GIÁO TRÌNH học PHẦN LỊCH sử VIỆT NAM HIỆN đại (từ 1945 đến NAY) - Pdf 45

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
===================

GIÁO TRÌNH HỌC PHẦN

LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(TỪ 1945 ĐẾN NAY)
(3TC DÀNH CHO LỚP CĐSP NGỮ VĂN GHÉP VỚI LỊCH SỬ)

Giảng viên: Lê Trọng Đại

NĂM HỌC 2015-2016

1


MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, ĐẤU
TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM, NỘI PHẢN (TỪ 02/9/45 ĐẾN 9/12/1946)
.………….1
1.1 Việt Nam trong bối cảnh quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai và sau
Cách mạng tháng Tám 1945
………….1
1.2 Bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng
………… 3
1.3 Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản bảo vệ chính quyền
…………5

………...…..38
Câu hỏi ôn tập chương 3
…………….42
CHƯƠNG 4 CÁCH MẠNG HAI MIỀN NAM BẮC TỪ 1954 ĐẾN 1960 ……………..43
4.1 Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ
……………43
4.2 Xây dựng miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khôi phục và phát triển
kinh tế cải tạo xã hội chủ nghĩa
……………46
4.3 Đấu tranh chính trị tiến lên Đồng khởi
……………51
Câu hỏi ôn tập chương 4
…………….59
CHƯƠNG 5 CÁCH MẠNG HAI MIỀN NAM BẮC TỪ 1961 ĐẾN 1965 …………….60
5.1 Nhân dân miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
……… 60
5.2 Nhân dân miền Nam đánh bại chiến lược Chiến tranh Đặc biệt của Mĩ ……………64
Câu hỏi ôn tập chương 5
……………...71
CHƯƠNG 6 CẢ NƯỚC ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH
CỤC BỘ (1965 - 1968)
……………72
6.1 Miền Nam đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ- Ngụy(1965- 1968) ……………72
2


6.2 Miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ …………….81
Câu hỏi ôn tập chương 6
….…………..82
CHƯƠNG 7 CẢ NƯỚC ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HÓA

9.2 Đường lối đổi mới đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
……………..110
9.3 Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm bước đầu
công cuộc đổi mới
…………….113
Câu hỏi ôn tập chương 7
…………… 117

Tài liệu học tập

…………...118

3


LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (TỪ 1945 ĐẾN NAY)
(Dành cho SV CĐ chuyên ngành Lịch sử)
CHƯƠNG 1 BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG,
ĐẤU TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM, NỘI PHẢN (02/9/45 - 9/12/1946)
1.1 Việt Nam trong bối cảnh quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai
và sau Cách mạng tháng Tám 1945
1.1.1 Bối cảnh quốc tế
a) Thuận lợi
Nhìn chung so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng có biến chuyển
theo hướng thuận lợi cho CM:
- CNXH đã vượt qua phạm vi một nước
- Các nước đế quốc châu Âu suy yếu các nước phát xít kệt quệ, các nước thực dân cũ
như Anh, Pháp suy yếu.
- Phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của công nhân, ndlđ, của đảng cộng sản
ở nhiều nước tư bản, có tác động đến chính sách đối nội đối ngoại của các thế lực đang cầm

+ Thách thức lớn nhất là nguy cơ giặc ngoại xâm nội phản, chưa bao giờ trên đất
nước ta cùng một lúc lại có nhiều kẻ thù như lúc này.
- Từ vĩ tuyến 16 trở ra 20 vạn quân Tưởng (sau lưng có Mỹ hậu thuẫn và theo
chân chúng là bọn Việt gian tay sai của Tưởng gồm Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc)
và Việt Nam cách mạng đảng (Việt Cách) tiến vào. Chúng núp dưới danh nghĩa Đồng minh
vào giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là lật đổ
chính quyền cách mạng tiêu diệt đảng Cộng sản bắt giam Hồ Chí Minh, dựng nên chính
quyền tay sai biến nước ta thành thuộc địa.
- Từ vĩ tuyến 16 trở vào quân Anh - Ấn cũng núp dưới danh nghĩa Đồng minh vào
giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất là mở đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược
Việt Nam. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp mới được Anh giải thoát đã nổ súng đánh
chiếm trụ sở chính quyền cách mạng ở Sài Gòn Gia Định. Nhân cơ hội này, bọn Việt gian
thân Nhật, thân Pháp lâu nay nằm im đã ngóc đầu dậy hoạt động chống phá chính quyền
cách mạng. Ngoài ra trên đất nước ta lúc đó vẫn còn trên 6 vạn quân Nhật vẫn còn nguyên
vũ khí.
+ Khó khăn về kinh tế, tài chính (giặc đói)
Nạn đói cuối năm 1944 đầu 1945 có nguy cơ quay lại, do chính cách vơ vét bóc
lột của Pháp, Nhật để lại, vụ hè thu 1945, lụt ở 9 tỉnh, sau đó hạn hán kéo dài làm cho hơn
1/2 diện tích ruộng đất không gieo cấy được khiến nhiều nơi mất mùa; nhân dân Bắc kỳ và
Trung kỳ đang đứng trước nạn đói, gạo ở miền Nam không chở ra được (Nhà nước cũng
không có tiền để mua, Pháp trở lại xâm lược ở Nam bộ cản trở việc lưu thông lúa gạo). Nền
kinh tế nước ta đang ở trong tình trạng nông nghiệp lạc hậu. Nhiều xí nghiệp còn nằm trong
tay tư bản Pháp. Các cơ sở công nghiệp của ta chưa phục hồi được sản xuất, hàng vạn công
nhân thất nghiệp. Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống n/dân gặp nhiều khó khăn.
Trong Cách mạng tháng Tám ta không chiếm được ngân hàng nên ngân hàng Đông
Dương vẫn do Pháp kiểm soát. Ngân khố nhà nước gần như trống rỗng chỉ có 1,2 triệu
đồng. Thêm vào đó quân Tưởng còn tung ra thị trường các loại tiền Quan kim và Quốc tệ
mất giá làm rối loạn tài chính
+ Nạn thất học, văn hóa lạc hậu (giặc dốt)


đồng nhân dân đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho Nhà nước cách mạng thực hiện nhiệm vụ
đối nội, đối ngoại trong thời kỳ mới góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam dân chủ cộng
hòa trên trường quốc tế.
Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng được chú trọng. Khắp nơi trên đất
nước ta phong trào luyện tập quân sự, mua sắm vũ khí diễn ra sôi nổi. Các đội tự vệ và lực
lượng xung kích ra đời trong thời kì Tổng khởi nghĩa nay được củng cố và mở rộng. Đến
cuối năm 1945, lực lượng
quân tự vệ tăng lên hàng chục vạn người.
Các đơn vị Việt Nam giải phóng quân được củng cố và mở rộng, tháng 9/1945 đổi
tên thành Vệ quốc đoàn. Đây là đội quân chính quy của nhà nước.

1.2.2 Về kinh tế - tài chính
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ chủ tịch, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện
6


pháp về kinh tế tài chính.
+ Giải quyết nạn đói: Trong phiên họp đầu tiên ngày 3/9/1945, Hội đồng CP đã bàn
về biện pháp chống đói. Hồ Chủ tịch đã đề nghị nhiều biện pháp, có thể chia thành 2 nhóm:
Những biện pháp giải quyết nạn đói trước mắt gồm: Lạc quyên, lập hũ gạo cứu đói
Phát động ngày đồng tâm, kêu gọi đồng bào cả nước nhường cơm xẻ áo. Hồ chủ tịch vừa
vận động vừa nêu gương thực hiện do đó nhân dân nghe theo và noi gương Người. Trên
khắp cả nước nhân dân lập hũ gạo cứu đói, ngày đồng tâm để góp gạo cứu đói, không dùng
gạo, ngô khoai sắn nấu rượu...Chính phủ cũng có biện pháp tích cực để điều hòa thóc gạo ở
các địa phương, ra lệnh nghiêm trị những ai đầu cơ tích trữ thóc gạo.
Những biện pháp để giải quyết căn bản nạn đói: Tăng gia sản xuất được xác định là
biện pháp hàng đầu và có tính chất lâu dài. Hồ chủ tịch đã kêu gọi toàn dân tăng gia sản
xuất: Tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa... đó là cách để chúng
ta giữ vững quyền tự do độc lập. Nhân dân đã hưởng ứng sôi nổi lời kêu gọi của Hồ chủ
tịch khắp cả nước dưới các khẩu hiệu: không một tấc đất bỏ hoang, tấc đất tấc vàng. công

đồng vào quĩ độc lập và 40 triệu đồng vào quĩ đảm phụ quốc phòng. Nhờ đó ngày
31/3/1946, chính phủ đã phát hành giấy bạc Việt nam thay thế giấy bạc Đông Dương. Ta
giành được chủ quyền về tiền tệ, giải quyết một phần chi tiêu của Chính phủ, phục vụ sản
xuất bước đầu xây dựng nền tài chính độc lập của Việt Nam mới.

1.2.3 Về văn hóa, giáo dục
Ngay trong phiên họp đầu tiên Chính phủ cũng đã bàn đến biện pháp giải quyết nạn
thất học (giặc dốt). Chính phủ coi việc chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ là nhiệm vụ cấp
bách là nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị sâu sắc, đảm bảo trình độ văn hóa để nhân dân tham
gia quản lý đất nước có hiệu quả. Hồ Chủ tịch nêu rõ: "Muốn giữ vững nền độc lập, làm
cho dân giàu nước mạnh, mọi người VN phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến
thức mới để tham gia vào công việc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết
chữ quốc ngữ". Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ
chuyên lo chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ trong toàn quốc.
Trong vòng 1 năm từ 8/8/45 đến 8/9/46, trên toàn quốc đã tổ chức được 75.805 lớp
học với 87.664 giáo viên và đã xóa mù chữ cho 2.520.673 người. Các trường phổ thông, đại
học cũng được khai giảng nhằm đào tạo những công dân cán bộ trung thành, có nămng lực
phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến - kiến quốc. Nội dung và phương pháp giáo dục
bước đầu được đổi mới theo tinh thần dân tộc - dân chủ.
Báo chí CM và công tác xuất bản sớm trở thành vũ khí sắc bén chống ngoại xâm nội
phản, góp phần giáo dục lòng yêu nước chí căm thù giặc và tinh thần cách mạng cho đông
đảo quần chúng.
Cuộc vận động đời sống mới do Hồ Chủ tịch đề xướng được đông đảo nd cả nước
hưởng ứng, các hũ tục lac hậu, mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè, mại dâm, ma chay, cưới
xin linh đình bị loại trừ khỏi đời sống xã hội.

1.3 Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản bảo vệ chính quyền
1.3.1 K/ chiến chống Pháp ở miền Nam, hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc
a) Kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam
Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng

Hồ Chủ tịch đã đề ra nhiều chủ trương kịp thời lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam,
tích cực đối phó với âm mưu mở rộng chiến tranh ra cả nước. Ngày 25/11/45, Đảng ra chỉ
thị "Kháng chiến - Kiến quốc" nêu rõ "Phải động viên lực lượng kiên trì kháng chiến tổ
chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài’. Ban Thường vụ TW Đảng đã đề ra nhiệm vụ
cụ thể cho quân dân miền Nam là phải: "cắt đứt liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay
địch, phong toả về kinh tế, bao vây về quân sự... Phải áp dụng chiến tranh du kích triệt để,
cổ động nhân dân thi hành bất hợp tác với giặc thi hành vườn không nhà trống nếu địch tràn
về quê..."Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ được TW trực tiếp chỉ đạo và được cả
nước chi viện mọi mặt. Ở miền Bắc, hàng vạn thanh niên hăng hái gia nhập quân đội xung
phong vào các đoàn quân Nam tiến. Những cán bộ chiến sỹ có ít nhiều kinh nghiệm, những
vũ khí trang bị tốt nhất đều dành cho Nam Bộ. Đồng bào Bắc Bộ và Trung Bộ thường
xuyên tổ chức quyên góp tiền bạc, quần áo thuốc men...ủng hộ đồng bào Nam Bộ. Bên
cạnh đấu tranh quân sự đồng bào Nam Bộ còn thực hiện vườn không nhà trống, tiến hành
phá hoại, ngăn chặn sự tiến công của địch, đấu tranh chính trị, bãi công, bất hợp tác với
địch gây cho chúng nhiều khó khăn.
Do chênh lệch lực lượng nên cuộc chiến anh dũng của quân dân Nam Bộ phải trải qua
gian lao, nhiều tổn thất, nhưng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến đấu gây dựng
9


phong trào chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng, bảo vệ và củng cố chính quyền tạo
điều kiện để cả nước chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến toàn quốc về sau.
+ Hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc
Trong hoàn cảnh phải đối phó cả với cuộc xâm lược trở lại của Pháp ở miền Nam và
sự uy hiếp lật đổ chính quyền của quân Tưởng cùng tay sai của chúng ở miền Bắc, với nhận
thức: Pháp mới là kẻ thù chính, Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch đã sáng suốt chỉ ra: "Phải
tránh các trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng đồng minh tràn vào nước ta"
để tập trung mũi nhọn đối phó với Pháp ở miền Nam, ta chủ trương tạm thời hòa hoãn,
tránh xung đột với Tưởng. Ta đấu tranh chính trị với quân Tưởng một cách khéo léo nhưng
kiên quyết nhằm hạn chế sự phá hoại của chúng. Khi quân Tưởng đến Hà Nội ta huy động

Chiều 6/3/1946, tại ngôi nhà 36 Lý thái Tổ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay
mặt Chính phủ ta đã ký với G. Xanhtơni đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ
đặt cơ sở cho cuộc đàm phán hai bên để đi đến một Hiệp định chính thức. Nội dung Hiệp
định sơ bộ gồm các điểm chủ yếu sau:
+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do
có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội và tài chính riêng là thành viên trong Liên
bang Đông Dương nằm trong Khối Liên hiệp Pháp. Việc thống nhất 3 kỳ do nhân dân Việt
Nam tực tiếp phán quyết.
+ Chính phủ VNDCCH thỏa thuận để 15000 quân Pháp vào miền Bắc thay quân
Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Số quân này sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm.
11


+ Hai bên ngừng bắn giữ nguyên quân đội của mình tại vị trí cũ, tạo điều kiện cần thiết
đi đến đàm phán thân thiện để bàn về các vấn đề ngoại giao của Việt Nam chế độ tương lai
của Đông Dương, quyền lợi kinh tế văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
Hướng dẫn sv phân tích nội dung hiệp định để thấy được sự thông minh tài trí tuyệt
vời của Đảng và Hồ Chủ tịch trong việc xử lý tình huống hiểm nghèo của cách mạng lúc
này và ý nghĩa thắng lợi của việc ký kết Hiệp định
Sau hiệp định ta thi hành nghiêm chỉnh còn Pháp ra sức phá hoại.
- Từ 19/4 đến 11/5/1946, Hội nghị trù bị Đà Lạt được tổ chức nhằm chuẩn bị cho
đàm phán chính thức ở Pari. Hội nghị kéo dài mà không đi đến thỏa thuận nào do dã tâm
phá hoại của Pháp.
- Ngày 31/5/1946, phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu lên đường sang
Pháp đàm phán. Cùng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sang thăm nước Pháp với tư cách
là thượng khách của chính phủ Pháp.
- Ngày 5/7/1946, cuộc đàm pháp chính thức giữa phái đoàn chính phủ VNDCCH với
phái đoàn chính phủ Pháp bắt đầu tại Phôngtennơblô bắt đầu. Tại cuộc đàm phán, lập
trường của Pháp không có gì thay đổi là đòi đặt lại chế độ toàn quyền ở Việt Nam, tách
Nam bộ khỏi Việt Nam, Việt Nam không có ngoại giao riêng...còn lập trường của ta là độc

dựng và củng cố ở hơn 1000 xã trên tổng số 1234 xã ở Nam Bộ. Vùng giải phóng nông
thôn được mở rộng so với trước 6/3/1946. Nhiều căn cứ địa lớn được hình thành và củng cố
như Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, chiến khu D. Các căn cứ nhỏ liên huyện, liên xã cũng
ra đời. Lực lượng vũ trang 3 thứ quân ở Nam Bộ được xây dựng và củng cố. Ở nông thôn
hầu hết các xã đều có đội du kích. Ở Sài Gòn, lực lượng tự vệ được xây dựng và củng cố.
Các đơn vị bộ đội tập trung- các chi đội Vệ quốc đoàn từ cấp tỉnh đến cấp khu được xây
dựng. Nam bộ đã XD được 25 chi đội, tăng 25% so với lúc mới hình thành.
Ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nhiều căn cứ du kích được hình thành. Ngoài các
đơn vị tập ở vùng tự do Liên khu V, đến 7/1946, tại cực Nam Trung Bộ đã xây dựng được
4 trung đoàn.
Ở miền Bắc, tranh thủ thời gian hòa hoãn sau Hiệp định sơ bộ, quân và dân ta ra
sức phát triển lực lượng mọi mặt. Ngày 29/5/1946, theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, Hội
liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành lập nhằm đoàn kết rộng rãi các tổ
chức, đảng phái và cá nhân chưa tham gia Việt Minh. Ngày 27/5/46, Hội nghị đại biểu công
nhân họp đã thành lập Tổng liên đoàn lao động VN, nhằm đoàn kết lao động trí óc và lao
động chân tay, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo để kháng chiến kiến quốc. Ngày
27/7/46, Đảng Xã hội VN thành lập nhằm tập hợp trí thức yêu nước. Ngày 20/10/46, Hội
liên hiệp phụ nữ VN ra đời.
Trên cơ sở Mặt trận thống nhất được củng cố, Đảng và Chính phủ kiện toàn bộ mày
Nhà nước, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Từ 28/10 đến 9/11/46, Quốc hội khóa I
họp phiên thứ hai đã thông qua danh sách Chính phủ mới do Hồ chủ tịch đứng đầu và bản
Hiến pháp nước VNDCCH. Việc Quốc hội thông qua bản Hiến pháp - đạo luật cơ bản của
Nhà nước VN mới là một thắng lợi chính trị quan trọng. Nó làm cho nhà nước VNDCCH
có chỗ dựa vững chắc về pháp lý.
Xây dựng lực lượng vũ trang giai đoạn này là một nhiệm vụ quan trọng và cấp
thiết được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú ý. Vệ quốc đoàn trở thành Quân đội quốc gia
của nước VNDCCH từ ngày 22/5/1946. Bên cạnh việc xây dựng LLVT thường trực, Chính
phủ còn quan tâm xây dựng lực lượng bán vũ trang. Đến cuối năm 1946, ta có 8 vạn bộ đội
thường trực, gần 1 triệu dân quân tự vệ ở hầu khắp các địa phương. Các trường đào tạo cán
bộ chính trị, quân sự được thành lập: như trường Quân chính Bắc Sơn, trường Võ bị Trần

Hải Phòng và tấn công quân ta ở thị xã Lạng Sơn. Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946. Thực
dân Pháp liên tiếp gây ra những cuộc xung đột vũ trang, đốt nhà thông tin ở phố Tràng
Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Chúng tàn sát đồng bào ta
ở phố Hàng Bún, gây xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông, phố Yên Ninh...
Ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi ta phải giải tán lực lượng tự vệ, giao
quyền kiểm sóat Hà Nội cho chúng và đe dọa nếu ta không thực hiện các yêu cầu đó thì
ngày 20/12/1946, quân đội chúng sẽ hành động.
Chúng ta đã nhân nhượng Pháp đến mức cuối cùng nhưng chúng càng lấn tới vì
chúng âm mưu thôn tính nước ta một lần nữa. Chúng gây sức ép quân sự đặt nhân dân ta
trước hai lựa chọn là phải đầu hàng hoặc chiến tranh. Ta đã lựa chọn tiến hành kháng chiến
vì nhân dân ta lúc này đã sẵn sàng đem tât cả tinh thần và klực lượng, sức mạnh và của cải
để bảo vệ nền độc lập tự do vừa giành được.
Trong 2 ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ TW Đảng ta họp tại Hà Đông đã
quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống td Pháp xâm lược.
Đêm 19/12/1946, Hồ Chủ tịch đã thay mặt TW Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến. Đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, nhân dân cả nước nhất loạt đứng lên
kháng chiến, Hà Nội là địa phương đầu tiên mở màn cho toàn quốc kháng chiến. Đúng 20h
ngày 19/12/1946, đèn điện vụt tắt, quân ta nổ súng tấn công quân Pháp tại Hà Nội mở đầu
cho kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Đường lối kháng chiến được nêu lên những nét cơ bản đầu tiên trong "Lời kêu goi toàn
quốc kháng chiến" của Hồ Chủ tịch, sau đó được nêu đầy đủ trong bản chỉ thị "Toàn dân
kháng chiến" của Ban thường vụ TW Đảng ngày 22/12/1946 và trong tác phẩm "Kháng
chiến nhất định thắng lợi" của Tổng Bí thư Trường Chinh tháng 9/1947.
? Phân tích tính chất của cuộc kháng chiến
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nd ta là cuộc chiến tranh tự vệ, chính nghĩa và
tiến bộ, nhằm bảo vệ và phát huy thành quả của cách mạng tháng Tám. Cuộc kháng chiến
15


này còn nhằm tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc và từng bước thực hiện

dân ta chiến đấu ngăn chặn địch bung ra. Bên trong quân dân Liên khu I kiên cường bám
trụ địch. Ngày 6/1/1947, Trung đoàn Thủ đô chính thức thành lập (khoảng 2000 quân có cả
phụ nữ và trẻ em) làm nhiệm vụ chiến đấu giam chân địch trong thành phố. Cuộc chiến
diễn ra hết sức quyết liệt ta và địch giành nhau từng ngôi nhà, từng góc phố.
Trung tuần tháng 2/1947, địch mở liên tiếp những đợt tấn công nhằm chia cắt Liên
khu I và thực hiện âm mưu tiêu dệt Trung đoàn Thủ đô. Cuộc chiến đấu của quân dân Liên
khu I và các khu nội thành càng trở nên khó khăn. Để bảo toàn lực lượng, đêm 17/2/ 1947,
Trung đoàn Thủ đô thực hiện cuộc rút quân khỏi vòng vây đồn bốt địch trở lại hậu cứ an
16


toàn. Trong gần 2 tháng đầu toàn quốc kháng chiến, quân và dân ta ở Hà Nội đã đánh 200
trận, giết và làm bị thương hàng ngàn tên địch phá hủy hàng chục xe cơ giới, bắn rơi và
phá hủy 5 máy bay, thu nhiều đạn dược, quân trang quân dụng; hoàn thành nhiệm vụ được
giao là giam chân địch trong thành phố một thời gian để hậu phương kịp huy động lực
lượng kháng chiến, di chuyển kho tàng, công xưởng về chiến khu, bảo vệ an toàn cho TW
Đảng, Chính phủ và các cơ quan đầu não của ta rút về căn cứ địa lãnh đạo kháng chiến
lâu dài.
Ở Nam Định Quân dân ta bao vây địch trong gần 2 tháng, diệt hơn 400 tên. Địch
mở nhiều cuộc tấn công phá vây nhưng đều bị quân ta đánh lui. Có thêm quân cứu viện
địch tăng cường những cuộc phản kích. Để tránh một cuộc chiến đấu bất lợi, ngày 12/3/47,
quân ta rút khỏi thành phố.
Ở Vinh, ngay từ đầu cuộc chiến đấu quân dân ta đã buộc địch đầu hàng. Ở thành
phố Huế, quân ta tấn công Tòa khâm sứ và nhà hàng Moranh buộc địch phải cố thủ. Trong
50 ngày đêm tiến công và bao vây, quân dân ta diệt trên 200 địch, hạ 1 máy bay, phá 3 xe
thiết giáp, thu nhiều súng đạn. Ngày 8/2/47, ta rút khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng.
Ở Đà Nẵng, quân dân ta tiến công, bao vây cô lập sân bay và đánh lui nhiều đợt tấn
công phá vây của địch. Đầu tháng 1/47, được tăng viện địch điều 2000 quân đổ bộ từ biển
lên giải vây sân bay, thành phố.
Ở Nam Trung bộ, quân dân ta tiến hành chiến tranh du kích, đánh chặn địch trên các

cho đời sống của nhân dân.
Đồng thời với hoạt động di chuyển ở thời kỳ đầu kháng chiến là hoạt động "tiêu thổ"
để kháng chiến, vận động và tổ chức tản cư, đảm bảo tài sản tính mạng của nhân dân,
nhanh chóng chuyển đất nước sang thời chiến. Thực hiện chủ trương tiêu thổ để kháng
chiến nhân dân ta đã tự tay phá hủy nhà cửa, đường sá, cầu cống ở những nơi có nguy cơ sẽ
bị địch chiếm đóng để lập căn cứ chống lại kháng chiến. Kết quả những hoạt động tiêu thổ
và thực hiện "vườn không nhà trống" đã có tác dụng ngăn chặn phần nào những hoạt động
hành quân càn quét của địch vào hậu phương của ta.
Sau việc di chuyển Nhà nước bắt tay xây dựng lực lượng mọi mặt để bước vào cuộc
kháng chiến lâu dài.
Về chính trị, Chính phủ quyết định chia cả nước thành 14 khu, thành lập thêm Uỷ ban
Kháng chiến. Đến tháng 10/1947, sáp nhập UB Kháng chiến với UB Hành chính thành
UBKC-HC để thực hiện 2 nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. Hội Liên Việt phát triển thu
hút được rộng rãi các tầng lớp nd yêu nước, các nhân sỹ tham gia kháng chiến.
Về quân sự, Chính phủ qui định mọi người dân từ 18 tuổi đến 45 tuổi đều tham gia
dân quân và từ dân quân được tuyển chọn vào du kích rồi bộ đội địa phương hoặc chủ lực.
Lực lượng vũ trang các cấp không ngừng tăng lên về số lượng, được huấn luyện về chính
trị và quân sự. Vũ khí vừa tự tạo vừa lấy của địch để tự trang bị.
Về kinh tế, Chính phủ ban hành các chính sách để duy trì và phát triển sản xuất, nhất là
lương thực theo khẩu hiệu "Thực túc binh cường" "Ăn no đánh thắng". Sản lượng lúa năm
1947, đạt 2.1890000 tấn (năm 1946 chỉ 2.000.000 tấn). Các cơ quan thương nghiệp nhà
nước thực hiện nhiều biện pháp phục vụ đời sống nhân dân, tiếp tế cho cán bộ, bộ đội. Nha
Tiếp tế được thành lập làm nhiệm vụ thu mua, dự trữ và phân phối thóc gạo, muối vải, đảm
bảo nhu cầu ăn, mặc cho bộ đội và nd ở hậu phương.
Về văn hóa, phong trào bình dân học vụ tiếp tục được duy trì và phát triển. Trường
phổ thông các cấp được xây dựng thu hút con em nhân dân, việc xây dựng đời sống mới
được chú trọng.

18


tá Cômmuynan chỉ huy từ Hà Nội ngược sông Lô và sông Gâm lên thị xã Tuyên Quang,
Chiêm Hóa và Đài Thị, bao vây căn cứ địa Việt Bắc ở phía tây.
Thấy được âm mưu địch, từ giữa tháng 9 /1947, Đảng và Chính phủ đã nhắc nhỡ
nhân dân cả nước phải nêu cao cảnh giác, chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công thu- đông tới
của chúng.

19


Anh /Chị hãy tường thuật diễn biến chiến dịch Việt bắc qua lược đồ
Ngày 15/10/1947, Thường vụ TW Đảng ra chỉ thị "Phải phá tan cuộc tiến công
mùa đông của Pháp" Thực hiện chỉ thị đó quân và dân ta trên các hướng, khắp các mặt trận
đã anh dũng chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch từng bước phá vỡ các gọng kìm của
chúng. Tại Bắc Cạn, ngay từ đầu quân dân ta đã chủ động kịp thời phản công và tiến công
địch, tiến hành bao vây chia cắt, cô lập địch tổ chức tập kích vào Chợ Mới, Chợ Đồn, chợ
Rã, Ngân Sơn...phục kích địch trên các đường từ Bắc Cạn đi chợ Mới, chợ Đồn, Phủ
Thông...Vừa chặn địch quân ta vừa bí mật khẩn trương di chuyển các cơ quan TW Đảng,
Chính phủ, các công xưởng kho tàng, từ nơi địch uy hiếp đến nơi an toàn.
Ở hướng Đông, quân ta phục kích trên đường số 4, cản bước tiến của chúng tiêu biểu
là trận phục kích trên đoạn đường Bản Sao - Đèo Bông Lau, ngày 30/10/1947, ta đánh
trúng đoàn xe cơ giới địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1 đại đội, phá hủy 27 xe, thu
nhiều vũ khí quân trang quân dụng. Do bị chặn đánh quân của Bôphơre không gặp được
quân của Commuynan ở Đài Thị. Hai gọng kìm Đông Tây của địch không khép kín được.
Ở hướng Tây, quân ta phục kích đánh địch nhiều trận trên sông Lô. Ngày 24/10/
1947; 5 tàu chiến địch có máy bay yểm trợ từ Tuyên Quang đi Đoan Hùng lọt vào trận địa
phục kích của ta (sát bờ sông Lô), quân ta nổ súng bắn cháy 2 tàu và bắn bị thương 2 tàu
khác. Ngày 10/11, hai tàu chiến và 1 ca nô địch từ Chiêm Hóa về thị xã Tuyên Quang bị
20



a) Âm mưu thủ đoạn của pháp sau thất bại ở Việt Bắc
Sau thất bại ở Việt Bắc và buộc phải chuyển sang đánh lâu dài với ta, td Pháp tăng
cường thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến
tranh" nhằm chống lại cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân toàn diện của ta. Chúng đã xúc
tiến các biện pháp:
Bên cạnh hoạt động quân sự td Pháp ra sức thực hiện các thủ đoạn chính trị thâm
độc. Bước sang năm 1948, chúng xúc tiến thành lập chính phủ bù nhìn trung ương do Bảo
Đại cầm đầu, phát triển ngụy quân, củng cố hội tề, rải quân đóng đồn bốt ở nhiều nơi, tiến
hành càn quét bắt người, cướp của cung cấp cho chiến tranh. Thông qua Hội tề Pháp nhằm
chia rẽ khối đoàn kết toàn dân gây thanh thế cho cp bù nhìn. Hội ttề còn là tai mắt dò xét cơ
21


sở kháng chiến. Về quân sự Hội tề còn giúp Pháp tuyển mộ binh lính, làm bình phong bảo
vệ đồn bốt. Mặt Khác Pháp còn dùng thủ đoạn thành lập các xứ tự trị ở các vùng dân tộc
thiểu số nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của nd ta.
+ Chủ trương đẩy mạnh kháng chiến của ta
Để chống lại âm mưu mới thâm độc của kẻ thù Đảng và Chính phủ chủ trương tăng
cường sức mạnh và hiệu lực của chính quyền dân chủ nhân dân từ TW đến cơ sở, tăng
cường lực lượng vũ trang nd đẩy mạnh kháng chiến toàn diện.
- Về quân sự, với đường lối chiến tranh nhân dân, Đảng chủ trương xd LLVT 3 thứ
quân. Tháng 2/1947, Bộ Quốc phòng ra thông tư quy định mọi công dân VN từ 18 tuổi đến
45 tuổi vào dân quân và quy định nhiệm vụ của dân quân, tự vệ cùng các đội du kích địa
phương. Ta chủ trương động viên nd thực hiện vũ trang toàn dân, phát triển chiến tranh du
kích, tiến hành du kích chiến là chính, kết hợp vận động chiến rồi từ du kích chiến tiến dần
lên vận động chiến. Thực hiện chủ trương của đảng từ mùa hè 1947, trở đi, hàng chục vạn
người hăng hái gia nhập dân quân, du kích và tự vệ chiến đấu, Đến cuối năm 1949, dân
quân du kích trong cả nước đã có trên 1 triệu người. Dân quân du kích là LL chủ yếu quyết
định sự pt mạnh mẽ của pt chiến tranh du kích trong cả nước. Bên cạnh đó PT xung phong
tòng quân cũng diễn ra sôi nổi. Riêng mùa hè 1947 đã có 35.000 người nhập ngũ nâng quân

từng bước được kiện toàn và củng cố, phát huy vai trò tổ chức, động viên toàn dân kháng
chiến, kiến quốc. Trong Chính phủ cải tổ, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm mời các nhân sĩ,
trí thức tiêu biểu của dân tộc tham gia Liên hiệp quốc dân rộng rãi. Đầu năm 1949, cả nước
tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban Kháng chiến hành chính cấp tỉnh đến xã.
Chính quyền cách mạng được củng cố đã tổ chức động viên nhân dân kháng chiến và còn
góp phần làm phá sản hệ thống chính quyền bù nhìn tay sai của Pháp. Công tác xd Đảng
được chú trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ lãnh đạo kháng chiến kiến
quốc. Đông đảo công nhân, nông dân, trí thức cách mạng và chiến sỹ llvt ưu tú được kết
nạp vào Đảng. Nhằm phát huy tính năng động của cơ sở và ứng phó kịp thời với tình thế,
Đảng chủ trương xd "Chi bộ tự động công tác". Nhìn chung qua đấu tranh Đảng ngày càng
vững mạnh.
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta lúc này đã bắt đầu dành được sự ủng hộ đồng
tình của loài người tiến bộ. Ngày 14/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thay mặt chính phủ
VNDCCH tuyên bố với thế giới rằng: "Chính phủ VNDCCH là chính phủ hợp pháp duy
nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam. Căn cứ trrên nguyên tắc chung, Chính phủ
VNDCCH sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với tất cả chính phủ nước nào tôn trọng quyền
bình đẳng, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước VN để cùng nhau
bảo vệ hòa bình và cùng nhau xây đắp dân chủ thế giới". Sau lời tuyên bố đó ngày
18/1/1950, Chính phủ CHND Trung Hoa quyết định công nhận và đặt quan hệ ngoại giao
với chính phủ VNDCCH. Tiếp đến ngày 31/1/1950, Chính phủ Liên xô và trong vòng 1
tháng sau các nước XHCN khác lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính
phủ ta, đây là một thắng lợi quan trọng về ngoại giao của cách mạng VN.
- Về kinh tế, Ta vừa đẩy mạnh xây dựng, bảo vệ phát triển nền kinh tế dân chủ nhân
dân có khả năng tự cấp tự túc vừa ra sức phá hoại kinh tế của địch. Sản xuất nông nghiệp
bảo đảm lương thực cho nhân dân và cán bộ ở hậu phương, cho bộ đội ở tiền phương.
Chính phủ đề ra chủ trương triệt để giảm tô 25%, thực hiện giảm tức, xóa nợ, hoãn nợ, chia
lại ruộng đất cho công bằng hợp lý, tạm cấp ruộng đất vắng chủ, ruộng đất lấy từ tay td và
bọn Việt gian phản động cho nông dân. Đến cuối 1950, chính quyền cm đã tạm cấp được
253863 ha ruộng đất cho gần 50 vạn nhân khẩu. Công nghiệp cũng được phát triển theo qui
mô nhỏ và phân tán, sản xuất công cụ thô sơ kết hợp với cơ khí, tự cấp tự túc. Chú trọng

cứ địa Việt Bắc, phòng thủ có trọng điểm tuyến biên giới.
- Phát triển ngụy quân, dùng quân ngụylàm nhiệm vụ chiếm đóng. Tập trung quân ÂuPhi để xây dựng lực lượng cơ động, tiến hành càn quét, đánh phá phong trào du kích, chuẩn
bị cho những cuộc tấn công lớn tiêu diệt chủ lực của Ta.
- Củng cố ngụy quyền, lợi dụng tôn giáo, chia rẽ dân tộc, tăng cường đánh ta về chính
trị và kinh tế.
Thực hiện kế hoạch này Pháp ra sức bắt lính đưa sang Đông Dương và tăng thêm quân
ngụy. Đến cuối năm 1949, tổng số quân địch trên chiến trường Đông Dương là 210.000 tên
trong đó có 96.000 quân ngụy.Phần lớn quân Âu- Phi được tập trung ở chiến trường Bắc
Bộ. Tháng 9/1949, tướng Carpentier sang thay Blaizot làm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông
Dương. Chi phí cho cuộc chiến xâm lược được tăng nhanh lên 138,2 tỷ franc năm 1949.
Ngụy quyền trung ương được Pháp xúc tiến thành lập. Pháp ký với Bảo Đại hiệp định
Elyseés, theo đó, Pháp vạch ra qui chế: Việt Nam là một quốc gia liên kết độc lập trong liên
hiệp Pháp, Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát các lực lượng vũ trang Việt Nam và ngoại giao,
24


Pháp cho phép việc thống nhất của ba kỳ. Tháng 7/1949/ Pháp đưa Bảo Đại về nước thành
lập chính phủ bù nhìn do Y làm Quốc trưởng. Với lực lượng được tăng cường, từ tháng
7/1949, Pháp mở liên tiếp các cuộc hành quân qui mô lớn nhằm lấn chiếm đồng bằng và
trung du Bắc Bộ: Cuộc hành quân Bastille (13/7) mở rộng phạm vi chiếm đóng Bắc Ninh,
Bắc Giang, Phúc Yên. Cuộc hành quân Canigou (8/1949) đánh chiếm Vĩnh Phúc...
Quân dân ta ở Bắc Bộ bước vào một giai đoạn thử thách mới khó khăn hơn. Trước
cuộc tiến công ồ ạt và chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch của địch, bộ máy chính
quyền ở nhiều địa phương tan vỡ và tổn thất, nhiều làng kháng chiến bị tàn phá.
Trước khi Pháp đề ra kế hoạch Revers, Tại Hội nghị TW lần thứ sáu, Đảng ta đã đề
ra những nhiệm vụ cần kíp của quân và dân thời gian tới về chính trị, quân sự, kinh tế.
Riêng về quân sự Nghị quyết nêu rõ: trọng tâm công tác...là xây dựng bộ đội chủ lực, tập
trung cán bộ, vũ khí và phương tiện thông tin liên lạc cho những đơn vị có nhiệm vụ đánh
vận động chiến... Có kế hoạch rút dần các đại đội độc lập, tập trung trở lại...
Đối phó với tình hình trên Đảng đã kịp thời đề ra những chủ trương biện pháp phù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status