Pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tại thành phố đà nẵng (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TÂN CẢNH

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TÂN CẢNH

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .......................................................................................49
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn
thành phố Đà Nẵng....................................................................................................49
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng ....................................................................................51
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn
thành phố Đà Nẵng....................................................................................................55
3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ....................................................................60
KẾT LUẬN ..............................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với một nước nông nghiệp có khoảng 70% dân số là nông dân như Việt Nam
thì đất đai luôn là vấn đề rất nhạy cảm và nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn
xã hội. Đặc biệt khi đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực
hiện cơ chế quản lý đất đai mới bằng việc xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự
chủ trong sản xuất nông - lâm nghiệp; tiến hành giao đất, cho thuê đất cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Chính sự thay đổi cơ chế quản lý này đã trả
lại cho đất đai những giá trị vốn có của nó: Đất đai ngày càng trở nên có giá và
được đem trao đổi trên thị trường; dùng làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng
thế chấp vay vốn với ngân hàng, tổ chức tín dụng; được đem góp vốn liên doanh
trong sản xuất – kinh doanh. Người dân ngày càng nhận thức sâu sắc được giá trị to
lớn của đất đai. Số lượng các khiếu kiện, tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng v.v...
Với việc đất đai ngày càng có giá thì vấn đề thu hồi đất, bồi thường, giải
phóng mặt bằng cũng gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Trong nhiều trường hợp,
người dân do không đồng tình với phương án bồi thường của Nhà nước đã không

góc độ lý luận và thực tiễn; tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả:
Nguyễn Vĩnh Diện, “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất (qua
thực tiễn thi hành tại Thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ (2012); Hoàng Thị Thu
Trang, “Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia
đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại Nghệ An”, Luận văn Thạc sĩ (2012); Nguyễn
Thị Tâm, “Pháp luật về thu hồi đất trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước
– nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi”, Luận văn Thạc sĩ Luật học (2013); Phạm
Thu Thủy,“Pháp luật về Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt
Nam”; Luận văn (2013) của Trần Phương Liên với nội dung “Pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Thực trạng và hướng hoàn thiện".
Bên cạnh đó, còn có một số bài báo khoa học liên quan đến vấn đề trên đây,
được công bố trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành, như Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, Tạp chí Khoa học Tài chính, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế...như: TS. Trần
Quang Huy, “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số

2


10/2010; Ts. Nguyễn Quang Tuyến, “Công khai minh bạch để bảo vệ quyền lợi của
người bị thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số 3/2012; TS. Doãn Hồng Nhung (Chủ
biên), “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt
Nam”, sách chuyên khảo, NXB Tư pháp năm 2013; Ngoài ra còn có các công trình
nghiên cứu tiêu biểu như: Chuyên đề “Bình luận và góp ý đối với các quy định bồi
thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” của
PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến đăng trong Hội thảo khoa học “Góp ý dự thảo Luật
Đất đai sửa đổi” tổ cức tại Đại học Luật Hà Nội; …
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tài liệu quý giá
để tác giả Luận văn kế thừa và tiếp tục mở rộng nghiên cứu về vấn đề “bồi thường
khi thu hồi đất” trên các bình diện: cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và
trong thực tiễn thi hành. Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên đã tiếp cận từ

về giá đất và các yếu tố khác.
- Địa bàn nghiên cứu: thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi thời gian: từ 2012 đến hết năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin là phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng. Bên cạnh đó dựa trên
cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chủ trương và chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, đề tài này còn vận dụng các biện pháp nghiên cứu
cụ thể như sau: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp…
Ngoài ra, trên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và các số liệu thực
tế khi áp dụng để tìm ra những điểm bất cập trong công tác bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả áp dụng trong quá trình thực hiện pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất.

4


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Hệ thống hoá và góp phần phát triển, bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về

bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất ở Việt Nam, đặc biệt, phân tích, làm rõ cơ chế điều chỉnh của pháp luật về
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; phân tích làm rõ bản chất của việc bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất.

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Trong đời sống hàng ngày, “bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong
trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách
nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra;
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “Đền bù những tổn
hại gây ra” [20]. Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi
một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã
hội. Trong lĩnh vực pháp luật đất đai thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà
nước thu hồi đất.
Theo Khoản 6 Điều 4 Luật đất đai 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi
cho người bị thu hồi đất”. Khái niệm nêu trên chỉ xác định bồi thường về đất, trong
khi đó việc thu hồi đất không chỉ gây thiệt hại về đất, mà còn là những thiệt hại liên
quan đến quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi
trên đất, thậm chí là thiêt hại về sức khỏe do áp lực căng thẳng, lo âu của người sử
dụng đất.
Luật Đất đai năm 2013, tại khoản 12, Điều 3 về giải thích từ ngữ đã quy định
rõ: “Bồi thường về đất đai là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. Còn vấn đề hỗ trợ và bồi thường về
tài sản được quy định tại mục 2, mục 3 chương VI của Luật này. Như vậy, khi Nhà
nước thu hồi đất, Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho người sử dụng đất hợp pháp
bị thu hồi đất những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tải sản trên đất, việc bồi

6


thường được thực hiện theo những quy định của pháp luật đất đai.
Từ phân tích trên, có thể hiểu một cách đầy đủ về bồi thường khi Nhà nước


trang nhân dân; Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; Xây dựng
cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng: Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương
đầu tư mà phải thu hồi đất; Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm (Dự án xây khu công nghiệp,
chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước
ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công
trình sự nghiệp công cấp quốc gia; Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp
quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc;
hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử
lý chất thải).
Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu
hồi đất bao gồm (Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự
nghiệp công cấp địa phương; Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa
phương bao gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên
lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải; Dự án xây dựng công
trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã
hội, nhà ở công vụ, xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao,
vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa
táng; Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thông mới; chỉnh trang đô
thị, khu dân cư nông thôn, cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm
sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; Dự
án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai

đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường
về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.
Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản,

9


quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật
về đất đai.
Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại
đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người: Tổ chức được Nhà nước giao đất
không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền
sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi
khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà
nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc
không còn nhu cầu sử dụng đất; Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa
kế; Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; Đất được Nhà nước giao, cho thuê có
thời hạn nhưng không được gia hạn; Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có
nguy cơ đe dọa tính mạng con người; Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng
bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.
Thứ ba, về giá đất bồi thường, Nhà nước chủ động trong việc xác định giá
đất bồi thường dựa trên các căn cứ khoa học và tôn trọng giá đất trên thị trường
trong điều kiện bình thường của thửa đất.
Nguyên tắc chung về vấn đề bồi thường trong quá trình giải phóng mặt bằng
của nhà nước theo pháp luật đất đai là nhà nước thu hồi phần nào thì sẽ tiến hành
bồi thường phần đó. Nếu trong trường hợp phần đất bị nhà nước thu hồi dẫn đến hệ
quả lấn vào diện tích căn nhà gia đình đang sinh sống phải phá đi thì nhà nước có
thể tiến hành hỗ trợ tái định cư cho gia đình. Theo quy định tại Khoản 3 và Khoản
4 Điều 114 Luật đất đai năm 2013 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ
thể. Bảng giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sẽ do UBND tỉnh quy định phù

Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì
Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng chế có
quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất
cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì
Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có
liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế. Trường hợp người bị cưỡng chế từ
chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện
bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận
lại tài sản.

11


Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế
thu hồi đất, theo đó, UBND cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc
cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của
pháp luật về khiếu nại; thực hiện phương án tái định cư trước khi thực hiện cưỡng
chế; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng chế; bố trí
kinh phí cưỡng chế thu hồi đất; Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm chủ trì lập
phương án cưỡng chế và dự toán kinh phí cho hoạt động cưỡng chế trình UBND
cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện cưỡng chế theo phương án đã được phê
duyệt; bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Trường hợp trên đất thu hồi có tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải bảo quản
tài sản; chi phí bảo quản tài sản đó do chủ sở hữu chịu trách nhiệm thanh toán; lực
lượng Công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi
hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất; UBND cấp xã nơi có đất thu hồi có trách
nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm
yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối
hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng niêm phong, di
chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi
nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới. Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao
động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và
dịch vụ.
Thứ hai, pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bảo đảm giải
quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất
Vì lợi ích chung, lợi ích của cả cộng đồng, Nhà nước thực hiện thu hồi đất
của người sử dụng đất để sử dụng cho các mục đích khác nhau. Điều này sẽ gây ra
những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của những người bị thu hồi
đất. Nếu không thực hiện tốt việc bồi thường cho người bị thu hồi đất sẽ dẫn đến
tình trạng là trong khi các công trình phúc lợi được xây dựng trên những diện tích
đất bị thu hồi mang lại lợi ích cho số đông dân chúng trong xã hội thì ở thái cực
ngược lại người bị thu hồi đất lại rơi vào tình trạng khó khăn về sản xuất và đời
sống do bị mất đất sản xuất hoặc bị mất nhà ở. Do đó, vấn đề bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích của người bị thu

13


hồi đất với lợi ích của Nhà nước, của xã hội để vừa bảo đảm nhu cầu sử dụng đất
đai phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, bồi hoàn cho họ
những thành quả lao động, kết quả đầu tư bị thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra.
Thứ ba, pháp luật bồi thường góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội
Cho dù thu hồi đất để sử dụng vào bất kỳ mục đích gì thì đây cũng là hành
vi"đụng chạm" trực tiếp đến quyền lợi vật chất của người sử dụng đất. Chính vì vậy,
thu hồi đất luôn luôn là vấn đề nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mâu thuẫn, tranh
chấp về lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và người được hưởng lợi từ việc
thu hồi đất (chủ đầu tư, các doanh nghiệp hoặc cộng đồng xã hội). Thực tế giải

sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
Thứ ba, phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, hiệu quả, dân chủ, tiết kiệm
ngân sách và hỗ trợ người khó khăn khi bị thu hồi đất. Biểu hiện cụ thể của những
nguyên tắc này là khi thu hồi phải đảm bảo sự công bằng về giá đất, về mức hỗ trợ,
về đối tượng thụ hưởng, về địa vị pháp lý…giữa các đối tượng thu hồi, giữa người
bị thu hồi với Nhà nước hay chủ đầu tư đảm bảo sự hài hòa về lợi ích, minh bạch
về mọi vấn đề liên quan, làm sao để người dân tự nguyện giao đất thực hiện dự án,
công trình phát triển đô thị, phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh.
Nguyên tắc trên thể hiện khi nhà nước lấy đi phần lợi ích của người dân mà
người dân có đầy đủ điều kiện được bồi thường thì Nhà nước có trách nhiệm phải
bồi thường. Quy định trên phù hợp với nguyên tắc dân sự được quy định trong Bộ
luật dân sự 2005. Khi Nhà nước lấy đất thì bồi thường bằng đất cùng loại, nếu
không có đất cùng loại thì bồi thường bằng tiền với giá trị tương đương. Cách tiếp
cận này xuất phát từ quan niệm coi đất đai là tài sản có thể được trả thay bằng tiền
bồi thường để mua được một thửa đất tương đương. Quy định này cũng nhằm ngăn
ngừa tình trạng người bị thu hồi đất đòi hỏi giá bồi thường quá cao do giá trị của đất
đai tăng lên từ việc chuyển mục đích sử dụng đất hoặc do sự đầu tư của Nhà nước
mang lại.
Việc bồi thường phải dân chủ khách quan, tức là phải đảm bảo khi người dân

15


bị thu hồi đất mà có các đủ điều kiện nhận bồi thường, họ phải được bồi thường.
Đây là quyền liên quan tới lợi ích chính đáng mà không một ai hay tổ chức cá nhân
nào không cho họ thực hiện.
“Điều 88. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản sản xuất, kinh doanh
khi Nhà nước thu hồi đất”

nhất thực hiện. Đối với đất sử dụng có thời hạn, mức bồi thường cho người có đất
thu hồi không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời
hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó. Luật Đất đai năm
2013 cũng quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại cho một số
trường hợp không được bồi thường về đất; bổ sung quy định về việc bồi thường đối
với các dự án đặc biệt…
Đồng thời, quy định của pháp luật hiện hành, theo đó, các trường hợp không
được bồi thường về đất:
Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đất nhận
khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối...
Đất được Nhà nước giao để quản lý.
Đất bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; do thuộc trường hợp quy
định như cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; người sử dụng đất tự
nguyện trả lại đất; đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được
gia hạn…. Trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận (trừ trường hợp đất
nông nghiệp đã sử dụng trước 1-7-2004 mà hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất
nông nghiệp nhưng không có giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp
giấy chứng nhận) .
Thứ hai, về việc bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà
nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân:
Theo quy định tại Điều 80 Luật Đất đai năm 2013, việc bồi thường về đất,
chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải
là đất ở của hộ gia đình, cá nhân được quy định như sau:
Nếu Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là
đất ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại
Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích
sử dụng; trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo

17



18


Thứ ba, về việc bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà
nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải đất ở của tổ chức kinh tế, doanh
nghiệp liên doanh:
- Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nghĩa trang, nghĩa địa của
tổ chức kinh tế được thực hiện theo quy định sau:
Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích đất mà phần còn lại
không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa thì
chủ dự án được Nhà nước bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử
dụng nếu dự án đã có chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng; được bồi
thường bằng tiền nếu dự án đang trong thời gian xây dựng kết cấu hạ tầng và chưa
có chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng đó;
Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất mà phần còn lại đủ điều kiện để
tiếp tục sử dụng làm nghĩa trang, nghĩa địa thì chủ dự án được bồi thường bằng tiền
đối với diện tích đất thu hồi. Nếu trên diện tích đất thu hồi đã có mồ mả thì bố trí di
dời mồ mả đó vào khu vực đất còn lại của dự án; trường hợp khu vực đất còn lại
của dự án đã chuyển nhượng hết thì chủ dự án được Nhà nước bồi thường bằng giao
đất mới tại nơi khác để làm nghĩa trang, nghĩa địa phục vụ việc di dời mồ mả tại
khu vực có đất thu hồi.
- Việc giao đất tại nơi khác để làm nghĩa trang, nghĩa địa phải phù hợp với quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan, nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Nếu doanh nghiệp liên doanh sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất
ở do nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi
thường về trong các trường hợp sau:
+ Đất do tổ chức kinh tế góp vốn theo quy định tại Điều 184 của Luật Đất
đai có nguồn gốc được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê thu tiền
thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp

tướng Chính phủ quyết định, Bộ, ngành có dự án đầu tư tổ chức lập, thẩm định và
phê duyệt phương án bồi thường cho toàn bộ dự án.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ phương án bồi thường đã được Bộ, ngành
phê duyệt, tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường đối với dự án
thực hiện tại địa phương sau khi đã có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ,
ngành có dự án đầu tư; tổ chức thực hiện và quyết toán kinh phí bồi thường với Bộ,
ngành có dự án đầu tư.

20


Thứ năm, đối với trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi
trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị
ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người thì người có
đất thu hồi được bồi thường để ổn định đời sống, sản xuất thuộc Khoản 3 Điều 87
của Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, ngân sách nhà nước chi trả trong trường hợp
thu hồi đất ở do thiên tai gây ra và doanh nghiệp chi trả trong trường hợp thu hồi đất
ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người do
doanh nghiệp đó gây ra; trường hợp doanh nghiệp đã giải thể, phá sản thì tiền bồi
thường, hỗ trợ do ngân sách nhà nước chi trả theo quy định tại Điều 16 Nghị định
số 47/2014/NĐ-CP.[12]
(iii) Quy định về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và Chủ đầu tư khi
thực hiện bồi thường khi thu hồi đất:
Thứ nhất, đối với trách nhiệm của các Sở, ban, ngành cấp tỉnh
- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm:
+ Chủ trì công tác thẩm định phương án bồi thường đối với trường hợp thu
hồi đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh;
+ Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các quy định, chính sách về bồi
thường;
+ Hướng dẫn việc xác định và xử lý những vướng mắc về diện tích đất, loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status