ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THANH TÙNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ RÈN
TRUYỀN THỐNG PHÚC SEN, HUYỆN QUẢNG UYÊN,
TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THANH TÙNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ RÈN
TRUYỀN THỐNG PHÚC SEN, HUYỆN QUẢNG UYÊN,
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN
biết ơn và cảm ơn chân thành tới:
- Ban Giám hiệu, bộ phận Quản lý Đào tạo Sau Đại học thuộc phòng
Đào tạo trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên; Khoa Kinh tế &
PTNT cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Lãnh đạo và nhân dân xã Phúc Sen; lãnh đạo huyện ủy, UBND huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng; lãnh đạo văn phòng tỉnh ủy Cao Bằng đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn.
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới
PGS.TS. Dương Văn Sơn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và đặc biệt là gia
đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu hoàn thiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 12 năm 2016
Tác giả
Nông Thanh Tùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................ ii
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài ........................ 30
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài ......................... 30
2.2. Nội dung nghiên cứu ................................. 30
2.3. Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ...................... 31
2.3.1. Tiếp cận nghiên cứu ................................ 31
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu ............................. 32
2.4. Hệ thống nhóm thông tin chỉ tiêu theo dõi và đánh giá ........... 34
2.4.1. Nhóm thông tin chung về hộ gia đình và chủ lò rèn trong làng nghề: 34
2.4.2. Nhóm thông tin về sản phẩm làng nghề và hệ thống phân phối: .... 34
2.4.3. Nhóm thông tin về tổ chức quản lý và hình thức sản xuất kinh doanh
của làng nghề ........................................ 34
2.4.4. Nhóm thông tin về các hoạt động văn hóa, lễ hội, du lịch ........ 34
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........ 35
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và sự hình thành làng nghề rèn truyền
thống Phúc Sen ....................................... 35
3.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .......................... 35
3.1.2. Sự hình thành và phát triển làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen .. 38
3.2. Thực trạng phát triển làng nghề rèn truyền thống xã Phúc Sen ...... 41
3.2.1. Sản phẩm, kỹ thuật công nghệ và thị trường ................ 41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
v
3.2.2. Về nguồn lực của các chủ lò rèn trong làng nghề ............. 49
3.2.3. Tổng thu nhập bằng tiền mặt và thu nhập từ nghề rèn .......... 57
3.2.4. Công tác quản lý nhà nước đối với sự phát triển làng nghề rèn truyền
thống Phúc Sen ....................................... 59
3.3. Làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen và vai trò trong phát triển văn
ctv
Cộng tác viên
HĐH
Hiện đại hóa
HTX
Hợp tác xã
Mean
Số trung bình
NĐ-CP
Nghị định Chính phủ
Nxb
Nhà xuất bản
PGS
Phó Giáo sư
PivotTable
Tiến sĩ
UBND
Ủy ban nhân dân
USD
Đô la Mỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lò rèn và loại sản phẩm của làng nghề rèn phân theo kinh tế hộ.. 42
Bảng 3.2: Dụng cụ rèn dùng trong gia đình phân theo kinh tế hộ ................ 42
Bảng 3.3: Nông cụ rèn phục vụ sản xuất phân theo kinh tế hộ .................... 45
Bảng 3.4: Nhân khẩu, lao động, tuổi và năm bắt đầu làm nghề của hộ rèn . 50
Bảng 3.5: Số thợ rèn và lao động nghề rèn ................................................... 51
Bảng 3.6: Diện tích nhà xưởng, vốn và số tiền vay phân theo kinh tế hộ .... 52
Bảng 3.7: Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phân theo kinh tế hộ ...... 56
Bảng 3.8: Tổng thu nhập tiền mặt và thu nhập từ nghề rèn ......................... 58
Bảng 3.9: Một số hoạt động văn hóa, du lịch ở làng nghề Phúc Sen ........... 65
Bảng 3.10: Khó khăn, thách thức trong nghề rèn ở Phúc Sen ........................ 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không
chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại
Việt Nam. Sản phẩm của làng nghề vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một
bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật
thể phản ánh được lịch sử, văn hoá và xã hội liên quan tới chính họ. Làng
nghề Việt Nam không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa "nghề" với "nghiệp" mà
còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánh qua các tập
tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác. Điều đầu tiên phải nói đến đó
là các "quy lệ" của các làng nghề. Quy lệ là các quy ước, luật lệ để gìn giữ bí
quyết nghề, để bảo tồn nghề của dòng họ hay của cộng đồng làng xã. Có thể
nói tất cả các nghề thủ công đều có bí quyết. Việc giữ "bí quyết nghề" không
chỉ đơn thuần là giữ nghề mà nó còn chi phối cả các quan hệ xã hội khác như
quan hệ hôn nhân, không lấy người địa phương khác, hoặc việc truyền nghề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
2
chỉ đóng khung trong một số đối tượng cụ thể, như chỉ truyền cho con trai,
hoặc chỉ truyền cho con trưởng hoặc cháu đích tôn.
Cùng với sự phát triển làng nghề truyền thống của cả nước, làng nghề
của tỉnh Cao Bằng cũng được chính quyền địa phương quan tâm, tạo điều
kiện để phát triển, mở rộng quy mô và đa dạng ngành nghề. Nhiều làng nghề
như: rèn công cụ sản xuất nông nghiệp ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Uyên,
tỉnh Cao Bằng), nghề trạm bạc ở xã Thái Học (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao
Bằng), dệt thổ cẩm,… được khôi phục và phát triển.
Xã Phúc Sen (huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) nổi tiếng với nghề
rèn công cụ sản xuất nông nghiệp. Trải qua hàng trăm năm, nghề rèn truyền
thống của đồng bào Nùng An ở nơi đây không bị mai một mà còn phát triển
thống với văn hóa và du lịch; Các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và các lễ hội
gắn liền với các sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tinh thần của làng nghề rèn
truyền thống Phúc Sen.
- Xác định những khó khăn thách thức và đề xuất giải pháp bảo tồn,
phát triển làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen, đẩy mạnh phát triển kinh tế,
văn hóa và du lịch trên địa bàn huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn
Đề tài luận văn phân tích và làm rõ thực trạng làng nghề rèn truyền
thống Phúc Sen trên nhiều khía cạnh: kinh tế, văn hóa và du lịch; khái quát
quá trình hình thành và phát triển; đánh giá thực trạng phát triển, những khó
khăn và thách thức để từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền
vững làng nghề rèn truyền thống Phúc Sen, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn
hóa và du lịch trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá trên địa bàn
huyện Quảng Uyên, Cao Bằng.
Tác giả mong rằng kết quả nghiên cứu của luận văn này được chính
quyền địa phương xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng và các
địa phương có đặc điểm tương đồng với Phúc Sen tham khảo, vận dụng vào
phát triển làng nghề truyền thống ở địa phương trong điều kiện hội nhập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
4
quốc tế hiện nay.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Quan niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống ở nông thôn
Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chất chuyên môn
sâu hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng, xã) dần dần tách
khỏi nông nghiệp để chuyển sang nghề thủ công. Càng về sau xu thế người
lao động tách khỏi đồng ruộng, chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng
nghề đó ngày càng nhiều (Trương Minh Hằng và ctv, 2012) [3].
1.1.2. Đặc điểm của làng nghề truyền thống Việt Nam
Làng nghề truyền thống Việt Nam có năm đặc điểm chính sau đây:
- Hoạt động làng nghề truyền thống gắn liền với làng quê và sản xuất
nông nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyền thống
dần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân
và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng quê. Thời gian người lao động ở làng quê
dành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp (do ruộng đất bình quân thấp, đặc
điểm mùa vụ của cây trồng), năng suất lao động nông nghiệp thấp đã không đảm
bảo thu nhập đủ sống cho người nông dân. Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có
thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp thiết. Đồng thời, do tính
thời vụ của sản xuất nông nghiệp đã tạo ra một sự dư thừa lao động trong một
thời gian nhất định; trong khi đó, ngay trên thị trường địa phương có nhu cầu về
sản phẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất
nông nghiệp, nguồn nguyên liệu phục vụ cho các nghề thủ công lại tương đối dồi
dào,… tất cả những điều đó đã thúc đẩy phát triển thành hoạt động có quy mô
nhiều gia đình cùng tham gia và như vậy làng nghề truyền thống hình thành và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
6
phát triển (Trương Minh Hằng và ctv, 2012) [3].
- Làng nghề truyền thống luôn gắn với tên làng (thương hiệu) và có khả
nghề chế biến phát triển, yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp nhiều hơn, đa
dạng hơn và chất lượng cao hơn. Do đó, trong nông nghiệp hình thành những
bộ phận nông nghiệp chuyên canh hoá, tạo ra năng suất lao động cao và nhiều
sản phẩm hàng hoá. Đồng thời, người nông dân trước yêu cầu tăng lên của
sản xuất sẽ tự thấy nên đầu tư vào lĩnh vực nào là có lợi nhất. Như vậy, quá
trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã được thực hiện dưới tác
động của sản xuất và nhu cầu thị trường.
- Giải quyết việc làm ở nông thôn, tăng thu nhập cho người lao động,
giúp chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ
Yêu cầu phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở nông thôn, tạo việc làm
nâng cao đời sống cho dân cư ở nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở
nước ta. Do diện tích đất bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá, tỷ lệ thất nghiệp,
thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao (hiện nay chiếm
khoảng 30 - 35% lao động nông thôn) nên vấn đề giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn trở nên cấp bách, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều mặt và đồng bộ
của các ngành nghề và lĩnh vực.
Theo kết quả điều tra, bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề ở các làng
nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động
thời vụ, mỗi hộ chuyên làm nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên
và 2-5 lao động thời vụ. Đặc biệt, nghề dệt may, thêu ren mỗi cơ sở có thể thu
hút khoảng 30-50 lao động, cá biệt có những cơ sở hàng trăm lao động; nhiều
làng nghề truyền thống thu hút trên 60% lao động tham gia vào các hoạt động
sản xuất (Nguyễn Hữu Đặng, 2005) [2] .
- Cung cấp một khối lượng hàng hóa cho xã hội góp phần tăng
trưởng kinh tế
Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn sẽ tạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
Khai thác được tiềm năng cũng như phát huy được lợi thế so sánh, lợi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
9
thế nhờ quy mô ở từng vùng, từng địa phương góp phần thực hiện thành công
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và CNH, HĐH nông thôn nói riêng.
Như vậy, làng nghề truyền thống không chỉ là nơi sản xuất ra hàng hoá
mà còn chứa đựng những tiềm ẩn giá trị văn hoá tinh thần, truyền thống văn
hoá của dân tộc được lưu truyền bao đời nay. Ngày nay, trong xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế, thì việc phát triển làng nghề truyền thống còn là cơ sở để tổ
chức du lịch làng nghề thu lợi nhuận cao, có khả năng thu hút đông đảo du
khách tìm hiểu, chiêm ngưỡng những nét văn hoá, những sản phẩm truyền
thống của dân tộc.
1.1.4. Sự cần thiết phát triển làng nghề truyền thống trong kinh tế thị trường
Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch, tập trung bao cấp do cơ chế quản
lý, các hộ gia đình, các làng nghề không được tự do kinh doanh, sản xuất mà
phải gia nhập các HTX tiểu thủ công nghiệp. Vì thế, làng nghề truyền thống
không được phát triển và có phần mai một, hệ thống HTX tiểu thủ công
nghiệp hoạt động kém hiệu quả và bắt đầu tan rã dần vào thời kỳ bắt đầu đổi
mới nền kinh tế.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cá nhân, hộ gia đình được tự do
đầu tư và sản xuất kinh doanh những sản phẩm mà pháp luật không cấm;
được bình đẳng trước pháp luật. Nhiều làng nghề truyền thống được khôi
phục và phát triển mạnh mẽ, trở thành một xu hướng phát triển tất yếu.
1.1.5. Các nhân tố tác động tới sự phát triển làng nghề truyền thống
1.1.5.1. Tác động của quản lý nhà nước tới phát triển làng nghề, làng nghề
truyền thống
dưới hình thức bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội
theo quy định tại Điều 26 của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng
12 năm 1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
- Cơ sở ngành nghề nông thôn được giảm 50% trở lên về chi phí thuê
diện tích tham gia hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm trong nước. Nhà
nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và tài trợ một phần chi phí cho các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
11
cơ sở ngành nghề nông thôn và nghệ nhân được tham quan, học tập, tham gia
hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm và tìm hiểu thị trường ở nước ngoài.
Nghị định số 134 của Chính phủ ngày 09/6/2004 về “Khuyến khích
phát triển công nghiệp nông thôn” (được gọi là hoạt động Khuyến công).
Nghị định số 66 của Chính phủ ngày 07/7/2006 về “Phát triển ngành
nghề nông thôn”
b) Cơ chế chính sách của Nhà nước
Sự phát triển làng nghề truyền thống một cách tự phát, không có tổ
chức, quản lý của Nhà nước thì gây ô nhiễm, tàn phá môi trường, gây hậu quả
nghiêm trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường. Không có sự quản lý
của Nhà nước, làng nghề truyền thống tự do cạnh tranh, chẳng những không
phát triển mà còn kìm hãm sự phát triển, không nâng cao được năng lực cạnh
tranh của làng nghề truyền thống với thị trường trong và ngoài nước. Nhà
nước không tổ chức, không quản lý phát triển của làng nghề truyền thống sẽ
không thu được thuế, không có điều kiện để phát triển cơ sở hạ tầng. Cơ chế
chính sách phù hợp với thực tế sẽ thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển
và ngược lại cơ chế chính sách đi ngược lại với lợi ích nhân dân sẽ kìm hãm
sự phát triển của làng nghề truyền thống. Cơ chế là chủ trương, định hướng
đình đầu tư xây dựng một cách tự phát tuỳ theo khả năng sản xuất, lao động
và tiền vốn của từng hộ gia đình. Từ việc mua máy móc thiết bị, xây dựng
nhà xưởng, cung ứng nguyên vật liệu đến việc tổ chức tiêu thụ cũng đều do
người nông dân tự phát xây dựng, không theo quy hoạch, không tính đến tác
hại của những người xung quanh, chỉ miễn sao có lợi cho gia đình của họ.
Như vậy, tính cộng đồng trong các làng nghề truyền thống thường không có,
nếu có là tính gia đình, dòng họ. Khi xây dựng cụm công nghiệp làng nghề
truyền thống theo hướng phát triển bền vững tức là có quy hoạch, có kế
hoạch của chính quyền, của pháp luật; người nông dân phải rời bỏ, tháo dỡ
cơ sở vật chất cũ của mình để xây dựng mới theo quy hoạch của Nhà nước.
Điều đó gặp trở ngại lớn ở chỗ người dân phải bỏ cũ, xây mới sẽ không có
đủ vốn để làm. Mặt khác, trước đây gia đình tận dụng đất đai, lao động của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
13
mình và không phải đóng thuế Nhà nước, nay phải thuê đất, thuê lao động
và phải đóng thuế sản xuất kinh doanh. Đây là một một yếu tố tác động cản
trở việc xây dựng và phát triển làng nghề truyền thống theo hướng phát triển
bền vững (Nguyễn Hữu Loan, 2007) [8].
1.1.6. Làng nghề truyền thống và phát triển văn hóa, du lịch
Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống, đặc
biệt là vùng châu thổ sông Hồng. Với đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp
mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền với
lịch sử thăng trầm của dân tộc. Các làng nghề đã hình thành, tồn tại và phát
triển cùng với sự phát triển của xã hội, của đời sống cộng đồng và dần dần
được qui về các khái niệm như nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia
truyền, nghề phụ, nghề thủ công,...
- Một là, làng nghề nước ta phản ánh cuộc sống của cư dân nông
nghiệp gắn liền với cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng
xã, trong đó bao gồm cả yếu tố dòng họ. Theo Courrier du Vietnam
(17/3/2003) ở nước ta có hơn 2.000 làng nghề, miền Bắc có 1594 làng nghề
(79%), miền Trung có 312 làng nghề (15,5%) và miền Nam có 111 làng nghề
(5,5%). Ở miền Bắc các làng nghề lại tập trung hơn ở một số địa phương
thuộc đồng bằng Bắc bộ như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang,
Nam Định, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam,... (Trương Minh Hằng và ctv,
2012) [3]. Thực tế này cho thấy, làng nghề ở nước ta gắn liền với các vùng
nông nghiệp và người nông dân làm nghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao
động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông nghiệp là mùa vụ. Mặt khác, từ
sản phẩm, chúng ta cũng nhận thấy gốc tích nông nghiệp như nguyên vật liệu,
công cụ chế tác, giá trị sử dụng và đặc biệt là nó phản ánh được tính chuyên
dụng và sinh hoạt cộng đồng của cư dân nông nghiệp trên các sản phẩm đó.
Nhìn vào những nghề thủ công nổi tiếng của nước ta như nghề gốm, nghề đan
lát, nghề chạm khắc gỗ, nghề gò đúc đồng, nghề làm giấy, nghề làm tranh,
nghề kim hoàn hay làm nón, dệt vải,... chúng ta thấy mỗi nghề gắn liền với một
cộng đồng cư dân được cư trú ổn định trong quy mô làng xã. Nét đặc trưng này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
15
không chỉ phản ánh sự phong phú đa dạng của làng nghề trong hệ thống cấu
trúc làng xã Việt Nam. Ví dụ, khi nói đến làng gốm Bát Tràng người ta không
chỉ biết đến sản phẩm gốm mà còn nhận biết các thông tin về địa lý, nhân văn,
lễ hội truyền thống, lịch sử một làng nghề bên sông Hồng đầy ấn tượng và cả
một chút “huyền bí”. Hoặc khi nói đến làng dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông, người
ta không chỉ biết về "lụa là Hà Đông" mà còn biết đến những nương dâu hai bờ