Phân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà Chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong một vài năm trở lại đây để kiềm chế lạm phát. - Pdf 46

30

Đề tài thảo luận : Phân tích tác động của một số chính
sách cụ thể mà Chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong
một vài năm trở lại đây để kiềm chế lạm phát.


Mục lục :







Lời mở đầu
Phần 1 : Cơ sở lý luận
Phần 2 : thực trạng và nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam từ năm
2010 đến năm 2015
Phần 3 : Biện pháp của chính phủ để giảm lạm phát.
Phần 4: Kết luận.
Bảng đánh giá phân công công việc.

LỜI MỞ ĐẦU

30

Lạm phát – một hiện tượng kinh niên của nền kinh tế, trong thời gian gần
đây, vấn đề lạm phát đã được quan tâm nhiều hơn ở tất cả mọi người dân,
mọi doanh nghiệp, tổ chức. Lạm phát có thể là động lực giúp một nền kinh tế
phát triển xong nó cũng là nguyên nhân phá vỡ sự phát triển của nền kinh tế


2. Quy mô lạm phát: 3 loại.




Lạm phát vừa phải (lạm phát 1 con số) : tỷ lệ lạm phát < 10% /năm →
Không gây ra tác động đáng kể đối với nền kinh tế.
Lạm phát phi mã: xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2-3
con số/năm → Khi bền vững gây biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát tăng đột biến với tốc độ cao, vượt xa
lạm phát phi mã → Gây thiệt hại nghiêm trọng sâu sắc nhưng cũng ít
xảy ra.

3. Phân loại lạm phát.
a. Lạm phát cầu kéo:
Do các thành phần trong chi tiêu tăng:
Có AD =C + I + G +X – IM
o Khu vực tư nhân tự động tăng chi tiêu : I↑
o Khu vực quan hệ nước ngoài tăng : X↑ , IM↑
o Khu vực chính phủ tăng : G↑ , T↓

30




Đồ




Tại E () đây là điểm kinh tế đạt trạng thái cân bằng . AD không thay
đổi nhưng do giá thực tế đầu vào thay đổi ( bị đẩy lên cao ) → AS dịch
chuyển sang trái
Lúc này tại E1 () sản lượng giảm → và giá cả tăng lên từ →
 Đây chính là hình ảnh của nền kinh tế suy thoái () nhưng không có
sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp.
c. Lạm phát do tăng trưởng tiền tệ




Đây là nguyên nhân duy nhất gây ra tình trạng lạm phát kéo dài.
Lý thuyết só lượng tiền tệ
Giả sử sản lượng nền kinh tế trong một năm là Y → tổng giá trị giao
dịch trong năm đó là PY
Giả định cung tiền trong nền kinh tế là M , tốc độ chu chuyển tiền tệ
trong một năm là V → tổng giá trị giao dịch trong năm là MV

Chứng minh
30






Từ
→log P + log Y = log M + log V
→%

Lạm phát xảy ra giá của các loại hàng hóa không thay đổi theo cùng
một tỷ lệ. Một số ngành tăng giá nhanh , nguồn sản xuất chạy về ngành
đó => làm tăng sản lượng của ngành
Ngành có tốc độ tăng giá chậm => sản lượng sẽ giảm xuống

5. Giải pháp chống lạm phát
Từ phía cầu có thể thực hiện bằng sử dụng chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ chặt.

30








Chống lạm phát từ phía cung có thể thực hiện bằng cách cắt giảm chi
phí sản xuất và nâng cao năng lực sản xuất trên cơ sở nâng cao hiệu
quả.
Kiểm soát để hạn chế cú sốc cung và cầu.
Kiểm soát để ổn định giá cả, đặc biệt là giá của mặt hàng của vật tư cơ
bản : xăng, dầu, điện, …
Kiểm soát lượng cung tiền trong nền kinh tế: hoạt động của thị trường
mở lãi suất chiết khấu, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

30



hướng giảm khi các thời điểm 5,6,7 có giá trị lần lượt so với tháng trước là
2,21%,1,09%,1,17%. Đặc biệt với 2 tháng 8,9 con số này đã giảm xuống dưới
1% hạn chế sự tăng trưởng của lạm phát.

Đỉnh cao của lạm phát 9 tháng đầu năm 2011 rơi vào tháng 4 với tỷ lệ 9,64%
so với cuối năm 2010, vượt xa ngưỡng 7% mà chính phủ đặt mục tiêu cho cả
năm vào thời diểm đó. Với so với cùng kỳ năm ngoái, lạm phát đã lên tới
17,51%, cao hơn mức đỉnh lạm phát 16% mà Ngân hàng phát triển Á châu
đưa ra cho Việt Nam. Nhóm hàng và dịch vụ giao thông tăng giá mạnh, tới
30

6,04%.


Chỉ số giá tiêu dùng cả nước sau tháng 4 đã có xu hướng giảm xuống và tăng
2,21% trong tháng 5. Tốc độ tăng có chậm lại so với tháng 4 nhưng mặt bằng
giá hiện tại, so với đầu năm và cùng kỳ 2010, đã cao hơn lần lượt là 12,07%
và 19,78%. Đến tháng 6 CPI tăng 1,09 so với tháng 5, nâng tổng mức lạm
phát từ đầu năm đến thời điểm đó lên 13,29% và cùng kỳ năm 2010 là
20,82%. Sang tháng 7 CPI tăng nhẹ có giá trị 1,17 so với tháng 6. Tháng 8 chỉ
số giá tiêu dùng(CPI) cả nước tăng 0,93% nhờ sự giảm nhiệt đáng kể của
hàng ăn-dịch vụ ăn uống. Lạm phát thấp nhất kể từ đầu năm là tháng 9 với chỉ
số tiêu dùng CPI tăng chỉ là 0,82 so với tháng trước.
Theo số liệu của tổng cục thống kê, đã tăng giá trị nhóm hàng ăn và dịch vụ
ăn uống tiếp giảm tốc khi chỉ tăng 0,28% trong tháng 9(con số tương ứng của
2 tháng trước là 2,12 và 1,35%). Với quyền số khoảng 40% trong rổ hàng hóa
tính CPI, nhóm này đã có tác động lớn đến việc kiềm chế đà tăng của chỉ số
giá( tăng tổng cộng 16,3% kể từ đầu năm). Chỉ số giá ở nhóm giáo dục tăng
lên rất mạnh, lên tới 8,62% trong tháng 9. Tuy nhiên con số này vẫn thấp hơn
so với mức 12% của cùng kỳ 2010. Bên cạnh Bưu chính-viễn thông có xu

các thuốc và dịch vụ y tế chỉ còn tăng 0,14%, trong đó dịch vụ y tế tăng
0,03%.
Nhìn lại năm 2012, Tổng cục Thống kê đánh giá, lạm phát năm nay chỉ
“nhỉnh” hơn mức tăng 6,52% của năm 2009- năm suy giảm kinh tế mạnh và
thấp hơn nhiều so với mức tăng 11,75% của năm 2010 và mức tăng 18,13%
của năm 2011 và cách xa so với mục tiêu CPI đề ra ban đầu thì năm 2012 vẫn
là năm có nhiều biến động bất thường.Cơ qua này phân tích, CPI không tăng

30

quá cao vào 2 tháng đầu năm( tăng 1% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng


2) nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20%. Đây là tháng chịu
tác động chủ yếu của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục. Sau đó,
mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong những tháng cuối năm.
Trong năm có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết chỉ tăng dưới
0,5%. Một điều khác thường nữa của thị trường giá cả là CPI không giảm vào
sau Tết âm lịch mà giảm vào 2 tháng giữa năm( tháng 6 và tháng 7). Chỉ số
giá vàng tháng 12/2012 tăng 0,03% so với tháng trước , giảm 0,96% so với
tháng 12/2011.
Từ đầu năm đến nay, tăng trưởng GDP quý sau luôn cao hơn quý trước. Trong
đó quý I tăng 4,64%, quý II tăng 4,80%, quý III tăng 5,05% và quý IV tăng
5,44%. So với năm 2011, GDP năm nay đã giảm tới 0,86 điểm phần trăm.
Tuy nhiên tổng cục thống kê cho rằng, trong bối cảnh kinh tế gặp khó khăn,
cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý. Trong 5,03% tăng trưởng chung của
toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp
0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và
xây dựng tăng 4,52%, đóng góp 1,89 điểm phần trăm ; khu vực dịch vụ tăng

+ Trong điều kiện kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, phải ưu tiên mục tiêu
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trong một thời gian khá dài thì đây
là mức tăng hợp lý , thể hiện sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của chính phủ.
+ Xuất khẩu tăng nhưng chủ yếu dựa vào FDI
+ Bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn tồn tại một số yếu kém, hạn chế như: tái

30

cơ cấu các tổ chức tín dụng, triển khai chậm và gặp nhiều khó khăn; nợ xấu


của hệ thống ngân hàng chậm được xử lý, tỉ lệ nợ xấu vẫn còn ở mức cao; thị
trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút và chưa có nhiều cải
thiện; tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chậm…dặc biệt, tăng
trưởng xuất khẩu ước đạt 132,2 tỉ USD, tăng 15,4% so với chỉ tiêu 10% được
giao, nhưng chủ yếu dựa vào khu vực FDI và thấp hơn 2012(mức 18,2%).
+Những khó khăn:
*Thứ nhất,cộng đồng doanh nghiệp còn gặp quá nhiều khó khăn.
*Thứ hai, nợ xấu được kiềm chế, tốc độ tăng nợ giảm so với năm ngoái
nhưng tỷ lệ vẫn ở mức độ cao.
*Thứ ba, nguy cơ mất cân đối ngân sách.
5.Thực trạng lạm phát năm 2014
Ngay từ đầu năm 2014, Chính phủ đã tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh
tế vĩ mô, trong đó, kiểm soát lạm phát là một trong những trụ cột quan trọng.
Kết quả này lại tiếp tục được thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm
2014, chỉ tăng 1,84% so với tháng 12/2013, chỉ bằng 26,2% chỉ tiêu mức lạm
phát của Quốc hội đặt ra (7%) và bằng 37% mức dự kiến lạm phát của Chính
phủ (5%).
Nếu xét mức lạm phát bình quân, thì cả năm 2014 so với năm 2013 tăng
4,09%, dù xét theo chỉ tiêu nào, thì kết quả này cũng là điều đáng ghi nhận.

30

tệ - tín dụng và tâm lý. Cụ thể:


Về yếu tố chi phí trong năm qua cho thấy, giá cả hàng hóa thế giới giảm, các
mặt hàng giảm giá mạnh nhất đó là dầu mỏ và các sản phẩm liên quan tới dầu
mỏ (chất dẻo, nhựa đường, phân bón, thuốc trừ sâu...), tiếp đến là đường, sữa,
các loại ngũ cốc, đậu nành, dầu thực vật… Nhiều khoản thuế đã được cắt
giảm, giãn hoãn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm bớt chi phí, giảm giá
hàng hoá, dịch vụ; lãi suất cho vay của ngân hàng đã giảm khá nhanh; tỷ giá
ổn định làm cho giá hàng nhập khẩu tính bằng USD giảm.

Về yếu tố cầu cũng giảm, bao gồm: vốn đầu tư, tổng mức bán lẻ hàng hoá và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng, xuất khẩu. Trong năm qua, tổng cầu vẫn yếu do
tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm, chỉ còn khoảng 31%/GDP. Dù sức mua đã được
cải thiện trong năm qua, nhưng mức tăng vẫn chậm. Trong bối cảnh khó khăn
chung, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và
xuất khẩu liên tục đối mặt với nhiều thách thức gây ảnh hưởng không nhỏ tới
sản xuất, kinh doanh.
Về tiền tệ - tín dụng, áp lực đối với lạm phát đang có xu hướng giảm. Cụ thể:
tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng cũng đã giảm nhanh trong mấy năm qua,
thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại được cải thiện, đảm bảo khả
năng thanh toán và chi trả của hệ thống; tỷ giá ngoại tệ ổn định, dự trữ ngoại
hối tăng cao. Hệ số giữa tốc độ tăng dư nợ tín dụng và tốc độ tăng GDP đã
giảm mạnh trong thời gian qua (thời kỳ 2006-2010 là 5,3 lần, năm 2011 là 2,3
lần, năm 2012 là 1,7 lần, năm 2014 là 2,2 lần). Đặc biệt, từ đầu năm đến nay,
tốc độ tăng dư nợ tín dụng chỉ bằng 2/3 tốc độ tăng huy động tiền gửi. Điều
đó cho thấy, tiền còn bị ứ đọng ở các ngân hàng. Mặc dù nền kinh tế đã những



nhóm hàng giao thông chỉ đóng góp 4%. Với sự điều chỉnh giảm liên tục của


giá xăng dầu trong nước, chi phí sinh hoạt cho nhóm hàng giao thông sẽ giảm
đi, từ đó tác động làm giảm CPI.

II/NGUYÊN NHÂN
1.Nguyên nhân dẫn đến lạm phát năm 2011.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 4/2011, chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) của Việt Nam đã tăng tới 9,64%, đã cao hơn mục tiêu kiềm chế ở
7% mà Quốc hội thông qua đầu năm
lạm phát ở Việt Nam là do yếu tố tiền tệ do chi tiêu công quá mức và phân bổ
vốn thiên lệch ở khu vực thị trường (doanh nghiệp) được diễn giải như sau
- ví dụ năm ngoái trong nền kinh tế có 100 đơn vị hàng hóa và 100 đồng tiền
thì giá 1 hàng hóa là 1 tiền. Năm nay, do tăng trưởng kinh tế 10% nên nền
kinh tế có 110 đơn vị hàng hóa. Do những yếu tố khác nhau (chủ yếu vẫn là
việc gia tăng cung tiền của ngân hàng trung ương) mà nền kinh tế có đến 121
đơn vị tiền. Kết quả là giá 1 hàng hóa bằng 1,1 tiền hay lạm phát là 10%.
- lạm phát cũng có thể do cầu kéo hay chi phí đẩy. Một ví dụ đơn giản nhất
của cầu kéo là những gói kích thích kinh tế của chính phủ. Với một kế hoạch
chi tiêu lớn được đưa ra sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế gia tăng dẫn đến
mức giá gia tăng trong ngắn hạn.
-Sự nóng lên bất thường của các thị trường tài sản (chứng khoán , bất động
sản...) cũng có thể gây ra lạm phát cầu kéo do nhiều người trở nên giàu có bất
thường sẽ gia tăng mức chi tiêu rất lớn của mình dẫn đến tăng tổng cầu của cả
nền kinh tế tăng.
- lạm phát chi phí đẩy, ví dụ dễ nhìn thấy nhất là do một cú sốc cung nào đó
mà làm cho nguồn cung khan hiếm hay giá nguyên liệu đầu vào đột ngột tăng
lên làm cho mức giá chung của cả nền kinh tế tăng lên tưc thì

vốn. Câu chuyện của Vinashin đã chi tiêu hoang phí khoảng 4 tỷ đô la trong
thời gian qua và hiện vẫn được khoanh nợ và tiếp tục vay vốn là một ví dụ rất
điển hình của sự ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước.
Đối với một số doanh nghiệp tư nhân lớn, chúng ta thấy rằng, không ít trong
số họ chủ yếu tập trung vào các hoạt động kinh doanh (nói đúng hơn là đầu
cơ) các loại tài sản (bất động sản, chứng khoán ...) hay tìm kiếm tài nguyên
quốc gia chứ không phải tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo
ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Điều đáng quan tâm là hầu hết các
doanh nghiệp này không chỉ có các ngân hàng hay tổ chức tài chính riêng của
mình mà còn có quan hệ chặt chẽ với không ít các tổ chức tài chính ngân
hàng
lớn
hay
những
mối
quan
hệ
khác.

30

Điều này làm cho các khoản cho vay theo quan hệ trở nên phổ biến hơn và
một phần không nhỏ nguồn vốn được đưa vào các hoạt động kinh doanh có
tính đầu cơ gây rủi ro hơn là tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Dĩ nhiên,
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng chính giải quyết việc làm và là động
lực tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian qua đã, đang và sẽ bị chèn lấn
và khó tiếp cận vốn hơn nên có thể phải thu hẹp sản xuất hay chỉ cầm cự cho
qua
ngày.


1.

Năm 2011

- Nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát năm 2011 ở mức 17%, ổn
định kinh tế vĩ mô, Bộ Tài chính ban chủ trương từ nay đến cuối năm tập
trung vào 6 giải pháp.
Ngày 17-8, Bộ Tài chính đã công bố các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu
kiềm chế lạm phát năm 2011 ở mức 17%, ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung vào
6 giải pháp như sau:
Thứ nhất, tập trung giải quyết các vấn đề từ gốc của giá cả là chất lượng tăng
trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ hai, kiên định thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm khống chế tổng cầu
của nền kinh tế mà Nghị quyết 11/NQ-CP đã đề ra.
Thứ ba, bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hoá, dịch vụ trong mọi tình huống,
trước hết là các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống, không để
xảy ra thiếu hàng sốt giá. Sắp xếp lại tổ chức mạng lưới lưu thông hợp lý,
tránh đẩy chi phí lưu thông tăng cao. Rà soát, kịp thời tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc và có các giải pháp hỗ trợ phù hợp về tiếp cận vốn, lãi suất,
thuế… cho sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển để tăng
cung cho thị trường, giảm chi phí tạo ra cơ hội giảm sức ép đẩy giá tăng.
Thứ tư, thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn các
hành vi gian lận thương mại, đầu cơ găm hàng thao túng thị trường giá cả.
Tiếp tục thực hiện các biện pháp quản lý thị trường vàng, thị trường ngoại
hối.

30

Thứ năm, thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; tiếp tục có lộ trình thích
hợp để xoá bao cấp qua giá đối với các loại hàng hoá dịch vụ còn bao cấp và

ngân sách; tăng cường tiết kiệm chi thường xuyên; rà soát, sắp xếp lại danh
mục đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và chuyển một phần đầu tư
nhà nước sang đầu tư từ các nguồn vốn khác. Kiểm soát chặt chẽ hiệu quả đầu
tư, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Bảo đảm nợ công trong giới hạn
an toàn.

30

Thứ ba, tăng cường quản lý nhà nước về giá; xử lý nghiêm khắc các hành vi
tăng giá bất hợp lý, nhất là đối với các nguyên vật liệu quan trọng và các mặt
hàng tiêu dùng thiết yếu; công khai, minh bạch và tăng cường cơ chế thị


trường đối với giá các hàng xăng dầu, điện và những mặt hàng nhạy cảm khác
chưa có cạnh tranh thị trường đầy đủ.
Thứ tư, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền và quản lý thị trường để
hạn chế thấp nhất các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý và đầu cơ. Các bộ và
địa phương hữu quan phải chủ động, kịp thời can thiệp thị trường hoặc trình
cấp có thẩm quyền các giải pháp ứng phó trong trường hợp cần thiết để bảo
đảm không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, gây tăng giá đột biến, ảnh
hưởng sản xuất và đời sống của nhân dân, nhất là rà soát cân đối cung - cầu
các loại hàng hóa thiết yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước như:
gạo, xăng, dầu, phân bón, xi-măng, sắt thép.
Thứ năm, kiểm soát chặt chẽ hơn việc nhập khẩu các mặt hàng không khuyến
khích để giảm nhập siêu và cải thiện cán cân thanh toán. Ðẩy mạnh xuất khẩu,
tăng hàm lượng nội địa và giá trị gia tăng của sản phẩm; phát triển sản xuất
thay thế có hiệu quả hàng nhập khẩu; tiếp tục khuyến khích thu hút và đẩy
nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn ODA và FDI (đặc biệt trong phát triển
cơ sở hạ tầng, công nghiệp phụ trợ và nông nghiệp), cùng với việc kiểm soát,
ngăn chặn việc chuyển giá, trốn thuế. Tăng cường quản lý các dòng vốn đầu

cường cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia và đổi mới công tác cán bộ, phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách
hành chính, chú trọng cải cách thể chế và thủ tục hành chính, tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp và nhân dân.

3. Năm 2013

Để giảm bớt lạm phát thì dù chính sách tiền tệ hay chính sách tài khóa cũng
nhằm vào hai mục tiêu đó là: giảm bớt lượng tiền trong lưu thông và gia tăng
cung cấp hàng hóa dịch vụ trong xã hội . Với mỗi mục tiêu trên thì mỗi chính
sách có công cụ sử dụng riêng biệt để thực hiện tốt hai mục tiêu trên.
Mục tiêu giảm bớt lượng tiền trong lưu thông.
+ Đối với chính sách tiền tệ:

-

-

Ngừng phát hành tiền vào trong lưu thông nhằm giảm lượng tiền đưa vào
lưu thông trong xã hội.
Tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc đây là biện pháp nhằm giảm lượng cung tiền
vào thị trường. Biện pháp này tác động đến tất cả các ngân hàng và bình
dẳng giữa các ngân hàng với nhau.
Nâng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tiền gửi : biện pháp này nhằm hạn
chế các ngân hàng thương mại mang giấy tờ có gia đến ngân hàng nhà
nước để triết khấu. Ngoài ra việc nâng lãi suất tiền gửi ngân hàng sẽ thu
hút người dân giử tiền vào ngân hàng nhiều hơn.
30

-


Quy định tốc độ tăng trưởng tín dụng phải giữ ở mức dưới 20%.
Trong tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16% và ưu tiên cho
việc phát triển nông nghiệp , nông thôn , xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thắt chặt tín dụng với lĩnh vực phi sản xuất đặc biệt là lĩnh vực bất động
sản và chứng khoán . Ngoài ra còn giảm tỉ lệ dư nợ đối với lĩnh vực này.
Đưa ra chính sách bình ổn thị trường ngoại tệ và vàng nhằm đáp ứng nhu
cầu kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối .
30

-



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status