
Đây là hệ thống quyền lực được phân theo nguyên tắc: cái gì địa phương làm tốt
thì địa phương làm, trung ương chỉ làm những gì mà địa phương làm không tốt
hơn. Vấn đề quan trọng trong hệ thống của Đức là ở đây phân rất rõ trách nhiệm
của từng cấp, cấp này làm thì cấp kia không làm. Và như vậy thì quyền của mỗi
cấp mang tính chủ động và được phân cấp; đồng thời được phân nhiệm vụ thì
cũng được phân ngân sách, tức là cấp đó sẽ có nguồn thu bảo đảm cho việc thực
hiện nhiệm vụ của mình. Đức là nước có mô hình tổ chức bộ máy hành chính
nhà nước theo kiểu liên bang, gồm có chính quyền liên bang, 16 chính quyền
bang (trong đó có ba bang là thành phố là Berlin, Hamburg, Bremen) và CQĐP
(có hai cấp CQĐP cấp cơ sở và CQĐP cấp hạt). Ba cấp hành chính này độc lập
với nhau. Theo Hiến pháp Đức, CQĐP các cấp là một thực thể rất quan trọng
trong hệ thống chính trị
4
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM
1 . Giới thiệu chung về việt Nam
Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S, nằm ở
trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc
giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển
Đông và Thái Bình Dương. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền
dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường
chim bay) dài 1 650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất
600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình).
Kinh tuyến:
102º08'-109º28'đông
Vĩ tuyến: 8º 02' - 23º 23' bắc
Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.
phương. Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp 2013 thì chính quyền địa
phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định và căn cứ Luật Tố chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 chính quyền địa phương được tổ chức ở
ba cấp tương ứng đối với các đơn vị hành chính sau đây:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
- Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa
phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà
nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật
6
định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực
hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng
cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên. Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và
pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và
thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
Ngoài ra, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo
tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân
dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền
và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt
ra.
Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã được thực hiện theo
nguyên tắc sau đây:
a) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ một nghìn dân trở xuống được bầu
mười lăm đại biểu;
b) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên một nghìn dân đến hai nghìn dân
được bầu hai mươi đại biểu;
c) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên hai nghìn dân đến ba nghìn dân
được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên ba nghìn dân thì cứ thêm một nghìn dân
được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu;
d) Xã không thuộc quy định tại các điểm a, b và c khoản này có từ bốn nghìn
dân trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên bốn nghìn dân thì cứ
thêm hai nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba
mươi lăm đại biểu.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là đại biểu
Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
3. Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội. Ban của
Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên.
Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội đồng nhân dân
xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội
đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm.
8
Bộ máy giúp việc của Ủy ban nhân dân cấp xã có các công chức: Tư pháp
- Hộ tịch, Địa chính - Xây dựng, Tài chính – Kế toán, Văn phòng - Thống kê,
Văn hóa - Xã hội, Chỉ huy Trưởng quân sự, Trưởng công an.
3.2 . Tổ chức chính quyền địa phương ở cấp Cấp huyện:
bốn mươi lăm đại biểu.
9
2. Thường trực Hội đồng nhân dân huyện gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng
nhân dân huyện. Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện có thể là đại biểu Hội đồng
nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện là đại
biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
3. Hội đồng nhân dân huyện thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội; nơi
nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc. Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định tiêu chuẩn, điều kiện thành lập Ban dân tộc quy định tại
khoản này.
Ban của Hội đồng nhân dân huyện gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và
các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân huyện do
Hội đồng nhân dân huyện quyết định. Trưởng ban của Hội đồng nhân dân huyện
có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng ban
của Hội đồng nhân dân huyện là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên
trách.
4. Các đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu
cử hợp thành Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân. Số lượng Tổ đại biểu Hội đồng
nhân dân, Tổ trưởng và Tổ phó của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân do Thường
trực Hội đồng nhân dân huyện quyết định.
Đây là chính quyền của các địa phương cấp huyện, quận, thành phố trực
thuộc tỉnh, thị xã. Ủy ban nhân dân cấp huyện có từ 09 đến 13 thành viên, gồm
Chủ tịch, 02-03 Phó Chủ tịch và các ủy viên. Thường trực Ủy ban nhân dân cấp
huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, và ủy viên thư ký. Người đứng đầu Ủy
ban nhân dân cấp huyện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, trên danh nghĩa là do Hội
đồng nhân dân huyện bầu ra. Thông thường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện sẽ
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh.
6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương, các địa phương
thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực hiện quy hoạch vùng, bảo đảm
tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.
7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ
của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.
Đây là chính quyền của các địa phương cấp tỉnh và thành phố trực thuộc
Trung ương, được phap luật quy định cơ cấu tổ chức gồm Ủy ban nhân dân có từ
11 đến 17 thành viên, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, 1 ủy viên thư ký và các
ủy viên khác. Thường trực ủy ban Nhân dân cấp tỉnh gồm Chủ tịch, các Phó Chủ
11
tịch, và ủy viên thư ký. Người đứng đầu chính quyền địa phương cấp tỉnh là Chủ
tịch úy ban Nhân dân. Trên danh nghĩa, vị trí này do Hội đồng nhân dân tỉnh
quyết định bằng bầu cử theo hình thức bỏ phiếu. Giúp việc cho Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh là các Sở, ngành tỉnh.Theo luật tổ chức chính quyền địa phương năm
2015 thì cơ cấu tổ chức của hội đồng nhân dân được quy định như sau :
1. Hội đồng nhân dân tỉnh gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở tỉnh
bầu ra.
Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được thực hiện theo
nguyên tắc sau đây:
a) Tỉnh miền núi, vùng cao có từ năm trăm nghìn dân trở xuống được bầu năm
mươi đại biểu; có trên năm trăm nghìn dân thì cứ thêm ba mươi nghìn dân được
bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá tám mươi lăm đại biểu;
b) Tỉnh không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này có từ một triệu
dân trở xuống được bầu năm mươi đại biểu; có trên một triệu dân thì cứ thêm
năm mươi nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá chín
mươi lăm đại biểu.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai
* Vai trò
Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt. Một mặt, với tư
cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền địa
phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên
lãnh thố địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất trên lãnh thổ
Việt Nam. Mặt khác, chính quyền địa phương lại là cơ quan do nhân dân địa
phương lập ra (trực tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương
nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của
Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Vai trò như vậy
của chính quyền địa phương được thể hiện tập trung về nguyên tắc tập trung dân
chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của bộ máy nhà nước
nói chung. Trong đó, tập trung thống nhất là yếu tố có tính chủ đạo. Tư tưởng cơ
bản trong tố chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc đó là vừa bảo đảm sự
tập trung thống nhất, vừa phát huy vai trò chủ động tích cực của địa phương.
* Mô hình:
Mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam thể hiện trên hai điểm
cơ bản sau:
a) Mỗi đơn vị hành chính thành lập hai loại cơ quan là Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân.
b) Giữa chính quyền địa phương và chính quyền trung ương và giữa các
cấp chính quyền địa phương không có tính độc lập cao, tuy rằng trong quá trình
cải cách bộ máy nhà nước đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cho các cấp chính
13
quyền địa phương. Nguyên tắc cơ bản và hàng đầu trong tố chức và hoạt động
của bộ máy chính quyền địa phương là tập trung dân chủ. Đây là điểm rất đáng
chú ý trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta. Nó chứng tỏ rằng, chính
quyền địa phương Việt Nam không có “chủ quyền” trong việc thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Quy định ở Điều 7 của Luật Tổ chức Hội đồng
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP ĐÓNG GÓP
NHẰM NẦNG CAO HIỆU QUẢ CỦA TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG Ở VIỆT NAM
3.1. Một số ưu điểm:
- Từng bước sắp xếp, kiện toàn hợp lý hơn tổ chức, bộ máy theo hướng
tinh, gọn. số lượng đầu mối các bộ, ban, ngành giảm.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ, lề lối làm việc được quy
định cụ thể hơn, đã có sự điều chỉnh, bổ sung hợp lý, phân định rõ ràng hơn.
Chức năng, nhiệm vụ các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục được hoàn thiện, khắc
phục cơ bản sự trùng lắp, dẫm đạp; các bộ được tồ chức theo mô hình quản lý đa
ngành, đa lĩnh vực đã hoạt động ồn định, cơ chế phối hợp tốt hơn, hiệu lực, hiệu
quả được nâng lên, phân biệt rõ hơn chức năng quản lý nhà nứơc và quản lý sản
xuất kinh doanh, tách dần hoạt động hành chính với hoạt động các đơn vị kinh
tế, sự nghiệp và dịch vụ công.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhìn chung được nâng lên một
bước về trình độ lý luận chính trị, học vấn ,chuyên môn nghiệp vụ. Đa số cán bộ
công chức giữ gìn phẩm chất chính trị và đạo đức, lối sống, thích ứng dần với cơ
chế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Những tiến bộ đó đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước của dân, do dân và
vì dân.
15
3.2 Một số tồn tại trong tổ chức, hoạt động của chính quyền địa
phương Việt Nam
Mô hình tổ chức bộ máy, hệ thống luật pháp chưa phân định thật rõ chính
3.3.1Sự cần thiết phải nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của chính
quyền địa phương
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của chính quyền địa phương (tổ chức thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước...) nâng cao năng
lực, hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương có ý nghĩa nâng cao
vai trò của Đảng, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước nói chung.
- Do yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Do yêu cầu thực hiện dân chủ
- Do yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
- Do yêu cầu mở rộng hội nhập quốc té
- Xuất phát từ thực trạng năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính
quyền địa phương
+ chức năng nhiệm vụ
+ Cơ cấu tổ chức
+ Đội ngũ cán bộ, công chức (năng lực, phẩm chất)
+ phương thức hoạt động
Nhìn chung, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương còn ảnh
hưởng nặng mô hình hành chính truyền thống, nặng tính tập trung quan liêu,
hiệu lực, hiệu quả thấp
3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả, đổi mới phưong thức hoạt động
*Khái Niệm Hiệu Quả
Hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương là kết quả quản lý đạt được của
chính quyền địa phương trong sự tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực,
trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội.
Hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương thể hiện ở các mặt sau:
- Đạt mục tiêu tối đa với mức độ chi phí các nguồn lực nhất định.
- Đạt mục tiêu nhất định với mức độ chi phí các nguồn lực tối thiểu
- Đạt được mục tiêu không chỉ trong quan hệ với chi phí nguồn lực (tài
chính, phương tiện, nhân lực) mà còn trong quan hệ với hiệu quả xã hội, hiệu
quả chính trị)
thôn và đô thị, chứ không thể tổ chức như nhau trong khi giữa hai địa bàn này có
nhiều khác nhau về điều kiện kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng, nhất là
thành phố trực thuộc trung ương còn có vị trí, vai trò của một trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hoá, khoa học v.v.., có ảnh hưởng đối với cả một vùng, cũng như
đối với cả nước. Mạnh dạn phân cấp, phát huy vai trò quyết định và khả năng
18
chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nguồn lực, ngân sách, biên
chế cho chính quyền địa phương; giao đủ thẩm quyền và tạo cơ chế bảo đảm
thực quyền của HĐND các cấp nhưng đồng thời tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát;
- Việc phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ ở nước ta những năm vừa qua
chưa được giải quyết thoả đáng về lý luận và thực tế. Vì thế nên mới có chuyện
khi thì ồ ạt sáp nhập tỉnh (năm 1980 cả nước có 36 tỉnh, ba thành phố trực thuộc
trung ương và một đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo) để rồi sau đó lần lượt chia tách
tỉnh trả lại gần như trước khi nhập tỉnh. Việc xác định vị trí, tính chất và vai trò
của từng loại đơn vị hành chính cũng là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa quyết
định trong việc tổ chức hợp lý các cấp chính quyền địa phương. Cuối những
năm 1970 đến giữa những năm 1980 chúng ta đã có chủ trương không đúng khi
xác định huyện là địa bàn chiến lược nên đã ban hành một loạt văn bản về xây
dựng huyện và tăng cường cấp huyện, trong khi đơn vị hành chính này một thời
gian dài chỉ là “cấp trung gian”. Do không xác định đúng các đơn vị hành chính
nên chúng ta không giải quyết được vấn đề tổ chức mấy cấp chính quyền ở tỉnh,
mấy cấp ở thành phố, cấp nào có Hội đồng nhân dân, còn cấp nào chỉ có Ủy ban
nhân dân. Đây là vấn đề được thảo luận nhiều từ khi soạn thảo Hiến pháp 1992
đến nay vẫn chưa giải quyết xong, tương tự Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013
không quy định về vấn đề rất quan trọng này mà dành cho Luật quy định.
Cần nghiên cứu, quy định thêm một cấp đơn vị hành chính có tính chất vùng
hoặc miền gồm một số tỉnh, thành phố để tổ chức bộ máy hành chính gọn nhẹ
khiếu nại tố cáo và kiến nghị của công dân đối với các hoạt động của các cơ
quan, các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là những điều kiện căn bản để
đảm bảo tính dân chủ của các hoạt động quản lý nhà nước. Từ đó có thể thấy
rằng, mặc dù trong lĩnh vực hành pháp, yếu tố tập trung luôn được quán triệt và
chi phối tất cả các hoạt động, nhưng không vì thế mà mất đi cơ sở dân chủ của
nó, một khi nó được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của chính đông đảo chúng
20
thông qua lăng kính “công khai”. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong
điều kiện cụ thể của nước ta không còn thuần tuý là công việc lý luận mà đã và
đang trở thành các công việc thực tiễn. Mô hình nhà nước ấy đang đòi hỏi phải
cải cách một cách căn bản các thiết chế quyền lực của Nhà nước trên tất cả các
phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều căn bản là các biện pháp,
phương hướng cải cách ấy phải được tiến hành đồng bộ, đảm bảo tính hài hoà,
phù hợp với nhau giữa các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước thống nhất, đảm
bảo xây dựng một nền hành chính phù hợp với tình hình mới của đất nước hiện
nay và cho tương lai.
21
Và cần phải nghiên cứu tổ chức các cấp chính quyền địa phương sao cho phù
hợp
với tính đa dạng của các địa phương, phản ánh được các đặc điểm và điều
kiện đặc
thù của địa phương nhằm phát huy tính chủ động, năng động, các tiềm
năng của địa
phương.
Tổ chức chính quyền ở các đô thị cần phải được xem xét riêng biệt sao
chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Các cơ quan chính quyền
cấp trên tăng
cường kiểm tra, giám sát nhưng không can thiệp, làm thay cấp dưới,để
hoàn thiện hơn nữa tổ chức chính quyền địa phương cần
Thứ nhất, Cần đa dạng hoá chính quyền đô thị tuỳ theo quy mô và đặc điểm của
đô thị. Theo Tôi các đô thị nên tổ chức theo 3 mô hình:
Các đô thị lớn cần tổ chức theo mô hình Hội đồng - Thị trưởng “Council –
Mayor. Theo mô hình này Hội đồng là cơ quan đại diện của đô thị do nhân dân
trực tiếp bầu ra. Hội đồng có thể ban hành luật có hiệu lực trong phạm vi địa
phương mình, có thể thu thuế để giải quyết các vấn đề của địa phương. Cần bỏ
cách phân loại đơn vị hành chính đồng loạt theo cấp mà phân theo tính chất
cơ bản (đơn vị theo điểm dân cư) và trung gian (nhân tạo) có sự phân biệt
giữa đô thị và nông thôn. Ở các đơn vị hành chính trung gian cần thiết lập bộ
máy chính quyền gọn nhẹ, có chức năng chính là triển khai quyền lực nhà
nước xuống các lãnh thổ. Còn ở đơn vị hành chính cơ bản phải thể hiện rõ rệt
tổ chức quyền lực nhân dân, tự chủ và tự quản thông qua hình thức cơ quan
đại diện. Theo hướng đó ở các đơn vị hành chính trung gian chỉ nên có cơ
quan chính quyền là bộ máy hành chính nhà nước mà không cần có
HĐND. Ở các đơn vị hành chính cơ bản như xã, thị trấn, thị xã, thành phố thì
nhất thiết giữ mô hình HĐND như hiện nay. Thiết kế lại các mối quan hệ giữa
các cơ quan trong CQĐP và giữa cơ quan CQĐP với các cơ quan nhà nước
cấp trên. Trong mối quan hệ giữa HĐND (nơi có Hội đồng) với cơ quan chấp
hành của nó cần bảo đảm sự gắn kết giữa hai cơ quan này, nghĩa là không nên
để cơ quan chấp hành đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước, trực thuộc
cấp trên. Các chức năng quản lý hành chính vẫn giao cho HĐND và cơ quan
chấp hành của nó thực hiện nhưng trên tinh thần tự chủ, dưới sự giám sát của
một cơ cấu đại diện của cấp trên hoặc bằng pháp luật. Nghiên cứu chuyển một
23
dạng hóa và phát huy các hình thức dân chủ, bảo đảm quyền tham gia trực tiếp
của nhân dân trong công việc nhà nước. Bên cạnh đó, cần kế thừa có chọn
lọc kinh những nghiệm lịch sử nước ta như chế độ làng xã tự trị, các lý thuyết
kinh điển và trào lưu mang tính quy luật của cộng đồng quốc tế để áp dụng một
cách sáng tạo. Đó cũng là đáp ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn nêu trên. Trên
cơ sở đó, “Thực hiện phân cấp hợp lý cho CQĐP đi đôi với nâng cao chất lượng
quy hoạch và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của trung ương, gắn
quyền hạn với trách nhiệm được giao... Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của
CQĐP. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND các cấp, bảo
đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực
hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm
quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo” (Mục XI.2 Báo cáo chính
24
trị tại Đại hội Đảng lần thứ XI). Trong điều kiện hiện nay ở nước ta nên áp
dụng nguyên tắc tản quyền, kết hợp phân quyền, bỏ nguyên tắc song trùng trực
thuộc. Tản quyền kết hợp phân quyền chính là cụ thể hóa của tập trung dân chủ.
Thứ tư, Liên quan đến chương IX Hiến pháp 2013, điều quan trọng nhất là cần
có quyết tâm đổi mới một cách triệt để tổ chức CQĐP, trong đó bao gồm những
vấn đề sau:
- Mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với CQĐP phân công thực hiện
quyền lực theo chiều dọc: quyền lực nhà nước và quyền lực của cộng đồng dân
cư địa phương.
- Chuyển từ nguyên tắc tập trung quyền lực về trung ương, về cấp trên sang
nguyên tắc triệt để phân cấp cho địa phương, bảo đảm cho địa phương quyền
chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và thực hiện
nghĩa vụ đối với Nhà nước theo nguyên tắc tự quản địa phương.
- Chuyển từ việc tổ chức các cấp CQĐP theo kiểu cào bằng, cứng nhắc, do
chính quyền trung ương ấn định chặt chẽ (các Ban HĐND, các cơ quan chuyên