MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử đấu tranh, tồn tại và phát triển của loài người,
quyền con người luôn luôn được ghi nhận và bảo đảm trong các đạo
luật của mỗi quốc gia. Ở nước ta, tư tưởng chỉ đạo và xuyên suốt của
Đảng và Nhà nước là xây dựng một nền tư pháp dân chủ với các
nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền con người. Thực hiện theo tinh
thần Nghị quyết 04-NQ/TW năm 2005 của Bộ chính trị, trong những
năm qua, hoạt động tranh tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự và
vai trò của người bào chữa ngày càng được nâng cao, quyền bào chữa
dần được củng cố, tôn trọng, mở rộng và bảo đảm thực hiện.
Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng của
người bị buộc tội, được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp của
nước ta. Tại khoản 4, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “Người
bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền
tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Trên cơ sở trên,
bảo đảm quyền bào chữa được cụ thể hóa và được coi là một trong
những nguyên tắc đặc thù pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Bào chữa bắt buộc có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong việc giải quyết vụ án hình sự. Đây là chỗ dựa về pháp lý, tinh
thần, kiến thức, niềm tin của người bị buộc tội để bảo vệ mình và
cũng là cơ chế, biện pháp pháp lý hữu hiệu để Nhà nước bảo đảm
thực hiện quyền con người. Mặc dù pháp luật hiện nay đã quy định
tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn bộc lộ nhiều vướng mắc. Hơn nữa,
việc áp dụng trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự thuộc
trường hợp bào chữa bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam vẫn còn
nhiều bất cập. Điều này, dẫn đến người bị buộc tội không được bảo
đảm thực hiện trọn vẹn quyền bào chữa. Người bào chữa không thực
1
nhiệm vụ chủ yếu sau:
Đưa ra khái niệm, ý nghĩa và cơ sở quy định của bào chữa bắt
buộc trong pháp luật tố tụng hình sự; các trường hợp và yếu tố bảo
đảm thực hiện bào chữa bắt buộc; những hạn chế, vướng mắc trong
việc thực hiện bào chữa bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và
đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng bào chữa bắt buộc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, đối tượng
nghiên cứu của đề tài là những tài liệu liên quan đến quyền bào chữa,
bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự, những quy định của pháp
luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay và những văn bản pháp lý quốc
tế về bào chữa chữa bắt buộc, thực tiễn áp dụng bào chữa bắt buộc
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích, đánh giá
và tổng hợp những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về bào chữa bắt
buộc trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực hiện bào chữa bắt
buộc theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các số liệu thực hiện bào
chữa bắt buộc từ năm 2012 – 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để thực hiện luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, quan điểm duy vật biện chứng và
Chương 3. Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về bào chữa bắt buộc.
4
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÀO CHỮA BẮT BUỘC
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của bào chữa bắt buộc
1.1.1. Khái niệm bào chữa bắt buộc
Bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự là sự bảo đảm tuyệt
đối quyền có người bào chữa của người bị buộc tội từ phía cơ quan
tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật. Đây còn là một trong
những phương thức bảo đảm quyền bào chữa nhưng không phải là
đương nhiên mà chỉ áp dụng cho một số đối tượng theo quy định của
pháp luật. Hiện nay, pháp luật không quy định rõ khái niệm bào chữa
bắt buộc và thực tiễn cũng chưa có một khái niệm thống nhất. Tuy
nhiên, từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm bào chữa bắt
buộc trong tố tụng hình sự như sau: Bào chữa bắt buộc là sự bảo đảm
quyền bào chữa của người bị buộc tội từ cơ quan tiến hành tố tụng
trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật để người bị
buộc tội có người bào chữa nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
của họ.
1.1.2. Ý nghĩa của bào chữa bắt buộc
Bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự có ý nghĩa ở nhiều
phương diện chính trị, xã hội và pháp lý.
Về mặt chính trị, bào chữa bắt buộc mang ý nghĩa chính trị sâu
sắc, tạo cơ chế hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công
dân của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.
khác nhau. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình phát triển của những quy
định của pháp luật về bào chữa bắt buộc vẫn còn thiếu sót và hạn chế.
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến nay
BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
6
Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/01/1989 đã đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch
sử lập pháp tố tụng hình sự nói chung và chế định bào chữa bắt buộc
nói riêng.
2.1.3. Pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới về
bào chữa bắt buộc
2.1.3.1. Bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự
Trung Quốc
2.1.3.2. Bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự
Liên bang Nga
2.1.3.3. Bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự
Công hòa Liên bang Đức
2.1.3.4. Bào chữa bắt buộc trong pháp luật tố tụng hình sự
Nhật Bản
Như vậy, qua tìm hiểu một số quy định của pháp luật tố tụng
hình sự của một số quốc gia về chế định bào chữa bắt buộc của người
bị buộc tội có thể thấy một số quốc gia quy định về các trường hợp
phải có sự tham gia bắt buộc của người bào chữa gần giống với pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, còn có một số quốc gia
quy định mở rộng phạm vi các trường hợp mà các cơ quan tiến hành
tố tụng bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội.
2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện
hành về bào chữa bắt buộc
nhờ bào chữa hoặc gửi cho người thân của người bị tạm giữ, bị can.
Theo quy định của BLTTHS 2015 thì thủ tục bào chữa bắt
buộc có sự thay đổi. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
sau khi xem xét các giấy tờ cần thiết và thuộc trường hợp đăng ký
bào chữa thì vào sổ đăng ký bào chữa, sau đó gửi thông báo bằng văn
bản cho người đăng ký bào chữa được biết. Như vậy, thủ tục các cơ
8
quan tiến hành tiến hành tố tụng cấp Giấy chứng nhận người bào
chữa sẽ không còn.
2.2.3. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa bắt buộc
Người bào chữa trong bào chữa bắt buộc, về cơ bản được
quyền sử dụng những biện pháp bào chữa do pháp luật quy định cho
người bào chữa nói chung. . Các quyền của người bào chữa theo quy
định pháp luật tố tụng hình sự cụ thể như sau:
Thứ nhất, về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa
bắt đầu từ khi khởi tố bị can, trong các trường hợp bắt người khẩn
cấp và bắt người phạm tội quả tang thì người bào chữa được tham gia
tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ.
Thứ hai, người bào chữa được quyền có mặt khi lấy lời khai
của người bị tạm giữ
Thứ ba, người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo
trước về thời gian địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị
can.
Thứ tư, người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến
hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.
Thứ năm, quyền thu thập tài liệu, đồ vật và tình tiết liên quan
đến việc bào chữa.
Thứ sáu, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu trong qua trình
Quyền được bào chữa bắt buộc không chỉ là quyền của người
bị buộc tội mà còn là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng
phải bảo đảm có người bào chữa cho họ trong các giai đoạn tố tụng.
Nếu cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện đúng nghĩa vụ này thì
bị coi là hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo cũng có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người
bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ đảm bảo cho họ.
Tóm lại, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan
10
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo vệ sự thật, bảo vệ
pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội,
nhất là trong những những trường hợp bào chữa bắt buộc. Chính
những biện pháp bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội sẽ
tạo điều kiện cho những người tiến hành tố tụng phát huy được năng
lực của mình, làm cho hoạt động tố tụng thực sự là một quá trình đi
tìm sự công bằng trên cơ sở tôn trọng các quyền cơ bản của con
người.
2.3. Thực tiễn áp dụng quy định về bào chữa bắt buộc trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam
2.3.1. Những kết quả đạt được trong việc áp dụng các quy
định về bào chữa bắt buộc
Bảng 2.1. Báo cáo tổng hợp của các Tòa án nhân dân cấp huyện trên
Năm
2012
2013
2014
2015
Đối với các vụ án thuộc trường hợp bào chữa bắt buộc theo
yêu cầu của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam mà người
bào chữa là luật sư trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2016 như
sau:
11
Bảng 2.2.Báo cáo tổng hợp án chỉ định tại trụ sở Đoàn luật sư tỉnh
Quảng Nam [9]
Năm
Số lƣợng vụ án đƣợc cơ quan tiến hành tố tụng yêu
cầu luật sƣ bào chữa
2013
43
2014
38
2015
32
2016
15
luật tham gia bào chữa bắt buộc không cao, đa số là do người bị buộc
tội tự bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của họ bào chữa mà
những người này thường không am hiểu về pháp luật.
Sự tham gia của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng
chưa thực sự đảm bảo, gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong các giai
đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn còn nhiều hạn chế trong việc
tranh luận với người bào chữa.
Tại phiên tòa, một số thẩm phán, chủ tọa phiên tòa chưa quan
tâm nhiều đến việc tranh luận.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc
2.3.3.1. Về quy định của pháp luật
Quy định về người bào chữa theo quy định tại Điều 56
BLTTHS 2003 đối với người bào chữa là bào chữa viên nhân dân và
người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa
được hướng dẫn cụ thể. Trong điều kiện số lượng luật sư chưa đủ để
đáp ứng nhu cầu bào chữa trong vụ án hình sự, với quy định thiếu rõ
ràng trên đã hạn chế quyền bào chữa cho người bị buộc tội.
Đối với người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo chưa có một văn bản chính thức nào hướng dẫn về loại người
này. Vì thế, khi xác định người đại diện hợp pháp thì chỉ có thể căn
cứ vào những quy định tại Bộ luật Dân sự.
Về thời điểm tham gia của người bào chữa bắt buộc. Hiện nay,
pháp luật không quy định rõ về thời điểm tham gia của người bào
chữa bắt buộc.
13
Đối với trường hợp bị can là người có nhược điểm về thể chất
thì pháp luật cũng không có quy định cụ thể thế nào là người có
Có ý kiến cho rằng trong trường hợp vụ án đã được điều tra
cẩn trọng nhưng cơ quan điều tra chỉ có vi phạm hình thức - không
thực hiện nghĩa vụ bảo đảm sự tham gia bắt buộc của người bào chữa
- thì vi phạm này cần rút kinh nghiệm nhưng chưa tới mức nghiêm
trọng để phải điều tra lại. Dù có trả hồ sơ để điều tra lại cũng không
còn ý nghĩa gì nữa.
Bên cạnh sự nhận thức còn hạn chế của người tiến hành tố
tụng thì chính bản thân người bị buộc tội cũng chưa nhận thức đúng
về quyền bào chữa của mình. Người bị buộc tội chưa hiểu đầy đủ
trong việc bào chữa bắt buộc do họ chưa nhận thức được quyền bào
chữa bắt buộc là quyền năng đặc biệt mà pháp luật dành cho họ,
không ai có quyền hạn chế quyền này của họ. Khi rơi vào vòng tố
tụng, họ thường phó mặc cho các cơ quan tiến hành tố tụng quyết
định số phận của mình, không hiểu đầy đủ, cặn kẽ về bào chữa bắt
buộc nên vẫn còn e ngại về thù lao nếu có người bào chữa.
2.3.3.3. Về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật
Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật là một trong những điều
kiện hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tố tụng phát hiện và xử lý tội phạm
có hiệu quả. Trong khi đó, tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất hoặc
cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, không được sửa chữa hoặc nâng
cấp vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, nhiều cơ quan tiến hành tố tụng.
Bên cạnh đó, việc trang bị các phương tiện kỹ thuật khoa học
hiên đại còn khiêm tốn và chưa đáp ứng kịp thời, nhất là các cơ quan
ở các vùng kinh tế khó khăn. Đội ngũ những người tiến hành tố tụng
chưa được trang bị đầy đủ và toàn diện về kiến thức về khoa học kỹ
thuật phục vụ cho hoạt động chuyên môn... Tất cả những khó khăn
trên làm hạn chế hoạt động xử lý vụ án, ảnh hưởng đến chất lượng
15
các Công ước quốc tế nhằm bảo vệ quyền con người nên việc xây
dựng hệ thống pháp luật - nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự - phải
thực hiện tốt hoạt động nội luật hóa đầy đủ nội dung của các Công
ước này.
Hoàn thiện pháp luật về quyền bào chữa bắt buộc, trước hết
cần phải thống nhất quan điểm của đạo luật có giá trị pháp lý cao
nhất là Hiến pháp năm 2013. Một trong những mục tiêu quan trọng
nhất của Hiến pháp 2013 là bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con
người, quyền công dân. Vì vậy, khi ban hành, sửa đổi luật phải luôn
luôn bảo đảm quyền con người.
Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII một lần
nữa khẳng định quyền bào chữa bắt buộc là một quyền lợi đặc thù,
quyền cơ bản của công dân, của những người bị buộc tội được coi là
một nguyên tắc hiến định [22], ghi nhận tại các Điều 31, Điều 103
Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm 2013 quy định không chỉ bị cáo
mới có quyền bào chữa mà ngay từ khi người bị bắt, đã phát sịnh
quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa đối với họ, được đảm
bảo bởi đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp. Đây là một
nguyên tắc hiến định nhằm đảm bảo cho người bị buộc tội có quyền
được tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
Đối với những vụ án mà hành vi phạm tội của bị can, bị cáo bị
buộc vào tội có mức hình phạt cao nhất là từ 20 năm tù, tù chung
thân, tử hình hoặc là người thành niên, người có nhược điểm về tâm
thần hoặc thể chất thì bắt buộc phải có người có người bào chữa cho
họ, cả trong trường hợp họ không nhờ người bào chữa. Trường hợp
này, trách nhiệm bảo đảm có người bào chữa thuộc về các cơ quan
tiến hành tố tụng và phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật
trong việc buộc tội đối với bị can, bị cáo, đồng thời, phải có căn cứ
17
18
tượng chứng minh và tiến hành giải quyết vụ án trong phạm vi,
quyền hạn của mình. Trước hết, họ phải nhận thức được việc bảo
đảm thực hiện quyền bào chữa bắt buộc của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là đảm bảo quyền bào chữa cho họ và chính là giúp họ giải
quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Đây cũng là
nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho họ thực hiện. Nếu các chủ thể tham
gia tố tụng không nhận thức đúng nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng
của quyền bào chữa bắt buộc thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
không thể thực hiện quyền bào chữa của mình một cách có hiệu quả.
Bên cạnh đó, cần thiết phải thay đổi nhận thức của người dân
nói chung và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng khi cho rằng,
sự tham gia tố tụng của người bào chữa là không cần thiết và tốn
kém. Nhận thức không đúng về vai trò và vị trí của người bào chữa
chính là rào cản lớn làm cho sự tham gia của người bào chữa trở nên
khó khăn, trong khi bản thân người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người
đại diện hợp pháp của họ lại không có khả năng bào chữa có hiệu quả.
Việc người bào chữa tham gia tố tụng để bảo vệ cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của chính họ,
người đại diện hợp pháp cũng như gia đình của họ. Do vậy, việc thay
đổi nhận thức về vai trò của người bào chữa là cách tốt nhất để trang
bị cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo những phương tiện, biện pháp
giúp họ bảo vệ mình trước nguy cơ bị xâm phạm hoặc đe dọa bị xâm
phạm các quyền tố tụng từ phía những người tiến hành tố tụng, cơ
quan tiến hành tố tụng nhằm thực hiện quyền bào chữa của mình.
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện đúng các quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về bào chữa bắt buộc
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật
thường sử dụng cụm từ “cử luật sư” hoặc “giới thiệu luật sư”. Điều
này có phần nguyên nhân xuất phát từ việc hạn chế gây tâm lý mặc
cảm đối với người bào chữa khi cảm thấy bị chỉ định thay vì được cử
hay được yêu cầu.
20
Thuật ngữ “bào chữa bắt buộc” thì lại chủ yếu phản ánh tính
chất không thể thiếu của một yếu tố đối với quá trình nhiều hơn là
đối với một cá nhân chủ thể, nên việc sử dụng khái niệm này sẽ phù
hợp hơn khi dùng để gọi tên một Điều luật.
Hai là, đối với chủ thể được bào chữa bắt buộc, trong đó có
người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào
chữa thì cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề nhược điểm về thể chất
dựa trên nguyên tắc chung sau đây: Người bị buộc tội có nhược điểm
về thể chất nhất định và những nhược điểm này làm cản trở người bị
buộc tội tự mình thực hiện quyền bào chữa. Cơ quan tiến hành tố
tụng phải trả lời và đưa ra quyết định phù hợp về bảo đảm người bào
chữa cho người bị buộc tội.
Ba là, cần bổ sung quy định người bào chữa bắt buộc được gặp
bị cáo sau phiên tòa sơ thẩm. Cần bổ sung quy định người bào chữa
được quyền gặp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, người có
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất sau phiên tòa sơ thẩm trong
trường hợp người đó tiếp tục bị tạm giam.
Bốn là, cần bổ sung quy định về cơ chế phối hợp giữa cơ quan
tiến hành tố tụng với Đoàn luật sư các tỉnh thành về hình thành cơ
chế “luật sư, trợ giúp pháp lý trực ban”.
Năm là, cần phải có chế tài xử lý những người tiến hành tố
tụng cản trở quyền bào chữa của người bị buộc tội, quyền hành nghề
luật sư.
Thứ hai, Nhà nước cần phải có những biện pháp khuyến khích
người bào chữa tham gia tố tụng đối với những trường hợp bào chữa
bắt buộc.
Thứ ba, tăng cường đội ngũ luật sư, người bào chữa, nâng cao
năng lực trách nhiệm của những người làm công tác bào chữa.
Thứ tư, bào chữa bắt buộc được thực hiện bởi các cơ quan,
người tiến hành tố tụng nhưng hiện nay chưa có cơ chế giám sát chặt
chẽ, vì vậy không thực sự được đảm bảo thực hiện trên thực tế. Do
22
đó, cần tăng cường vai trò giám sát bào chữa bắt buộc của các cơ
quan Nhà nước, các cơ quan đại diện cho nhân dân như Hội đồng
nhân dân các cấp hay các tổ chức xã hội khác.
Thứ năm, về vai trò tổ chức khác như cơ quan giám định. Kết
quả giám định trong tư pháp không chỉ giữ vai trò cung cấp căn cứ để
giải quyết các vấn đề phát sinh về nội dung vụ án mà còn có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong việc xác định căn cứ phát sinh yêu cầu bào
chữa bắt buộc khi chưa xác định được độ tuổi sinh học hoặc tình
trạng thể chất, tâm thần của người bị buộc tội.
Thứ sáu, cần tăng cường việc phổ biến, giáo dục pháp luật
trong các nhà trường, cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội.
KẾT LUẬN
Với vai trò là bảo đảm cho quyền con người và quyền công
dân không bị xâm phạm bất hợp pháp, bào chữa bắt buộc trở thành
một nhu cầu không thể phủ nhận trong hoạt động tố tụng hình sự.
Bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền bào chữa bắt buộc
trong tố tụng hình sự là hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển
của nhân loại, của hệ thống pháp luật quốc tế cũng như định hướng
xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ta trong tình hình hiện nay.
số giải pháp đối với những vấn đề chưa hoàn thiện của pháp luật đối
với hoạt động bào chữa bắt buộc. Theo đó, những giải pháp được đặt
ra để hoàn thiện xây dựng pháp luật như nâng cao quyền hạn của
người bào chữa, tạo ra cơ chế tranh tụng thực sự tại phiên tòa, bổ
sung quy định chế tài xử lý đối với người tiến hành tố tụng cản trở
thực hiện bào chữa bắt buộc. Bên cạnh đó, thường xuyên nâng cao,
tập huấn nhận thức và năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng
và người bào chữa, đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc bào chữa bắt
buộc của người bị buộc tội.
24