Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC THẢNH

TỘI GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC THẢNH

TỘI GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH NHÃ

HÀ NỘI - 2017



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADPL

: Áp dụng pháp luật

BLHS

: Bộ luật hình sự

CTTP

: Cấu thành tội phạm

CQĐT

: Cơ quan điều tra

QĐHP

: Quyết định hình phạt

TAND

: Tòa án nhân dân

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

để lại hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.
Long An là một tỉnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long, nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm Phía Nam và là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ, Thành Phố Hồ Chí
Minh với khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Cũng như các tỉnh, thành phố khác,
mặt trái của sự phát triển nhanh về kinh tế, sự phát triển nhanh của ngành giải trí,
thông tin truyền thông là sự đi xuống về đạo đức, lối sống của một bộ phận người
dân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh, nhất là tội phạm về
giết người với thủ đoạn và mức độ ngày càng nguy hiểm. Nhiều vụ án giết người
trên địa bàn tỉnh Long An xảy ra một cách tàn ác, dã man với những phương thức,
thủ đoạn, kế hoạch tinh vi, xảo quyệt. Đa số tội phạm giết người có tính chất côn
đồ, liều lĩnh, có tổ chức, sử dụng các loại hung khí nguy hiểm để phạm tội đã đánh
lên hồi chuông cảnh tỉnh về tình trạng bạo lực, xem thường tính mạng, sức khỏe của
con người, xem thường pháp luật.

1


Trước tình hình diễn biến tội phạm xảy ra phức tạp như vậy, các cơ quan bảo
vệ pháp luật tỉnh Long An đã cố gắng trong việc áp dụng pháp luật một cách đúng
đắn, có hiệu quả để đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm, ổn định trật
tự xã hội. Song vẫn còn đó một số vụ án giết người còn thể hiện sự hạn chế trong
hoạt động điều tra, truy tố và xét xử như: việc định tội danh và quyết định hình phạt
còn chưa chính xác, vi phạm các thủ tục tố tụng hình sự…dẫn đến phải trả hồ sơ
hoặc làm cho quá trình xét xử, thi hành án kéo dài. Việc xác định tội danh và quyết
định hình phạt đúng đối với tội giết người là một trong những điều kiện quan trọng
đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, sự ổn định kỷ cương xã hội, góp phần nâng
cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Long An nói riêng
và cả nước nói chung. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tội giết người theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An” sẽ góp phần làm rõ thêm về lý
luận và pháp luật về tội giết người theo pháp luật Việt Nam, những tồn tại, hạn chế

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở các vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam, từ thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự về tội giết người trên địa bàn tỉnh
Long An, Luận văn đề xuất các giải pháp đảm bảo việc xác định tội danh và hình
phạt đối với tội giết người ở Việt Nam và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các quy
định liên quan đến tội giết người trong BLHS Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích về sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự
Việt Nam về tội giết người.
- Phân tích các dấu hiệu pháp lý về tội giết người và phân biệt tội giết người
với một số tội phạm khác.
- Phân tích và đánh giá hoạt động xét xử các vụ án hình sự về tội giết người
trên địa bàn tỉnh Long An, trong đó tập trung nghiên cứu, phân tích việc định tội
danh và quyết định hình phạt trong các vụ án về tội giết người.
- Đưa ra các giải pháp đảm bảo việc định tội danh và quyết định hình phạt
đối với tội giết người và đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp
luật liên quan đến tội giết người.

3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Bộ luật hình sự 2015 chưa có hiệu lực thi hành và đã được sửa đổi, bổ sung,
dự kiến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự vừa được Quốc hội
thông qua tại Kỳ họp thứ 3 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, do vậy, đề tài tập
trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tội giết người dựa theo BLHS Việt Nam
năm 1999, đồng thời tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật quy định về tội giết người
tại tỉnh Long An từ năm 2012 đến năm 2016.

Kết quả nghiên cứu trong Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả xử lý các vụ
án hình sự về tội giết người, đồng thời làm cơ sở để trình cấp có thẩm quyền sửa
đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật liên quan đến tội giết người trong Bộ
luật hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam.
7. Cơ cấu
Ngoài Phần mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương,
như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội giết người.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
tội giết người trên địa bàn tỉnh Long An.
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án về
tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội giết người
1.1.1. Khái niệm về tội giết người
Con người được coi là vốn quý trong xã hội, là chủ thể của tổng hòa các mối
quan hệ xã hội. Con người sáng tạo ra xã hội và là giá trị xã hội cao quý nhất. Vì
thế, bảo vệ cuộc sống bình yên và chăm lo hạnh phúc cho con người luôn là mục
tiêu phấn đấu cao nhất của mỗi quốc gia, mà điều căn bản tiên quyết đó là bảo vệ
những quyền thiêng liêng: quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc.
Từ trước đến nay, hành vi giết người, ở bất kỳ chế độ nào cũng đều bị coi là
hành vi tàn ác, vô nhân đạo, vì nó không những gây đau thương mất mát cho gia
đình, người thân nạn nhân, phá vỡ tế bào xã hội mà còn gây mất an ninh, trật tự ở
địa phương, tạo ra tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Chính vì lẽ

lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hóa, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo
quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. [11, tr.13].
Khái niệm tội phạm là một trong những khái niệm cơ bản nhất của pháp luật
hình sự, là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong phần các
tội phạm cụ thể của BLHS và để quy định khung hình phạt cho các loại tội đó. Xuất
phát từ khái niệm này, các tội xâm phạm tính mạng được hiểu là những hành vi
(hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực
TNHS thực hiện, có lỗi (cố ý hoặc vô ý), xâm phạm đến quyền được tôn trọng và
bảo vệ đó là tính mạng của người khác.
Nhóm tội xâm phạm tính mạng bao gồm 13 tội, trong đó tội giết người, một
trong những tội phạm đặc biệt nguy hiểm, được quy định tại Điều 93 BLHS 1999
như sau: “1. Người nào giết người thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ mười hai năm, đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình…” [9, tr. 97].
Với quy định như vậy, nhà làm luật mới chỉ dừng lại ở việc nêu tội danh và khung
hình phạt mà chưa định nghĩa cụ thể thế nào là hành vi giết người và những dấu

7


hiệu pháp lý của nó. Nhìn lại lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay
cũng chưa thấy có văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm về tội giết người. Trên cơ
sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, hiện nay còn
tồn tại nhiều quan điểm khác nhau xung quanh về khái niệm tội giết người, cụ thể:
Tại bản tổng kết thực tiễn xét xử tội giết người ban hành kèm theo Công văn
số 452-HS2 ngày 10/08/1970 của Tòa án nhân dân tối cao có nêu định nghĩa: “Tội
giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp
luật” [14]. Quan điểm khác lại cho rằng: “Tội giết người là hành vi trái pháp luật

hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm tước
đoạt tính mạng của người khác.”.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội giết người
Phân tích quy định về tội giết người theo quy định tại Điều 93 BLHS năm
1999 và Điều 123 BLHS năm 2015 cho thấy, tội giết người có các dấu hiệu pháp lý
như sau:
1.1.2.1. Về khách thể
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội
phạm xâm hại. Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm
có vị trí đặc biệt với ý nghĩa là những quan hệ xã hội bị tội phạm gây ra thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại. Những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của
luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong Điều 8 của BLHS năm
1999.
Khách thể của tội giết người là những quan hệ xã hội quan trọng được luật
hình sự bảo vệ, đó là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng – các
quyền cơ bản nhất của con người được quy định tại Điều 19 Hiến pháp năm 2013
của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con
người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” [10].
Đồng thời được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 6 Công ước quốc tế về các Quyền dân
sự, chính trị (ICCPR) cụ thể hóa Điều 3 UDHR, trong đó nêu rằng: “Mọi người đều
có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có
thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện”.

[3]

Đối tượng tác động tội giết người là những chủ thể có quyền được tôn trọng
và bảo vệ tính mạng, đó là những người đang sống, đang tồn tại trong thế giới

9


10


Thứ nhất, hành vi tước đoạt tình mạng người khác là hành vi có tính nguy
hiểm cho xã hội. Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi khách quan phụ thuộc
vào tính chất của quan hệ xã hội mà hành vi xâm hại cũng như vào tình chất và mức
độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho quan hệ xã hội đó. Đây là đặc điểm cơ
bản của hành vi phạm tội, đặc biệt là ở tội giết người thì tính chất nguy hiểm và khả
năng gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là rất đáng kể mà
trước hết đó là xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ
tính mạng của con người, tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương
nơi tội phạm diễn ra.
Thứ hai, hành vi khách quan của tội phạm này có thể được thực hiện dưới
dạng hành động hoặc không hành động. Hành động thường được biểu hiện như:
đâm, chém, bắn, đốt cháy, đầu độc, bóp cổ, ném xuống sông, v.v…. Không hành
động, đó là trường hợp chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện những hành động, công
việc nhất định để đảm bảo sự an toàn về tính mạng cho người khác nhưng họ đã
không làm, không thực hiện nghĩa vụ đó cuối cùng dẫn đến hậu quả chết người. Ví
dụ: trường hợp bác sĩ, vì mục đích tư thù cá nhân nên đã trực tiếp xử lý ca mổ
nhưng cố trì hoãn không cho mổ dẫn đến hậu quả là người bệnh chết.
Thứ ba, hành vi tước đoạt tính mạng người khác phải là hành vi trái pháp
luật hình sự. Những trường hợp tước bỏ tính mạng người khác nhưng được sự cho
phép của pháp luật thì những hành vi đó không được coi là hành vi khách quan của
tội giết người. Đó là các trường hợp phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết
hoặc thi hành mệnh lệnh hợp pháp của nhà chức trách. Ví dụ như công an thi hành
bản án tử hình đối với người phạm tội. Hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính
bản thân mình không phải hành vi khách quan của tội giết người.
Đồng thời BLHS năm 2015 cũng đã quy định thêm ba trường hợp loại trừ
trách nhiệm hình sự đối với hành vi có thể xâm hại đến tính mạng người khác đó là:
gây thiệt hại khi bắt người phạm tội (khoản 1 điều 24); Rủi ro trong nghiên cứu, thử

Ba là, hậu quả chết người đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa khả năng
thực tế tất yếu sẽ làm phát sinh hậu quả của hành vi phạm tội.
Việc xác định mối quan hệ nhân quả này có ý nghĩa quan trọng trong tội giết
người bởi người có hành vi tước đoạt tính mạng người khác trái pháp luật chỉ phải
chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi khách quan mà họ thực hiện là nguyên nhân

12


trực tiếp dẫn đến hậu quả chết người; đồng thời hậu quả chết người là kết quả tất
yếu do hành vi khách quan mà họ thực hiện gây ra. Trong thực tiễn, việc xác định
mối quan hệ nhân quả này cũng hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của giám
định pháp y.
1.1.2.3. Về chủ thể
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi
luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể. Theo đó, chủ thể của tội giết
người là người có năng lực trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện
hành vi giết người.
Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi hay không và để truy cứu trách nhiệm
hình sự của họ. Người có năng lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
của mình và có khả năng điều khiển hành vi ấy.
Điều 12 BLHS năm 1999 đã quy định về độ tuổi chịu TNHS:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
[9, tr. 52]
Khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 quy định giới hạn các tội danh mà nhóm tuổi

Người không có năng lực TNHS khi thực hiện hành vi phạm tội thì không
phải chịu TNHS do hành vi mà mình gây ra. Khoản 1 Điều 13 BLHS năm 1999
cũng quy định về tình trạng không có năng lực TNHS: “Người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải
chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh” [9, tr. 53]. Ngoài ra pháp luật hình sự cũng quy định những trường hợp hạn
chế năng lực TNHS. Với những đối tượng thực hiện hành vi phạm tội mà bị hạn chế
khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi thì họ vẫn phải chịu TNHS do
hành vi mình gây ra nhưng khi xét xử được xem xét là tình tiết giảm nhẹ quy định

14


tại điểm n khoản 1 Điều 46 BLHS: “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế
khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” [9, tr. 69]
Khung hình phạt cơ bản của tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS năm
1999 có mức cao nhất đến 15 năm tù. Căn cứ theo khoản 3 Điều 8 BLHS, ta thấy tội
giết người thuộc loại tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Như
vậy, từ những phân tích trên, ta có thể xác định chủ thể của tội giết người là bất kỳ
người nào từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực TNHS.
1.1.2.4. Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội
bao gồm: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.
 Lỗi:
Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của
mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức lỗi cố
ý hoặc vô ý.
Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc
lỗi cố ý gián tiếp.

quá tự tin đối với hậu quả chết người.
 Mục đích và động cơ
Mục đích của tội phạm là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được
khi thực hiện hành vi phạm tội. Theo đó, mục đích của tội phạm giết người là nhằm
tước bỏ đi mạng sống của nạn nhân, chấm dứt sự sống của họ. Mục đích không phải
là dấu hiệu bắt buộc phải có trong cấu thành tội giết người song trong một số trường
hợp lại là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan để làm căn cứ phân biệt một số
trường hợp và xác định tội danh của chủ thể.
Ví dụ 1: trường hợp gây thương tích cho nạn nhân nhưng hậu quả chết người
chưa xảy ra, nếu người phạm tội thực hiện hành vi với mục đích giết người thì sẽ bị
truy cứu TNHS về tội giết người thuộc giai đoạn chưa đạt, còn nếu không có mục
đích giết người thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội cố ý gây thương tích.
Ví dụ 2: hành vi giết người nhưng mục đích là chống lại chính quyền nhân
dân sẽ cấu thành tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo Điều 84
BLHS.

16


Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi
phạm tội của mình. Động cơ thúc đẩy người phạm tội giết người thực hiện hành vi
khách quan có thể là động cơ đê hèn, do muốn cướp tài sản nạn nhân, giết người để
thực hiện hoặc che dấu tội phạm khác,…Động cơ tuy không có ý nghĩa về mặt định
tội nhưng có một số động cơ phạm tội được luật quy định là tình tiết định khung
tăng nặng hay giảm nhẹ.
1.2. Phân biệt tội giết người và một số tội phạm khác
Tội giết người và các tội xâm phạm tính mạng khác trong phần các tội xâm
phạm tình mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người được quy định tại
chương XII BLHS năm 1999, chương XIV BLHS năm 2015 đều là các hành vi xâm
phạm đến các quyền cơ bản của con người được pháp luật bảo vệ, vì thế các tội này

- Khác nhau:
+ Về chủ thể: chủ thể của tội giết người là bất kỳ người nào có năng lực
TNHS và đủ 14 tuổi trở lên (không phải chủ thể đặc biệt). Trong khi đó, chủ thể của
tội giết con mới đẻ phải là người mẹ đang còn trong trạng thái vừa mới sinh con.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04 ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán
TANDTC thì khoảng thời gian người mẹ được coi còn trong trạng thái mới sinh con
là khoảng thời gian từ khi sinh cho đến ngày thứ bảy. Trường hợp “đẻ thuê”, “đẻ
hộ”… cho người khác mà giết con mới đẻ thì cũng có thể phạm tội này nếu thỏa
mãn đủ các dấu hiệu của CTTP [4].
Không phải bất kỳ trường hợp nào người mẹ giết con mới đẻ cũng là phạm
tội giết con mới đẻ mà nguyên nhân, điều kiện thực hiện hành vi giết hoặc vứt bỏ
con mới đẻ là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP. Điều 94 BLHS 1999 có quy định về
chủ thể tội này: “Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc
trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt” [9, tr. 98]. Theo đó, chủ thể ở đây là người
mẹ thực hiện hành vi giết con mình do chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu
là ảnh hưởng của tư tưởng cũ đã lỗi thời, không còn phù hợp với xã hội đương thời
như tin vào bói toán hay các quan niệm cổ hủ thời phong kiến, phong tục tập quán
lạc hậu… hoặc do hoàn cảnh khách quan đặc biệt như người mẹ không có khả năng
nuôi con mình, bị mất sữa, bệnh nặng, đứa trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh, mắc bệnh
nan y mà việc chữa trị khó khăn, tốn kém…

18


+ Về đối tượng tác động: tội giết người có thể tác động tới bất kỳ người đang
sống, đang tồn tại không phân biệt độ tuổi, giới tính, dân tộc…Tội giết con mới đẻ
trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của đứa trẻ vừa mới sinh trong vòng 7 ngày và
đó lại là con đẻ của người phạm tội.
+ Về hành vi khách quan: tội giết con mới đẻ có hành vi khách quan là giết
con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ. Như vậy, hành vi khách quan có thể được thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status