Quản lý nhà nước về trật tự đô thị từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (Lv thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU HOÀNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU HOÀNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ ................................................................................... 7
1.1. Đô thị và trật tự đô thị ................................................................................ 7
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò về trật tự đô thị ...................................... 11
1.3. Các yếu tố bảo đảm quản lý nhà nước về trật tự đô thị ........................... 20
1.4. Chủ thể quản lý nhà nước về trật tự đô thị ............................................... 23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ
THỊ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................. 26
2.1. Hiện trạng trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng........................ 26
2.2. Thực tiễn quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng ................................................................................................................ 31
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.................................................................................................... 49
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .... 57
3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về trật tự đô thị ...................... 57
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa thành
phố Đà Nẵng.................................................................................................... 60
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATGT

: An toàn giao thông


Trang

47

47


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi đô thị phát triển một cách
có kiểm soát, theo quy hoạch, đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước “Cần phải
phát triển đô thị một cách vững chắc, có trật tự, nhằm xây dựng một đô thị đoàng
hoàng hơn to đẹp hơn”.
Trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, tốc độ phát triển đô thị diễn ra khá nhanh. Việc xây dựng và phát triển các đô
thị này, đòi hỏi phải được thực hiện theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt và
đúng với quy chuẩn, tiêu chuẩn cho phép đối với từng khu vực. Tuy nhiên, trên thực
tế việc vi phạm trật tự đô thị không còn là chuyện xa lạ ở các đô thị trong suốt thời
gian qua. Tình hình vi phạm trật tự đô thị đã và đang là một vấn đề nóng trong thực
tế các đô thị nước ta hiện nay; dường như đây chính là mặt trái của đô thị hoá với
tốc độ quá nhanh trong khi quản lý nhà nước về đô thị lại chưa đáp ứng kịp. Hiện
tượng xây dựng không phép, sai với nội dung giấy phép xảy ra ở nhiều nơi trên cả
nước, đặc biệt ở thành phố lớn, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí
Minh,… có thể nhận thấy các công trình vi phạm pháp luật về xây dựng ngày càng
nhiều và đa dạng hơn. Mức độ không chỉ dừng lại ở mấy căn hộ tập thể cơi nới
không xin phép hay nhà trong kiệt xây ban công lấn chiếm không gian công cộng,
mà nhà riêng sai theo kiểu nhà riêng, biệt thự sai kiểu biệt thự, các vi phạm về đất
đai diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp. Đồng thời các vi phạm về trật tự vỉa hè,
trật tự an toàn giao thông, về phòng cháy chữa cháy, về cư trú…cũng gia tăng và
diễn biến phức tạp. Điều này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị phải

chung và quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực nói riêng được nhiều tác giả đề
cập, như:
- “Phát triển Đô thị bền vững” do TS. Nguyễn Thế Nghĩa - TS. Tôn Nữ
Quỳnh Trân chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2002, trong đó nội dung
cuốn sách tác giả đã nêu lên những đặc thù và đưa ra những phương hướng giải
quyết theo nguyên tắc bền vững trong đô thị. Đặc biệt, nêu lên những trường hợp cụ
thể về việc phát triển đô thị ở Việt Nam và các nước trên thế giới. Tác giả đã phân
tích những ưu, khuyết điểm của quá trình phát triển một đô thị cụ thể trong những

2


năm qua, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc quy hoạch, chỉnh trang
và phát triển các đô thị khác trong tương lai.
- Giáo trình “Quản lý đô thị” do GS. TS Nguyễn Đình Hương và ThS. Nguyễn
Hữu Đoàn chủ biên, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội năm 2003, giáo trình gồm 10
chương, mỗi chương tương ứng với một vấn đề đặt ra cho quản lý đô thị. Giáo trình
cơ bản đã cung cấp những quan niệm về đô thị, quản lý đô thị, phân loại đô thị, quá
trình phát triển đô thị Việt Nam, các mô hình quản lý đô thị và nêu lên một số giải
pháp, trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý những lĩnh vực hoạt động được quan
tâm tại đô thị, như: Quản lý đất đai; Cơ sở hạ tầng; Dân số và Lao động; Phát triển
kinh tế; Giao thông và thông tin; Môi trường; An ninh xã hội và Tài chính đô thị.
- “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS. Võ Kim Cương, Nhà xuất bản
xây dựng năm 2004, tác giả nêu một số vấn đề về quản lý đô thị trong thời kỳ
chuyển đổi và đúc kết những kinh nghiệm thực tế, đưa ra các quan điểm, giải pháp
quản lý đô thị.
- “Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực” phần III do PGS. TS. Đinh Văn
Mậu, GS. TS. Lê Sỹ Thiệp và TS. Nguyễn Trịnh Kiểm chủ biên, Nhà xuất bản
Khoa học và Kỹ thuật năm 2009, trong đó chuyên đề 20 có đề cập đến QLNN về đô
thị nhưng chỉ mới tiếp cận ở một vài khái niệm và gợi ý một số điểm liên quan mà

Hà Nội năm 2012, tác giả đã nêu lên một số khái niệm về đô thị, quản lý đô thị, lịch
sử hình thành và phát triển đô thị. Đồng thời, cuốn sách cung cấp những kiến thức
mới về quản lý một số lĩnh vực cụ thể của đô thị, như dịch vụ công cộng, giao thông
và vận tải đô thị, môi trường, cấp thoát nước đô thị...giúp cho người đọc nắm được
những kiến thức cơ bản về quản lý đô thị.
Ngoài ra, còn nhiều đề tài nghiên cứu quản lý nhà nước trên các lĩnh vực như
đất đai, giao thông đô thị, an sinh xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường và tài
nguyên, quy hoạch đô thị,...Tuy nhiên, qua tìm hiểu, rà soát thì việc nghiên cứu đề
tài quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cho thấy chưa
có công trình nghiên cứu nào. Từ thực tế công tác của bản thân thấy được sự cần
thiết của việc nghiên cứu đề tài này, góp phần đưa ra các kiến nghị khoa học để
khắc phục những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị

4


trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm xây dựng thành phố Đà Nẵng ngày càng văn
minh, hiện đại.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng hoạt động quản lý
nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua, từ đó đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về trật tự
đô thị trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về trật tự đô thị; Đánh giá thực
trạng, phân tích nguyên nhân, hạn chế của hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô
thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Xác định các phương hướng và đề xuất một số
giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô thị tại thành
phố Đà Nẵng trong thời gian tới.

thống dưới góc độ pháp luật hành chính về hoạt động quản lý nhà nước về trật tự đô
thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Công trình này có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo trong quá trình học tập và nghiên cứu.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản
lý nhà nước về trật tự đô thị nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về trật tự đô thị.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về trật tự đô
thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

6


CHƢƠNG 1
NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
TRẬT TỰ ĐÔ THỊ
1.1. Đô thị và trật tự đô thị
1.1.1. Quan niệm về Đô thị
Theo nghĩa Hán – Việt, đô thị là từ ghép của 2 chữ “đô” và “thị”. Thị có nghĩa
là “chợ”, “đô” có nghĩa là sự đông đúc, chợ thì luôn phải đông, phải tập trung con
người và vật dụng trao đổi buôn bán. Đô thị được hình dung là nơi tập trung khu
dân cư sinh sống bằng các ngành nghề phi nông nghiệp.
Theo giáo trình “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị”, đô thị Việt Nam
được hiểu là: “một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động chủ yếu là phi nông
nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị”[40].

- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô
thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của
thị trấn;
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành,
nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động;
- Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và
hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:
+ Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có
mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị;
+ Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ
mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững.
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế
quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn
minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô
thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi
trường, cảnh quan thiên nhiên.
Trên cơ sở đó, có các loại đô thị sau:
Thứ nhất, đô thị đặc biệt là đô thị có quy mô dân số tối thiểu từ 5 triệu người

8


trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2, tỷ lệ lao động phi
nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động và trên 60% các trục phố
chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị.
Thứ hai, đô thị loại I, trong đó đô thị trực thuộc trung ương có quy mô dân số
từ 1 triệu người trở lên, mật độ dân số bình quân ở khu vực nội thành từ 12.000
người/km2. Còn đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số từ 500 nghìn người trở lên,
mật độ dân số bình quân khu vực nội thành từ 10.000 người/km2. Đồng thời, đô thị
loại I có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với

Có quan niệm cho rằng, trật tự đô thị là “khái niệm về tổ chức quản lý xã hội đô
thị, đảm bảo tình trạng và môi trường dân sự đối với công dân đô thị, đồng thời cũng
bảo đảm trật tự xã hội trên cơ sở các yếu tố con người và các yếu tố cấu trúc của xã
hội đô thị trong điều kiện được kiểm soát và phát triển”.
Như vậy, có thể hiểu trật tự đô thị là sự điều chỉnh, sắp xếp các quan hệ xã
hội đô thị hoạt động theo một quy tắc, quy chuẩn phù hợp các quy định của pháp
luật hiện hành để đảm bảo cho môi trường dân sự đô thị được phát triển bền vững
theo những nguyên tắc nhất định.
* Các tiêu chí đánh giá trật tự đô thị
Trật tự đô thị là việc nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội theo đúng quy
tắc, quy chuẩn của pháp luật hiện hành vì vậy để đánh giá đô thị đó có trật tự hay
không thì căn cứ vào các tiêu chí sau:
Thứ nhất, căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật ban hành có phù hợp
với thực tế hay không, có được mọi người dân chấp nhận không. Muốn vậy pháp
luật phải đảm bảo lợi ích hài hòa giữa người dân và nhà nước. Nếu các văn bản
được mọi người đồng tình thì việc tổ chức thực hiện vào thực tế sẽ đem lại hiệu quả
rất cao và ngược lại sẽ rất khó khăn trong tổ chức thực hiện, có khi phải hủy bỏ vì
không khả thi.
Thứ hai, năng lực của chủ thể quản lý, vì mục đích của chủ thể là sắp xếp, điều
chỉnh các quan hệ xã hội dân sự đô thị được thực hiện theo một quy tắc nhất định.
Do đó, năng lực chủ thể cao thì khả năng dự đoán, ban hành những quyết định điều
chỉnh quan hệ đó sẽ có tính chất hiệu quả tốt hơn.
Thứ ba, căn cứ vào quy hoạch tổng thể sẽ dự đoán được mức độ ổn định của

10


sự phát triển, vì quản lý đô thị là quản lý nhiều lĩnh vực khác nhau và phải đảm bảo
tính đồng bộ. Vì vậy sẽ có những chiến lượt quy hoạch tổng thể dài hạn và ngắn hạn
để thực hiện hiệu quả ý đồ quản lý của chủ thể

Quản lý nhà nước về trật tự đô thị là hoạt động mang tính chất quyền lực của
cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tạo ra các điều kiện để xác lập, duy trì và ổn
định các quan hệ về trật tự đô thị, theo quy định của pháp luật về trật tự đô thị. Đây
là một hoạt động có vai trò, vị trí rất quan trọng trong lĩnh vực an ninh trật tự đô thị.
QLNN về trật tự đô thị là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà
nước, cá nhân có thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật
tự đô thị. QLNN về trật tự đô thị được tiến hành trên các lĩnh vực: ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật về trật tự đô thị; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về trật tự đô thị; quản lý quy tắc trật tự đô thị; quản lý kết cấu hạ tầng trật tự đô
thị…
Từ những nhận thức chung về trật tự đô thị, về QLNN có thể đi đến quan
niệm: Quản lý nhà nước về trật tự đô thị là hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nước và cá nhân có thẩm quyền, trên cơ sở Hiến pháp, Luật để can thiệp vào các
lĩnh vực đô thị như: giao thông đô thị, xây dựng đô thị, trật tự xã hội đô thị... nhằm
điều chỉnh các hoạt động đô thị đi theo một quy tắc, một trật tự nhất định, đảm bảo
đúng theo mục tiêu đã được xác định trước.
Quản lý nhà nước về trật tự đô thị có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, QLNN về trật tự đô thị có thể do nhiều chủ thể tham gia. Tuy nhiên,
trong hệ thống chủ thể QLNN về trật tự đô thị, các cơ quản lý hành chính nhà nước
là chủ thể chủ yếu, những cơ quan này thực hiện quản lý với tư cách đại diện công
quyền mang quyền lực nhà nước.
Thứ hai, QLNN về trật tự đô thị dựa trên cơ sở pháp lý trực tiếp là pháp luật
về trật tự đô thị. Việc ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và xử lý vi
phạm pháp luật về trật tự đô thị là toàn bộ nội dung quản lý của QLNN về trật tự đô
thị.
Thứ ba, QLNN về trật tự đô thị là hoạt động của con người, liên quan đến
nhiều lĩnh vực của đời sống, tác động trực tiếp đến nhu cầu sinh hoạt của con người,
các hoạt động này có những tính chất phức tạp theo sự phát triển chung của xã hội.
Do vậy, QLNN về trật tự đô thị đòi hỏi phải được thực hiện khoa học, nhanh chóng


lệ thuận.

13


Hai là, nhà nước quyết định sự đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Hoạt động trật tự đô thị diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, liên quan đến mọi tầng lớp
dân cư, mọi chủ thể trong xã hội. trật tự đô thị được bảo đảm, tức tài sản, tính mạng,
mọi lợi ích chính đáng khác người dân được đảm bảo, người dân có cuộc sống yên
lành, ổn định, nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế... được thuận lợi là điều kiện góp
phần để đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Trật tự an toàn xã hội được quan niệm là trạng thái của các quan hệ xã hội
được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật của nhà nước, quy
phạm chính trị, quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng
của một dân tộc, một nhà nước, là tình trạng xã hội ổn định, ở đó mọi công dân
sống và lao động có tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được bảo đảm,
không bị xâm hại.
Như vậy, trật tự đô thị là một bộ phận không thể tách rời, có quan hệ khăng
khít với trật tự an toàn xã hội; trật tự đô thị được đảm bảo thì mới góp phần đảm
bảo trật tự an toàn xã hội. trật tự an toàn xã hội được đảm bảo vững chắc sẽ là cơ sở,
là điều kiện để giữ vững trật tự đô thị, củng cố phát huy tính pháp chế XHCN trong
QLNN về trật tự đô thị.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về trật tự đô thị
QLNN về trật tự đô thị là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan
nhà nước, cá nhân có thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ
trật tự đô thị. Để QLNN về trật tự đô thị có hiệu quả, các cơ quan hành chính nhà
nước theo thẩm quyền phải thực hiện các hoạt động xây dựng và ban hành các văn
bản quản lý về trật tự đô thị; tổ chức thực hiện các văn bản quản lý về trật tự đô thị;
xử lý vi phạm các quy định về trật tự đô thị. Đây là ba khâu quan trọng của quy
trình QLNN về trật tự đô thị. QLNN về trật tự đô thị sẽ không đạt được mục tiêu

hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Xây dựng năm 2003, Luật Đất đai năm
2003, Luật Nhà ở năm 2006, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Luật Cư trú năm
2006, Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Luật Phòng cháy, chữa cháy năm 2001
và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành và xử lý vi phạm hành chính của
Chính phủ, các Bộ, Ngành có liên quan trong thực hiện các luật trên... Các cơ quan
này được trao những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể trong thực hiện
những nội dung của QLNN về trật tự đô thị.

15


Chính phủ là cơ quan thống nhất QLNN về trật tự đô thị, có thẩm quyền trình
các dự án luật, pháp lệnh có nội dung liên quan đến QLNN về trật tự đô thị, cũng
như ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành các Luật có liên quan để áp
dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Pháp luật về trật tự đô thị hoàn thiện mới có khả năng tạo lập được cơ sở pháp
lý vững chắc cho toàn bộ sự vận động phát triển của các quan hệ xã hội đô thị. Hệ
thống pháp luật về trật tự đô thị chỉ hoàn thiện khi đáp ứng được đầy đủ bốn tiêu
chí, đó là tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, có kỹ thuật pháp lý cao.
Trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trật tự đô thị, công tác rà soát, hệ
thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan trật tự đô thị
có tầm quan trọng, nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế của pháp luật về trật tự
đô thị, nâng cao chất lượng của pháp luật về trật tự đô thị, tính pháp điển và tạo điều
kiện cho công tác quản lý văn bản, cho việc sử dụng, áp dụng văn bản quy phạm
pháp luật trong lĩnh vực trật tự đô thị đảm bảo phù hợp với thực tế.
Thứ hai, tổ chức thực hiện văn bản quản lý nhà nước về trật tự đô thị.
Thực tế chứng minh, pháp luật được ban hành tự thân nó không thể đi vào đời
sống mà phải thông qua việc tổ chức thực hiện trên thực tế. Tổ chức thực hiện pháp
luật về trật tự đô thị nhằm đưa các quy phạm pháp luật về trật tự đô thị vào điều chỉnh
các quan hệ về lĩnh vực đô thị, được tiến hành trên hai bình diện chủ yếu là triển khai

hợp. Đây là cơ sở để tiến hành giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý.
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong QLNN về trật tự đô thị.
Thanh tra là một chức năng thiết yếu của QLNN, là hoạt động kiểm tra, xem
xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, thường được thực hiện bởi một cơ
quan chuyên trách, theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận
đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý
các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
Từ cách hiểu đó, thanh tra QLNN về trật tự đô thị là một chức năng thiết yếu
của cơ quan chuyên trách thực hiện kiểm tra các đối tượng quản lý trên lĩnh vực
liên quan đến trật tự đô thị nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử
lý vi phạm trong hoạt động chấp hành các quy định pháp luật của nhà nước về trật

17


tự đô thị.
Kiểm tra là một hoạt động thường xuyên. Do tính chất này mà chúng ta không
thể nói là đã có một hệ thống kiểm tra hữu hiệu nếu chỉ có người lãnh đạo tổ chức
và những bộ phận tổ chức chuyên trách tham gia vào hoạt động kiểm tra công việc.
Điều quan trọng là phải thành lập được hệ thống tự kiểm tra và một nề nếp kiểm tra
lẫn nhau trong nội bộ tổ chức và giữa hai nhân tố chủ quan và khánh quan trong tổ
chức hoặc hai nhân tố khác nhau trong cùng một công việc.
Kiểm tra trật tự đô thị là việc xem xét các hành vi, hoạt động chủ thể có chấp
hành đúng các chủ trương, chính sách pháp luật nhà nước trên các lĩnh vực trật tự
đô thị, từ đó xem xét các mức độ vi phạm để kịp thời xử lý theo quy định.
Xử lý vi phạm pháp luật về trật tự đô thị có thể được hiểu là hoạt động của các
chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, quyết định
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính hay hình sự đối với các tổ chức, cá nhân vi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status