VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU TIẾN
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP
CÔNG DÂN VÀ XỬ LÝ ĐƠN THƢ KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, Năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU TIẾN
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP
CÔNG DÂN VÀ XỬ LÝ ĐƠN THƢ KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành
: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
1.3. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp
công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các cơ
quan hành chính ở địa phương ........................................................................ 22
1.4. Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các cơ quan hành chính ở địa
phương ............................................................................................................. 25
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công
dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các cơ quan
hành chính ở địa phương ................................................................................. 42
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TIẾP CÔNG DÂN VÀ XỬ LÝ ĐƠN THƢ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN
NGHỊ, PHẢN ÁNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.................................. 47
2.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng có liên
quan đến việc tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh ............................................................. 47
2.2. Tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại thành phố Đà Nẵng ....................... 48
2.3. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong việc tổ chức thực hiện pháp luật
về tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh...... 53
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TỔ
CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN VÀ XỬ LÝ
ĐƠN THƢ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ..................................................... 65
3.1. Nhu cầu nâng cao tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý
đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
......................................................................................................................... 65
3.2. Phương hướng nâng cao tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và
xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh từ thực tiễn thành phố Đà
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để tăng cường sự gắn bó giữa người dân đối với Đảng và Nhà nước, cần
phải thực hiện tốt việc tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo, kiến nghị,
phản ánh của người dân. Đây là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong hệ
thống quản lý Nhà nước và điều hành xã hội. Làm tốt các công tác này sẽ góp
phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế phát
triển, làm củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Hoạt động tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, thời gian qua Nhà nước ta
đã ban hành nhiều văn bản để điều chỉnh các lĩnh vực này, cụ thể: Luật khiếu
nại, Luật Tố cáo đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 11/11/2011 có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2012; Luật Tiếp công dân đã được Quốc hội
khóa XIII thông qua ngày 25/11/2013 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2014. Đây
là những văn bản pháp lý quan trọng, đảm bảo thực hiện quyền khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân được Hiến pháp ghi nhận. Thể chế hóa
các quy định của luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thanh tra
Chính phủ trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình cũng đã ban hành các
văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đưa luật vào cuộc sống.
Việc tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh luôn được Thủ trưởng các cấp, các ngành
thành phố Đà Nẵng quan tâm. Việc tổ chức tiếp công dân được phối hợp với
quy trình cải cách thủ tục hành chính nên ngày càng đi vào nề nếp và hiệu
quả. Các Trụ sở tiếp công dân, phòng tiếp công dân đều được bố trí cán bộ có
năng lực, am hiểu chính sách pháp luật làm công tác tiếp công dân. Ngoài
1
pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp và
Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu về pháp luật tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh, cụ thể:
Cuốn sách Quy trình tiếp công dân và xử lý đơn thư của Tạp chí Thanh
tra, Thanh tra Chính phủ, Nxb Thanh niên, 2013. Cuốn sách đã nêu bật được
những vấn đề chung của công tác tiếp công dân và những quy định của pháp
luật hiện nay về công tác này;
Tài liệu Nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của Viện
Khoa học Thanh tra và Trường Cán bộ Thanh tra, Tài liệu phục vụ bồi dưỡng
nghiệp vụ thanh tra, Hà Nội 2005;
Cuốn sách Tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong tình hình mới, Thanh tra Chính phủ, Nxb Hà Nội, 2006. Cuốn sách trình
bày một số vấn đề đặt ra đối với công tác tiếp dân, xử lý đơn thư và giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong tình hình mới; kinh nghiệm thực tiễn của các ngành, các
địa phương trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo;
Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tiếp công dân và giải quyết
khiếu nại, tố cáo của Ts. Bùi Mạnh Cường và Ts. Nguyễn Thị Tố Uyên sưu tầm
và tuyển chọn, Nxb Chính trị quốc gia, 2013. Đây là cuốn sách bao gồm các bài
viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh được sắp xếp theo trình tự thời
gian về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo;
Đề tài khoa học cấp Bộ của Thạc sỹ Bùi Mạnh Cường, 2013, Ứng dụng
công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp công dân. Đề tài nêu rõ thực trạng về
tiếp công dân và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp công dân
3
đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và trực tiếp đến các vấn đề
này từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. Các đề tài, bài viết, tham luận mới chỉ đề
cập đến những vấn đề riêng hoặc ở một số khía cạnh nhất định đến pháp luật về
tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo cùng bất cập, khó khăn trong
quá trình thực hiện của các cơ quan, đơn vị.
Vì vậy, vấn đề “Tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý
đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh từ thực tiễn thành phố Đà
Nẵng” là vấn đề cần được nghiên cứu. Đây là đề tài có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động này, bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học về tiếp công dân và xử lý
đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại thành phố Đà Nẵng, đưa ra
các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tiếp công dân và xử lý
đơn thư , đồng thời nâng cao hiệu quả của các hoạt động này trong giai đoạn
hiện nay. Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và
xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; kết quả hoạt động, điều
kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị ảnh hưởng đến các hoạt động này; ưu
điểm, khó khăn, hạn chế và tìm nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế;
quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý
đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức
thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh.
5
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn là một sự bổ sung cho các công trình
nghiên cứu về pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và
xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các cơ quan hành
chính.
Luận văn làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của hoạt động tiếp
công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, từ đó đánh
giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn tổ chức thực hiện
pháp luật về các hoạt động này tại thành phố Đà Nẵng; làm rõ những kết quả đạt
được, ưu điểm, những hạn chế cần khắc phục trong quá trình tổ chức thực hiện
những quy định của pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh. Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lý
đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Trong đó, tập trung vào giải
pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thực hiện các hoạt động này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Với những nội dung đạt được, kết quả nghiên cứu
của luận văn sẽ là cơ sở, là tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu trong việc
tiếp tục hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả về công tác tiếp công
dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức thực hiện pháp
luật về tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
7
chức, cá nhân chịu sự quản lý - đối tượng của quản lý Nhà nước. Trong một
xã hội dân chủ, Nhà nước không chỉ ban hành quy định buộc các đối tượng
quản lý phải tuân theo mà trong quá trình quản lý Nhà nước cũng luôn cần sự
đóng góp ý kiến từ phía tổ chức, người dân để khắc phục những hạn chế, hoàn
thiện về cơ cấu tổ chức cũng như chính sách, pháp luật. Việc quản lý đạt hiệu
quả hay không được đánh giá vào mức độ đồng thuận giữa Nhà nước và nhân
9
dân, do đó, việc tiếp xúc giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với các cơ quan,
tổ chức, cá nhân là yêu cầu khách quan.
Nhà nước thực hiện việc tiếp nhận những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh từ phía nhân dân về những quyết định, hành vi của cơ quan Nhà
nước, của cán bộ, công chức Nhà nước, đó là một sự phản ứng tự nhiên của
con người khi quyết định, hành vi quản lý của Nhà nước đã được ban hành
hoặc thực hiện mà người dân thấy rằng nó không phù hợp, hoặc không đúng,
xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của xã hội. Nhà nước
có trách nhiệm tổ chức gặp gỡ, tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh của công dân. Đây chính là hoạt động tiếp công dân của
cơ quan Nhà nước, đặc biệt là cơ quan hành chính Nhà nước.
Hoạt động tiếp công dân là một trong những hoạt động thường xuyên
của các cơ quan Nhà nước. Thông qua việc tiếp công dân, Nhà nước kịp thời
tiếp nhận và xử lý những vấn đề phát sinh trong quản lý Nhà nước, lắng nghe
được những ý kiến của dân, nhận được những thông tin kịp thời phản ánh về
quá trình thực hiện pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó Nhà nước có thể
điều chỉnh sửa đổi, bổ sung kịp thời các chính sách, pháp luật cho phù hợp
với thực tế phát triển vận động của xã hội.
Trước khi có Luật Tiếp công dân năm 2013, các văn bản pháp luật của
nước ta chưa có văn bản nào quy định thế nào là “tiếp công dân” mà chỉ có
công dân năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014) quy định về khái
niệm tiếp công dân tại khoản 1 Điều 2 như sau: “Tiếp công dân là việc cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này tiếp đón để
lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải
thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh theo đúng quy định của pháp luật”[21].
1.1.2. Đặc điểm của tiếp công dân
Là một hoạt động trong thực hiện chức năng quản lý Nhà nước nhằm
11
đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc
thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp
luật, hoạt động tiếp công dân có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, tiếp công dân là hoạt động được thực hiện bởi chủ thể mang
quyền lực Nhà nước, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Chủ thể mang
quyền lực Nhà nước ở đây cụ thể đó là các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có
thẩm quyền trong việc tiếp nhận những thông tin từ công dân để lắng nghe, giải
quyết các yêu cầu của công dân, việc giải quyết phải theo một quy trình cụ thể
do luật định. Đặc điểm này nhằm xác định trách nhiệm của Nhà nước, cụ thể là
trách nhiệm của người có thẩm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ tiếp công
dân, đồng thời cũng nhằm hạn chế sự né tránh, đùn đẩy hay lạm quyền, tùy tiện
trong công tác tiếp dân.
Thứ hai, tiếp công dân là hoạt động có mục đích thể hiện bản chất của Nhà
nước pháp quyền. Nhà nước thực hiện việc tiếp công dân nhằm phát huy dân
chủ và đảm bảo quyền công dân được thực hiện trên thực tế đó là các quyền
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đồng thời chính từ hoạt động đó Nhà nước
tiếp nhận và thấy được hiệu quả của việc quản lý, là kênh thông tin quan trọng
để Nhà nước kiểm tra, giám sát bộ máy quản lý, phát hiện và báo động về
Tại Khoản 1, Điều 4 Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014
của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo,
đơn kiến nghị, phản ánh (sau đây gọi là Thông tư số: 07/2014/TT-TTCP), quy
định: “Đơn là văn bản có nội dung được trình bày dưới một hình thức theo
quy định của pháp luật, gửi đến cơ quan Nhà nước, tổ chức, đơn vị, người có
thẩm quyền để khiếu nại hoặc tố cáo hoặc kiến nghị, phản ánh” [29].
Như vậy, từ khái niệm này chúng ta có thể phân biệt các loại đơn liên
quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và phản ánh như sau:
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do Luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
13
quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
Nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng
quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình [20].
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật quy định báo cho cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ
cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức [19].
Như vậy, trước hết sự phân biệt giữa đơn có nội dung khiếu nại và đơn
có nội dung tố cáo được thể hiện ở bản chất, đó là đơn có nội dung khiếu nại
nhằm hướng tới lợi ích, đòi lại lợi ích mà chủ thể khiếu nại cho là họ đã bị
xâm phạm; còn mục đích của đơn có nội dung tố cáo là hướng tới việc xử lý
hành vi vi phạm và người có hành vi vi phạm. Bản chất này chi phối toàn bộ
các quy định của pháp luật và thái độ đối với hai loại này.
Về chủ thể: Nếu như khiếu nại chỉ cho phép công dân, cơ quan, tổ chức
đơn là việc cơ quan Nhà nước, tổ chức người có thẩm quyền khi nhận được
đơn của cá nhân, cơ quan, tổ chức phải căn cứ và đối chiếu với quy định của
pháp luật để thụ lý giải quyết nếu thuộc thẩm quyền của mình hoặc hướng
dẫn công dân hoặc chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm
quyền giải quyết theo quy định của pháp luật” [29].
Từ khái niệm trên có thể được hiểu rằng xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh là việc cơ quan Nhà nước, tổ chức có thẩm quyền khi
nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cá nhân, cơ
quan, tổ chức phải tổ chức phân loại đơn (xác định đơn khiếu nại, đơn tố cáo
hay đơn kiến nghị, phản ánh) và đối chiếu với các quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo cùng các quy định liên quan để thụ lý giải quyết nếu thuộc
15
thẩm quyền của đơn vị mình hoặc hướng dẫn công dân hoặc chuyển đơn đến
cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của
pháp luật.
1.2. Khái quát về lịch sử pháp luật về tiếp công dân và xử lý đơn thƣ
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh ở nƣớc ta
1.2.1. Pháp luật về tiếp công dân
Từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945 cho
đến nay quan điểm của Đảng, Nhà nước ta luôn luôn coi trọng công tác tiếp
dân coi việc này là một hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản
lý Nhà nước, quản lý xã hội là hình thức để nhân dân tham gia giám sát hoạt
động của cơ quan Nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức xã
hội và của công dân.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác này, trong những năm
qua, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản về công tác tiếp công dân như:
Nghị định số 89/CP ngày 07/8/1997 ban hành kèm theo Quy chế tổ chức tiếp
khiếu nại, tố cáo, ngày 10/01/2008, Bộ Chính trị có Thông báo kết luận số
130-TB/TW về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006
đến nay và giải pháp trong thời gian tới. Tiếp theo đó, Ban Bí thư Trung ương
có Thông báo số 307-TB/TW ngày 10/2/2010 về Đề án đổi mới công tác tiếp
công dân, trong đó chỉ rõ: trách nhiệm của các cấp ủy Đảng phải tăng cường
lãnh đạo, chỉ đạo đối với các cấp chính quyền, đoàn thể trong công tác tiếp
công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xác định rõ trách nhiệm của Thủ
trưởng các cơ quan Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tổ
chức công tác tiếp công dân và trực tiếp tiếp công dân; phát huy vai trò của
Mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhân dân, tăng cường công tác của Quốc hội,
Hội đồng nhân dân trong việc giám sát công tác tiếp công dân; đồng thời “Tập
trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo; đẩy nhanh
việc đánh giá, rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật liên quan trực tiếp đến công
17
tác tiếp công dân, trong đó có Nghị định 89/CP ngày 07/8/1997 của Chính
phủ ban hành kèm theo Quy chế tổ chức tiếp công dân và pháp luật khiếu nại,
tố cáo có liên quan”. Vì vậy, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cần đổi
mới một cách toàn diện và triệt để công tác tiếp công dân.
Từ những lý do nêu trên, Luật Tiếp công dân đã ra đời và được Quốc hội
khóa XIII thông qua ngày 25/11/2013 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2014. Thể
chế hóa các quy định của luật Chính phủ, Thanh tra Chính phủ trong phạm vi
chức năng nhiệm vụ của mình đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành
nhằm đưa luật vào cuộc sống, cụ thể là Nghị định 64/2014/NĐ-CP ngày
26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp
công dân và Thông tư 06/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra
Chính phủ quy định quy trình tiếp công dân.
Song song với việc ban hành các văn bản pháp quy về công tác này Nhà
mới của Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hiến pháp đã dành riêng một điều quy
định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và trách nhiệm của cơ quan Nhà
nước phải xem xét giải quyết kịp thời, nhanh chóng các khiếu nại, tố cáo, bảo
vệ quyền lợi cho người dân. Tiếp đó, Chính phủ đã có nhiều văn bản nhằm cụ
thể hoá Hiến pháp, bảo đảm cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại, tố
cáo mà Hiến pháp đã ghi nhận, đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ
quan Nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của
công dân, như: Nghị quyết số 164/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính
phủ về việc tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan
Thanh tra của Nhà nước; Nghị định số 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng
Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Thanh tra của Chính
phủ; Thông tư số 60/UBTT ngày 22/5/1971 của Uỷ ban Thanh tra của Chính
phủ hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Những quy định trên của Chính phủ đã tạo
điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong việc tham gia
19