Thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC ANH TUẤN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO
TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC ANH TUẤN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO
TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số
: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Anh Tuấn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀTỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO.................................................................7
1.1. Khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ................7
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn
giáo ............................................................................................................................10
1.3. Nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn
giáo ............................................................................................................................15
1.4. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo........21
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN
NGƢỠNG, TÔN GIÁO TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .....................................29
2.1. Quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo........................................................................................................29
2.2. Các yếu tố đặc thù của thành phố Đà Nẵng có ảnh hưởng tới thực hiện pháp
luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo .............................................................................40
2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà
Nẵng ..........................................................................................................................54
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .......................................................................................69
3.1. Dự báo tình hình .................................................................................................69
3.2. Quan điểm tăng cường thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng ....................................................................................71

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em và mỗi dân tộc lưu
giữ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình. Thực tế cho thấy, các
hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vừa thể hiện nhu cầu về tinh thần của nhân dân, vừa
đóng góp nhiều giá trị đạo đức, văn hóa cho xã hội. Lịch sử Việt Nam cho thấy,
nhiều tín ngưỡng, tôn giáo đã đồng hành cùng dân tộc trong các phong trào đấu
tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng các quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo, coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những
quyền con người, quyền công dân căn bản cần được thúc đẩy và bảo vệ.
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương và được xem là một trong những
thành phố năng động, đáng sống bậc nhất của Việt Nam. Đây cũng là nơi có điều
kiện thuận lợi để du nhập và phát triển các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Trong
những năm qua, các hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo cơ sở diễn ra ổn
định, thuần túy tôn giáo, gắn với sự phát triển chung của thành phố, tuân thủ pháp
luật và thực hiện đúng phương châm hành đạo. Tuy nhiên, xuất phát từ vị trí kinh
tế, văn hóa – xã hội đặc thù, Đà Nẵng cũng là địa bàn trọng điểm chống phá của các
thế lực thù địch trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với nước ta nói
chung, thành phố nói riêng. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng còn những tồn
tại, hạn chế nhất định như: Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về tín ngưỡng,
tôn giáo có lúc, có nơi chưa thực sự đồng bộ, kịp thời; nhận thức của một bộ phận
người dân, tổ chức tôn giáo, cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn hạn chế; các cơ
quan quản lý còn thiếu gần gũi với tín đồ và chức sắc tôn giáo, nên không kịp thời
nắm bắt tâm tư nguyện vọng chính đáng của đồng bào. Vẫn còn tình trạng cán bộ
nhà nước không nắm vững tình hình tôn giáo ở địa bàn, chưa dựa vào tổ chức tôn
giáo và chức sắc tôn giáo ở cơ sở để giải quyết những vấn đề phát sinh có liên quan
đến tôn giáo. Một số nơi, cơ quan quản lý nhà nước chưa hiểu đầy đủ do thiếu thông

1



2


Lợi, Tạp chí Quản lý nhà nước,số 4/2014; "Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo" của
Nguyễn Hoài Sanh, Tạp chí Triết học,số 8/2012; "Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của công dân Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", Luận văn thạc sĩ luật
học" của Nguyễn Thị Diệu Thuý thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Luật Hà Nội
năm 2010…
Ở góc độ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, có một số Luận văn đã
nghiên cứu như “Thực trạng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Cà
Mau” của Vũ Bình Lương thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Chính trị năm 2003;
“Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa” của
Lê Văn Nhuần thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Chính trị năm 2004); “Nâng cao
hiệu quả công tác tôn giáo ở Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của Nguyễn
Thị Kim Như thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Chính trị năm 2004); Công tác
quản lý nhà nước về tôn giáo ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa - Thực trạng và
giải pháp" của Lê Văn Nhuần thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Chính trị năm
2004; “Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động của Đạo Công giáo ở Ninh Bình
hiện nay” của Vũ Tuệ Minh thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013…
Các công trình trên đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo, đặt vấn đề thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở
từng lĩnh vực, từng địa phương khác nhau và có những nhận định, đánh giá sâu sắc,
cụ thể về thực trạng thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó có
những kiến nghị, đề xuất hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trên thực tế.
Những thông tin từ các công trình nghiên cứu này sẽ là nguồn tư liệu phong phú để
tham khảo, chọn lọc để đưa vào Luận văn Thạc sỹ của Tác giả lần này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

- Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ khi có
Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung
ương khóa IX về Công tác tôn giáo từ năm 2003 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –

4


Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về Nhà nước và Pháp luật về
tự do tín ngưỡng về tôn giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp thống kê, so sánh;
- Phương pháp tiếp cận hệ thống;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của Luận văn
- Kết quả của Luận văn góp phần củng cố hệ thống lý luận về thực hiện pháp
luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như vấn đề về khái niệm, đặc điểm, tính
chất của các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực
hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nội dung, hình thức, phương pháp thực
hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp
luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Luận văn nêu, phân tích quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các yếu tố đặc thù của thành phố Đà

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO
1.1. Khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo
1.1.1. Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Theo Từ điển Luật học (Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp - Nhà Xuất bản
Tư pháp, Nhà Xuất bản từ điển Bách khoa), “quyền” là khái niệm khoa học pháp lí,
dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá
nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai
được ngăn cản, hạn chế.
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn
tại phổ biến ở hầu hết các cộng động người trong lịch sử hàng ngàn năm qua. Về cơ
bản, bất cứ tôn giáo nào, với hình thái phát triển đầy đủ của nó cũng đều bao gồm
hai bộ phận cấu thành là ý thức tôn giáo (thể hiện ở quan niệm về các đấng thiêng
liêng cùng những tín ngưỡng tương ứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo với những
hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng của nó. Tôn giáo là sản phẩm của
con người, gắn với những điều kiện tự nhiên và lịch sử cụ thể, xác định. Về bản
chất, tôn giáo thể hiện tâm tư, nguyện vọng của con người trước tự nhiên và xã hội.
Tuy nhiên, trong ý thức tôn giáo chứa đựng giá trị đạo đức, đạo lý con người. Trong
lịch sử xã hội loài người, tôn giáo xuất hiện từ rất sớm. Nó hoàn thiện và biến đổi
cùng với sự biến đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị. Tôn
giáo ra đời bởi nhiều nguồn gốc khác nhau, nhưng cơ bản là từ các nguồn gốc kinh
tế - xã hội, nhận thức và tâm lý.
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế
giới và mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được
hiểu là tôn giáo. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là tín
ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo; tín ngưỡng có tổ chức không chặt
chẽ như tôn giáo. Khi đề cập đến khái niệm tín ngưỡng, người ta thường nói đến tín

7



8


đức và tôn giáo của con cái họ phù hợp với ý nguyện riêng của họ”. Khoản 2 Điều
20 nghiêm cấm mọi hành động cổ vũ hằn thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo dẫn đến kích
động phân biệt đối xử và bạo lực. Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 18
ICCPR sau đó được Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc làm rõ thêm trong Bình
luận chung số 22 (được thông qua tại phiên họp lần thứ 48 của Ủy ban năm 1993),
với một số nội dung chính như: giải thích về các quyền tự do tư tưởng, tự do tôn
giáo, tín ngưỡng; về thuật ngữ “tín ngưỡng” và “tôn giáo”; phân biệt giữa tự do tư
tưởng, niềm tin lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng với tự do thể hiện tôn giáo hay
tín ngưỡng; về việc không cho phép áp đặt bất kỳ sự giới hạn nào đối với tự do tư
tưởng, niềm tin lương tâm; nghiêm cấm các hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng
để kích động chiến tranh, cổ vũ hận thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, hay kích động sự
phân biệt đối xử, thù địch hoặc bạo lực; về việc hạn chế quyền tự do bày tỏ tôn
giáo, tín ngưỡng…
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo trong hệ thống pháp luật của mình. Ở Việt Nam, quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháptừ năm 1946,
1959, 1980, 1992 và 2013.Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được kế thừa và
phát triển, trở thành một trong những quyền cơ bản của con người. Bên cạnh đó,
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được ghi nhận cụ thể ở Luật Tín ngưỡng, tôn
giáo năm 2016 và trong các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là
quyền được theo đuổi, thực hiện các hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, cộng
đồng một cách tự do. Quyền này cũng bao hàm cả ý nghĩa tự do thay đổi, theo hoặc
không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào đó.
1.1.2. Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong các quyền nhân thân nên nó

phát triển.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín
ngƣỡng, tôn giáo
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu,

10


định hướng cụ thể [17, tr.18]. Trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, thực hiện pháp luật
là giai đoạn thứ hai sau khi đã tiến hành giai đoạn xây dựng pháp luật và là giai đoạn
hết sức quan trọng. Thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu kể từ khi pháp
luật xuất hiện bởi pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội
phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống.
Thực hiện pháp luật trước hết là một trong những hình thức để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước được thể hiện bằng hành vi hợp pháp của các chủ thể
pháp luật. Tuy nhiên, thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau thì sẽ tiến hành
với nhiều cách thức khác nhau, vì thế, bằng cách quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý
cho các chủ thể tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định, Nhà nước có thể tác động
lên các quan hệ xã hội, điều chỉnh chúng theo chiều hướng Nhà nước mong muốn.
Do đó, pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi hay xử sự của con người mà không thể điều
chỉnh suy nghĩ hay tư tưởng của họ, bởi vì, không ai có thể “đọc” được hay dự đoán
được chính xác ý nghĩ của người khác khi nó đang tồn tại trong đầu họ, tức là khi nó
chưa được thể hiện ra bên ngoài thành những hành vi hay xử sự cụ thể để mà điều
chỉnh. Vì lý do này mà chỉ có thể căn cứ vào hành vi xác định hay xử sự thực tế của
một chủ thể nào đó rồi đối chiếu với các quy định cụ thể của pháp luật mà ta có thể
xác định được là họ có thực hiện pháp luật hay không.
Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật

hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Đối với Nhà nước, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một
trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, đặc biệt
là hai chức năng cơ bản của Nhà nước là quản lý và phục vụ. Còn đối với các tổ
chức phi nhà nước và cá nhân, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo là hoạt động sử dụng quyền, tự do pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp lý về
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà pháp luật quy định cho họ.
Thứ hai, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động
có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo. Do vậy, đây là quá trình hoạt động có lý trí và có ý chí của các
chủ thể pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo đi vào cuộc sống nhằm đạt được những mục đích nhất định vì lợi ích của

12


mỗi thành viên, cũng như của cả cộng đồng xã hội. Thực hiện pháp luật về quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống
pháp luật thực định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ chế thực thi, đưa pháp
luật vào cuộc sống. Pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện
nghêm minh sẽ tạo ra và duy trì trật tự để các quan hệ xã hội về tín ngưỡng, tôn giáo
tồn tại, phát triển theo những định hướng mong muốn, có lợi cho xã hội, cho Nhà
nước và cho các tổ chức, cá nhân.
Thứ ba, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tiến
hành thông qua nhiều hình thức, quy trình khác nhau như tuân thủ pháp luật, thi
hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo. Tùy vào tính chất của các quy phạm pháp luật mà việc thực hiện pháp luật về
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có thể được thực hiện thông qua những quy trình
khác nhau. Quy trình đó có thể là đơn giản với sự tham gia của một hoặc một số cơ

của Nhà nước, cộng đồng và các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Đi từ nhận
thức đến hành động thực tiễn, chuyển từ “pháp luật trên giấy tờ” thành “pháp luật
trong hành động” là logic biện chứng của quá trình triển khai hoạt động thực hiện
pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.
Đồng thời, đây cũng là mục tiêu của thực hiện pháp luật trên lĩnh vực này, bởi lẽ,
việc các chủ thể hiểu, tuân thủ, thi hành, chấp hành và biết sử dụng pháp luật để bảo
bệ cho lợi ích của các chủ thể là điều mà Nhà nước mong muốn khi ban hành pháp
luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ tư, khi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm thì quyền và lợi
ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng được bảo đảm. Việc thực hiện
pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo sẽ góp phần quan trọng trong việc hiện thực
hóa các quy định của pháp luật, đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
nói chung. Đây được coi là kết quả của hoạt động thực hiện pháp luật về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo.
Thứ năm, thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là động lực, công
cụ để xác định định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật. Theo đó, thông qua thực

14


hiện pháp luật sẽ xác định được những tồn tại, hạn chế, bất cập của pháp luật hiện
hành về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, qua đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định
liên quan nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn thiện cơ chế đưa pháp luật vào cuộc sống.
1.3. Nội dung, hình thức, phƣơng pháp thực hiện pháp luật về tự do tín
ngƣỡng, tôn giáo
1.3.1. Nội dung thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta luôn quan

tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
Như vậy, Hiến pháp và Luật tín ngưỡng, tôn giáo là những văn bản quy phạm
pháp luật quan trọng, chủ yếu, điều chỉnh trực tiếp hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở
Việt Nam hiện nay cũng như quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ
trong việc tổ chức thực hiện các chính sách tôn giáo. Bên cạnh đó, các văn bản pháp
luật khác cũng đã có các quy định điều chỉnh các hoạt động liên quan đến hoạt động
tín ngưỡng, tôn giáo theo tinh thần của Điều 70 Hiến pháp 1992 như Bộ luật dân sự,
Bộ luật Hình sự, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật cư trú, Luật Hôn nhân gia đình,
Luật Phòng chống HIV/AIDS...
Nội dung thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính là việc tuân
thủ, thi hành, áp dụng và sử dụng các quy định của Hiến pháp, Luật tín ngưỡng, tôn
giáo và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong thực tiễn, nhằm đưa các
quy định này đi vào cuộc sống.
1.3.2. Hình thức thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện thông
qua bốn hình thức là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, áp dụng pháp luật và sử
dụng pháp luật. Cụ thể:
Thứ nhất, tuân thủ pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là hình thức
thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể kiềm chế, giữ mình để không thực hiện
những hành vi mà pháp luật cấm. Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp
luật cấm đoán trong thực tế và là hình thức thực hiện pháp luật bằng không hành
động. Ví dụ các chủ thể không phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo;
không ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín

16


ngưỡng, tôn giáo; không xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; không hoạt động tín
ngưỡng, hoạt động tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức

đan xen, gắn bó chặt chẽ với nhau. Các chủ thể thông thường phải cùng đồng thời thực
hiện các quy định của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo dưới nhiều hình thức
khác nhau, bởi không thực hiện quy định của pháp luật này sẽ không thể thực hiện
được các quy định khác của pháp luật. Chẳng hạn như việc thực hiện quy định của
pháp luật nội dung phải gắn với quy định của luật hình thức. Nếu như tuân thủ pháp
luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức thực hiện pháp luật mà
mọi chủ thể đều có thể tiến hành được thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện
pháp luật chỉ dành cho các chủ thể có thẩm quyền. Áp dụng pháp luật về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền, vừa
là giai đoạn mà các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể pháp luật
khác thực hiện các quy định của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
1.3.3. Phương thức thực hiện
1.3.1.1. Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành: Để triển khai thi
hành Luật
- Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng,
tôn giáo.
- Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn
giáo.
1.3.1.2. Tuyên truyền, phổ biến về Luật tín ngưỡng, tôn giáo
Thực hiện các hoạt động phổ biến Luật theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật tín
ngưỡng, tôn giáo của Thủ tướng Chính phủ; Bộ Nội vụ; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp; Bộ Thông tin và Truyền thông; Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền
hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam; Ủy ban nhân dân các cấp và Ban Tôn giáo
Chính phủ.
1.3.1.3. Các điều kiện đảm bảo thi hành Luật
- Kinh phí triển khai Luật được bố trí từ ngân sách nhà nước trong dự toán chi
thường xuyên hàng năm và các nguồn khác theo quy định của pháp luật.
- Các cơ quan được phân công chủ trì thực hiện các nhiệm vụ cụ thể có trách
nhiệm lập dự toán kinh phí bảo đảm việc triển khai thi hành Luật, gửi cơ quan có thẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status