BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ VÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ Y TẾ CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Thị Hƣờng
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là một công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn này là xác thực
và có nguồn gốc rõ ràng.
NGUYỄN THỊ VÂN
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Học viện hành chính Quốc gia. Để
Công chức viên chức
CNTT
Công nghệ thông tin
CS&BVSKND
Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
DS & KHHGĐ
Dân số và kế hoạch hóa gia đình
HĐND
Hội đồng nhân dân
NSNN
Ngân sách Nhà nước
TYT
Trạm y tế
UBND
Ủy ban nhân dân
huyện Ba Vì................................................................................................. 70
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn
huyện Ba Vì................................................................................................. 72
Kết luận Chƣơng 3 ........................................................................................ 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 87
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
Bảng 2.1. Số lƣợng văn bản ban hành nhằm triển khai các văn bản của
Sở Y tế để quản lý nhà nƣớc về Y tế qua các năm 2010 -2015. ................ 43
Bảng 2.2. Tổng hợp các Trạm Y tế cấp xã, thị trấn đạt chuẩn y tế quốc
gia qua các giai đoạn. .................................................................................... 47
Bảng 2.3: Đầu tƣ xây dựng cơ bản+ trang thiết bị .................................... 48
Bảng 2.4: Đầu tƣ mua sắm trang thiết bị .................................................... 49
Bảng 2.5 . Mua sắm thuốc, vật tƣ y tế ......................................................... 49
Bảng 2.6. Đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực. (Số tiền hỗ trợ cán bộ tham
dự đào tạo dài hạn, ngắn hạn nâng cao trình độ chuyên môn qua các
năm) ................................................................................................................ 50
Bảng 2.7. Danh sách các xã, Trạm Y tế trên địa bàn huyện Ba Vì. ......... 54
Bảng 2.8. Cơ cấu nhân lực theo chức danh nghề nghiệp tại các trạm Y tế
cấp xã qua các năm từ 2010 -2015 ............................................................... 56
Bảng2.9. Trình độ cán bộ Y tế phân theo bằng cấp ................................... 57
Bảng 2.10. Số lƣợng cán bộ tham dự các lớp đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ qua các năm 2010 -2015 ....................................... 58
Bảng 2.11: Biên chế năm 2015 theo Thông tƣ liên tịch số: 08/2007/TTLTBYT-BNV. ...................................................................................................... 59
Bảng 2.12. Đặc điểm đào tạo của Bác sĩ tuyến xã (tiến hành nghiên cứu
trên 24 bác sĩ tuyến xã). ................................................................................ 63
Bảng 2.13. Số lƣợng tập thể, cá nhân đƣợc khen thƣởng các cấp qua các
năm 2010 -2015 .............................................................................................. 65
1
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô Hà
Nội. Với tổng diện tích 424km2, dân số hơn 265 nghìn người (bao gồm 3 dân
tộc Kinh, Mường, Dao), toàn huyện có 31 xã, thị trấn, trong đó có 7 xã miền
núi, một xã giữa sông Hồng. Phía đông giáp thị xã Sơn Tây, phía nam giáp
tỉnh Hòa Bình, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc.
Thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc Hội khóa XII, Ba Vì tái nhập Thủ đô Hà
Nội tháng 8 năm 2008. Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang
phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng
đồng bằng ven sông Hồng. Hệ thống y tế địa phương đã có nhiều chuyển biến
tích cực qua các năm nhưng hoạt động các tuyến y tế còn nhiều hạn chế chưa
phát huy hết nội lực sẵn có. Mặt khác là huyện miền núi địa bàn rộng, việc đi
lại gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí địa phương còn thấp, vẫn còn tồn tại
nhiều phong tục tập quán lạc hậu, hiểu biết của người dân về chăm sóc sức
khoẻ vẫn còn hạn chế trong khi diễn biến các dịch, bệnh ngày càng phức tạp
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động y tế nói riêng và hoạt động quản lý nhà
nước về y tế nói chung.
Bất cập trong mô hình quản lý y tế cấp xã hiện nay hiện đang tồn tại
song song hai chủ thể quản lý là Phòng Y tế và Trung tâm y tế dễ dẫn đến
chồng chéo trong quản lý. Không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính nên
công tác tham mưu còn chậm, trùng lắp. Phòng Y tế không trực tiếp quản lý
các trạm y tế xã, thị trấn nên việc triển khai công tác của phòng Y tế rất khó
khăn vì “có tướng nhưng không có quân”, không chỉ đạo được trạm Y tế cũng
như các đơn vị cấp huyện dẫn đến hiệu quả các hoạt động quản lý nhà nước
đối với y tế nói chung và y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì của cơ quan
quản lý nhà nước còn thấp, Phòng Y tế chưa phát huy hết vai trò của mình.
Trong khi đó Trạm Y tế các xã, thị trấn trực tiếp chịu sự quản lý của Trung
quan quản lý nhà nước về y tế, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước của
các cơ quan quản lý với vai trò chủ quản chỉ đạo điều hành của cơ quan nhà
nước các cấp nói riêng chung và quản lý nhà nước về y tế nói riêng hiện nay.
3
Tác giả Phan Văn Tiến cũng đã đóng góp công trình nghiên cứu “Kiện
toàn cơ cấu tổ chức và hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của tổ chức của mạng
lưới y tế cơ sở” luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công, năm 2006. Luận văn
đã hệ thống hóa cấc văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, nhà nước và Chính
phủ liên quan đến việc đổi mới kiện toàn cơ cấu tổ chức và hoàn thiện chức
năng của mạng lưới y tế cơ sở Việt Nam tại chương 1, tại chương 2 tác giả đã
khái quát mô tả thực trạng của mạng lưới y tế cơ sở, phân tích những khó khăn,
bất cấp của mạng lưới y tế cơ sở từ đó đưa ra các giải pháp nhằm kiện toàn cơ
cấu tổ chức của mạng lưới y tế cơ sở được trình bày tại chương 3.
Từ góc độ thu hút nguồn lao động có chất lượng về hoạt động tại tuyến
xã có công trình nghiên cứu “Các giải pháp tăng cường bác sĩ về làm việc tại
tuyến xã” – luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công – Nguyễn Thị Phương
Hạnh, năm 2009.
Xem xét từ khía cạnh nguồn nhân lực có công trình nghiên cứu “Quản
lý nhà nước về chất lượng nguồn nhân lực ngành y tế trên địa bàn thành phố Hà
Nội” luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công – Nguyễn Tuấn Anh, năm 2011.
Ngoài ra từ nội dung xã hội hóa hoạt động y tế có công trình nghiên cứu
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế do thành phố Hà
Nội quản lý” – luận văn thạc sĩ quản lý công – Nguyễn Thị La, năm 2014.
Các đề tài đề cập trên đã nghiên cứu, tìm hiểu quản lý nhà nước về y tế
ở các góc độ, cấp độ khác nhau như góc độ hoàn thiện thể chế, góc độ tổ chức
bộ máy, góc độ quản lý và phát triển nguồn nhân lực...
Ngoài các đề tài đề cập trên còn có rất nhiều đề tài khác mà tác giả với
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương
pháp tổng hợp phân tích; đặc biệt sử dụng phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là kết quả nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về y tế, kết
quả quá trình nghiên cứu, đánh giá khoa học về mô hình quản lý y tế trên địa
bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Từ đó thấy được cách thức quản lý nhà
nước đối với y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì nói riêng.
5
Xác định thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với y tế cấp xã trên
địa bàn huyện từ đó đưa ra được các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước đối với y tế cấp xã.
Là tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo trong việc chỉ đạo hoạt động
quản lý nhà nước về y tế cấp xã. Đồng thời luận văn cũng bổ sung tài liệu cho
cán bộ, sinh viên trong công tác nghiên cứu và học tập.
7. Kết cấu của luận văn
Gồm có 03 Chương:
Chương 1: Lý luận chung quản lý nhà nước về y tế .
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên
địa bàn huyện Ba Vì.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, hiệu quả hoạt động
quản lý nhà nước về y tế cấp xã trên địa bàn huyện Ba Vì.
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
Mạng lưới y tế bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ
bản với chi phí thấp nhất góp phần thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm
nghèo, xây dựng nếp sống văn hóa, trật tự an toàn xã hội và tạo niềm tin của
nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa.
Y tế cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là y tế cấp xã) là một bộ
phận của y tế cơ sở, là đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có
chất lượng, nhằm thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức
khỏe nhân dân: đầu tư ít, phạm vi bao phủ rộng, hiệu quả lớn. Có khoảng 80%
các loại bệnh tật thông thường có thể điều trị hiệu quả tại tuyến xã.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Y tế cấp xã góp phần quan trọng vào
việc thực hiện thắng lợi các chương trình y tế quốc gia ở cộng đồng, hạn chế
các bệnh truyền nhiễm, ngăn ngừa dịch bệnh, đưa các dịch vụ dân số - kế
hoạch hóa gia đình đến từng gia đình, từng người dân. Đóng góp không nhỏ
trong các thành tựu về chăm sóc sức khỏe nhân dân ở nước ta.
Theo Nghị định số 01/1998/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 03/01/1998
quy định về hệ thống tổ chức Y tế địa phương thì trạm y tế cấp xã, phường,
thị trấn có trách nhiệm giúp Giám đốc Trung tâm Y tế huyện và UBND xã,
phường, thị trần thực hiện các nhiệm vụ được giao về công tác y tế trên địa
bàn. Trạm Y tế cấp xã, phường, thị trấn chịu sự quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn
của Giám đốc Trung tâm Y tế huyện về chuyên môn, nghiệp vụ, kinh phí và
nhân lực y tế; chịu sự quản lý, chỉ đạo của UBND cấp xã trong việc xây dựng
kế hoạch phát triển y tế để trình cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm
tổ chức thực hiện kế hoạch đó sau khi đã được phê duyệt; phối hợp với các
ban ngành, đoàn thể trong xã tham gia vào các hoạt động nhằm chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Theo Nghị định số 117/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/12/2014
quy định về y tế cấp xã, phường, thị, trấn và Thông tư số 33/2015/TT-BYT
8
đình và toàn xã hội, là nhân tố quyết định sự phát triển cường thịnh của mỗi
gia đình và mỗi quốc gia. Sức khỏe còn là quyền cơ bản và quan trọng của
con người. Để con người có thể đạt được mức độ sức khỏe tốt nhất luôn là
mục tiêu xã hội quan trọng của mỗi quốc gia và của toàn thế giới. Và để thực
hiện được mục tiêu quan trọng này không chỉ có hành động đơn thuần của
ngành y tế mà cần có sự tham gia góp sức hành động của nhiều tổ chức chính
trị, kinh tế và xã hội khác. Điều này được thể hiện rõ tại Nghị quyết số 46NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị đã nêu rõ quan điểm “Bảo vệ chăm
sóc và nâng cao sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và
cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và chính quyền, mặt trận tổ
quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành Y tế đóng
vai trò nòng cốt về chuyên môn, kỹ thuật”[3]
1.1.3. Khái niệm về chăm sóc sức khỏe ban đầu
Tuyên bố Alma-Ata đưa ra khái niệm chăm sóc sức khỏe ban đầu là các
chăm sóc sức khỏe thiết yếu dựa trên những phương pháp và những kỹ thuật
vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn và được xã hội chấp nhận. Những
phương pháp và kỹ thuật này có mức chi phí thích hợp mà công đồng, quốc
gia có thể chấp nhận được và được mọi cá nhân, mọi gia đình trong cộng
đồng sử dụng một các rộng rãi thông qua việc tham gia đầy đủ với tinh thần
tự lực và quyết định của mỗi cá nhân, gia đình trong mỗi giai đoàn phát triển
của họ. Có thể nói chăm sóc sức khỏe ban đầu chính là:
- Những chăm sóc thiết yếu, những chăm sóc cơ bản, đầu tiên cho sức khỏe;
- Những chăm sóc này là những kỹ thuật thực hành có cơ sở khoa học;
- Những chăm sóc có thể tới được mọi người dân, mọi gia đình và tới được
nơi họ đang sinh sống. Đây là mức độ đầu tiên, giai đoạn đầu tiên của quá
trình chăm sóc sức khỏe liên tục cho mọi người.
- Những chăm sóc mà mọi người có thể chấp nhận được và tích cực tham
gia hưởng ứng;
- Kiện toàn mạng lưới y tế (Nội dung bổ sung);
11
1.1.4. Khái niệm quản lý nhà nước về y tế
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế là hoạt động thực thi quyền lực
nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước (Chủ yếu là các cơ quan
thuộc hệ thống hành pháp), mang tính quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp
luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên lĩnh vực y tế (lĩnh
vực phòng bệnh, chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người) nhằm
thỏa mãn những nhu cầu hợp pháp của con người về chăm sóc, bảo vệ sức
khỏe, duy trì sự ổn định, và phát triển của xã hội về sức khỏe con người.
Công tác quản lý nhà nước về y tế nói chung và quản lý nhà nước về y
tế cấp xã nói riêng luôn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm xuất
phát từ tầm quan trọng của ngành y tế và vai trò, vị trí của y tế cấp xã.
Quản lý nhà nước về y tế cấp xã là hoạt động của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền sử dụng các công cụ quản lý tác động lên y tế cấp xã nhằm đạt
được mục tiêu đề ra.
1.2. Vị trí, vai trò của quản lý nhà nƣớc về y tế; quan điểm, định hƣớng
trong quản lý nhà nƣớc về y tế; Phƣơng thức quản lý nhà nƣớc về y tế.
Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về y tế.
Con người vừa là chủ thể của xã hội, vừa là mục tiêu phát triển của xã
hội đồng thời con người cũng là nguồn lực quý nhất quyết định sự phát triển
của mỗi địa phương và của đất nước. Con người là sự kết hợp giữa thể lực và
trí tuệ. Hai yếu tố này gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên bản thân con người.
Song giữa hai yếu tố đó thì thể lực của con người là cơ sở, là điều kiện để
phát huy trí tuệ của họ tạo ra của cải vật chất đưa xã hội phát triển không
ngừng. Hay có thể nói sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của
toàn xã hội vì vậy bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân vừa là
thì yêu cầu đảm bảo sức khỏe tốt cho tất cả mọi người ngày càng được quan
tâm. Mặt khác người dân khỏe mạnh tạo ra một nguồn nhân lực có chất
13
lượng, năng suất lao động cao, giảm các chi phí an sinh xã hội cho nhà nước.
Vì vậy dịch vụ y tế phải được coi là một hàng hóa đặc biệt. Mọi người dân
đều có quyền tiếp cận các dịch vụ tế và được hưởng một mức chăm sóc sức
khỏe tối thiểu như nhau. Mặt khác nhiều loại dịch vụ y tế mang tính công
cộng thuần túy, vì vậy sẽ không có tổ chức hay cá nhân nào có thể đảm nhiệm
việc cung ứng các dịch vụ đó. Chỉ có nhà nước với quyền lực, nguồn lực của
mình mới có thể đảm bảo cho mọi người dân được công bằng trong tiếp cận
các dịch vu y tế, cũng nhưng chỉ có nhà nước mới quan tâm đầy đủ đến lợi ích
của cả cộng đồng.
Hai là, đảm bảo tính hiệu quả của việc cung cấp các dịch vụ y tế: xuất
phát từ nguyên tắc hoạt động của y tế là không phải vì mục tiêu lợi nhuận nên
để đảm bảo các cơ sở y tế không phát triển một cách tự phát thành các đơn vị
kinh doanh chạy theo lợi nhuận, vì vậy phải có sự kiểm soát của nhà nước đối
với các cơ sở y tế.
Mặt khác các dịch vụ y tế là các dịch vụ không có tính so sánh, nhưng
lại có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người vì vậy nhà nước cần đứng
ra đảm bảo chất lượng, hạn chế tối thiểu các rủi ro từ dịch vụ y tế của các cơ
sở y tế bằng những tiêu chuẩn, quy trình thống nhất chặt chặt chẽ giúp cho
người dân an tâm khi tiếp cận các dịch vụ y tế.
Quan điểm và định hướng trong quản lý nhà nước về y tế.
Đổi mới và hoàn thiện hơn nữa hệ thống y tế Việt Nam theo hướng
Công bằng - Hiệu quả - Phát triển, bảo đảm an sinh xã hội.
Trong những năm tới kiên trì, nỗ lực nhằm đạt mục tiêu ngành y tế đề
ra bảo đảm chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngang tầm tiên tiến khu vực (top 3),
miền, nhóm dân cư. Tích cực tăng cường năng lực tuyến y tế cơ sở. Hạn chế,
sớm tiến tới loại trừ các trường hợp chuyển tuyến không cần thiết.
Triển khai mạnh mẽ thực hiện Luật Bảo hiểm y tế tạo thế cân đối bền
vững của quỹ Bảo hiểm y tế. Thực hiện nâng cao chất lượng khám chữa
15
bệnh, làm hài lòng bệnh nhân Bảo hiểm y tế. Tổ chức phong trào thi đua
rộng khắp sớm đạt mục tiêu Bảo hiểm y tế toàn dân tại mỗi đơn vị xã,
huyện, tỉnh. Đưa việc khám chữa bệnh dùng thẻ Bảo hiểm y tế về rộng
khắp các xã, làng, thôn, bản.
Công tác DS - KHHGĐ: Phấn đấu giữ vững thành quả mức sinh thấp,
(dưới mức sinh thay thế). Nhấn mạnh bảo đảm chăm sóc sức khoẻ sinh sản,
tránh thai an toàn, làm mẹ an toàn. Cân bằng giới để từng bước nâng cao chất
lượng dân số. Tăng cường phối kết hợp liên ngành để xử lý tốt những vấn đề
di dân, buôn bán phụ nữ và trẻ em, hôn nhân với người nước ngoài; những
vấn đề hôn nhân gia đình trong nước, dân tộc, tôn giáo,…
Coi trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế, vừa có mũi nhọn chất
lượng cao đáp ứng nhu cầu phổ cập. Phấn đấu vào tốp 500 Đại học quốc tế: đến
2015 có ít nhất 1 Đại học Y - Dược; đến 2020 có ít nhất 2 Đại học Y - Dược.
Bác sĩ làm việc tại xã: năm 2015 phủ được 80%; năm 2020 phủ khắp 100%.
Phát triển công nghiệp dược, sản xuất trang thiết bị Y tế.
Về công nghiệp dược: phấn đấu tổng giá trị sản xuất so với tổng giá trị
thuôc sử dụng: năm 2015 đạt 70 - 75%; năm 2020 đạt 95 - 100%. Có những
thương hiệu mạnh dược phẩm xuất khẩu. Thông qua xuất nhập khẩu, thể hiện
vai trò công nghiệp và kinh doanh dược bảo đảm thoả mãn nhu cầu thiêu thụ
trong nước, (theo các chỉ tiêu tỉ lệ vừa kể trên).
Về sản xuất trang thiết bị y tế: phấn đấu thực hiện các mục tiêu của
Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế, ban hành theo Quyết định của Thủ
hoạt động nhân đạo vì sức khỏe.[24]
Phương thức quản lý nhà nước về y tế
Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về y tế nói riêng phải
tuân thủ các nguyên tắc phải tuân thủ các phương pháp của quản lý hành
chính hà nước. Trong quản lý nhà nước về y tế phải giải quyết các yêu cầu
quan trọng sau :
17
Đảm bảo nguyên tắc tập chung dân chủ trong công tác quản lý nhà
nước về y tế: Quản lý nhà nước về y tế phải có tính tập chung của nhà nước
về các vấn đề trọng yếu nhưng không hạn chế quyền chủ động, sáng tạo, năng
động, linh hoạt của cấp dưới. Nhà nước không can thiệp sâu vào các tác
nghiệp vi mô, tác nghiệp kỹ thuật mà thiết lập các khuôn khổ pháp luật, công
cụ quản lý để thúc đẩy sự vận động, hoạt động nhằm đạt được sự hoàn thiện
và hiệu quả.
Quản lý nhà nước về y tế trên cơ sở các quy định pháp luật, phù hợp
với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa:
Hệ thống pháp luật định hướng và tạo môi trường cho các thành phần được
tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nói chung, chăm sóc sức khỏe
ban dầu nói riêng….
Quản lý nhà nước về y tế phải đảm bảo tính thống nhất trong cả nước
nhưng có sự phân công, phân cấp hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa TW – địa
phương – ngành – lãnh thổ đặc biệt cần chú trọng việc phân chia rõ ràng giữa
quản lý nhà nước về y tế theo ngành và quản lý nhà nước về y tế theo lãnh thổ
để đảm bảo không bỏ sót, không chồng chéo, đồng thời cần tạo điều kiện
tham gia của các tổ chức liên quan.
Bộ máy quản lý nhà nước về y tế nói chung và y tế cấp xã nói riêng
phải được tổ chức gọn, nhẹ nhưng phải hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.
Hiện nay, hệ thống pháp luật về y tế tương đối đầy đủ gồm 1137 văn
bản quy phạm pháp luật trực tiếp và gián tiếp điều chỉnh các hoạt động y tế
như: Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Dược năm 2005, Luật
Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở
người (HIV/AIDS) năm 2006, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người
và hiến, lấy xác năm 2006, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007,
Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Luật
An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm
19