1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ……………………
TIỂU LUẬN
Công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo
tại Ban Dân tộc tỉnh Quảng nam – thực trạng và giải pháp
Đề tài được trình bày với các nội dung:
Phần I: Một số vấn đề lý luận chung.
Phần II: Thực trạng công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu
nại, tố cáo tại Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam.
Phần III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiếp công
dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo tại Ban Dân tộc.
3
Phần IV: Kết luận và kiến nghị.
Với mục đích tham gia một số giải pháp cho công tác tiếp công dân và
xử lý đơn thư KN, TC trong giai đoạn hiện nay. Nhưng do thời gian và trình
độ có hạn, nên những vấn đề mà nội dung nghiên cứu đề cập chắc sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô
để nội dung đề tài ngày càng hoàn thiện và áp dụng có hiệu quả trong thực
tiễn.
4
Phần thứ hai
Một số vấn đề lý luận chung
Quyền khiếu nại, tố cáo (KN, TC) là một trong những quyền cơ bản
của công dân, được sử dụng không hạn chế ở bất cứ lĩnh vực nào. Điều này đã
được ghi nhận một cách rõ ràng tại Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992. Đã được Luật KN, TC năm 1998 và mới đây là
Luật bổ xung, sửa đổi một số điều của Luật KN, TC năm 2004 cụ thể hoá
quyền KN, TC của công dân thành những chế định được thực thi trên thực tế.
Xét theo trình tự tổng quát, một vụ việc KN, TC được giải quyết theo
dân. Xét theo nghĩa hẹp của công tác giải quyết KN, TC việc tiếp công dân
góp phần tháo gỡ bước đầu băn khoăn, vướng mắc của công dân và định
hướng cách giải quyết các bước tiếp theo của công tác giải quyết KN, TC và
trên thực tế, nhiều vụ việc tưởng như gay gắt, phức tạp đã được giải quyết ổn
thoả ngay từ khâu tiếp công dân.
Bước tiếp theo của công tác tiếp công dân là xử lý đơn thư KN, TC.
Đây là trình tự tất yếu trong quá trình giải quyết KN, TC và cũng có ý nghĩa
quan trọng của bước xử lý ban đầu.
Xử lý đơn thư KN, TC là việc tiến hành xem xét, phân loại, sắp xếp
đơn thư đã nhận được để thụ lý giải quyết, chuyển cho cơ quan có thẩm quyền
giải quyết hoặc trả lời cho người KN, TC theo quy định của pháp luật.
Trong thực tế, đơn thư KN, TC của công dân đến với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền, có nội dung hết sức đa dạng, phong phú, thậm chí phức
tạp; thường xuyên xảy ra các trường hợp đơn thư không đảm bảo tính pháp lý,
không đúng thẩm quyền, không thuộc diện đơn thư KN, TC, nặc danh, mạo
danh… mà khi tiếp nhận, các cơ quan Nhà nước đã thực hiện ngay công việc
đầu tiên là xem xét, phân loại, định hướng giải quyết xử lý với các đơn thư.
6
Xử lý tốt đơn thư KN, TC sẽ giúp cho cơ quan Nhà nước có cơ sở để
nâng cao chất lượng công tác giải quyết KN, TC đáp ứng yêu cầu, nguyện
vọng của của nhân dân; quyền lợi hợp pháp của công dân được bảo vệ, khôi
phục, xử lý các hành vi sai trái, công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực
được uốn nắn kịp thời.
Do tính chất quan trọng như trên, việc xử lý đơn thư KN, TC cũng phải
tuân thủ chặt chẽ theo trình tự nhất định, từ khâu tiếp nhận, phân loại, xác
định nội dung đơn thư, xử lý đơn thư có nội dung khẩn cấp, xử lý đơn thư
không thuộc thẩm quyền, xử lý đơn thư thuộc thẩm quyền tới việc quản lý,
lưu trữ, khai thác hồ sơ đơn thư… đều phải tuân thủ đúng các bước tiến hành,
Quảng Nam có 17 đơn vị hành chính: gồm 2 thị xã là Tam Kỳ, Hội An
và 15 huyện. Trong đó có 6 huyện vùng cao và 2 huyện miền núi. Dân số toàn
tỉnh khoảng 1,48 triệu người, trong đó đồng bào các dân tộc ít người trên 10
vạn người, chiếm 14,50% dân số toàn tỉnh. Ngoài dân tộc Kinh còn có các
dân tộc ít người khác như: Cơ tu, Xơ đăng, Gié -Triêng, Mơ nông, Cor, Thái,
Tày, Nùng…
Tỉnh Quảng Nam nằm giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quãng Ngãi, có
bờ biển dài 125 km, có biên giới với nước bạn Lào dài 76 km, có hải đảo là
Cù Lao Chàm; ngoài ra Quảng Nam còn có sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà, cửa
khẩu Đắc ốc, khu kinh tế mở Chu Lai, khu công nghiệp Điện Nam - Điện
Ngọc và 2 di sản văn hoá là Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn.
Ban dân tộc tỉnh Quảng Nam là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh,
thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công tác dân tộc và miền núi trên địa
bàn tỉnh.
Trong những năm qua, Ban dân tộc tỉnh Quảng Nam đã tham mưu cho
UBND tỉnh triển khai thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước trên địa bàn tỉnh. Ngoài nhiệm vụ trọng tâm là tham mưu
cho tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo trong việc phát triển kinh tế, xã hội trong cộng
đồng các dân tộc ít người; Ban Dân tộc còn tham mưu cho Tỉnh Uỷ, UBND
tỉnh chỉ đạo thực hiện các chương trình, chính sách đối với đồng bào các dân
8
tộc như: Chương trình 135, chương trình 134, chương trình hỗ trợ dân tộc đặc
biệt khó khăn, chính sách trợ giá trợ cước, hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà Gươl,
và các dự án như: Đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ xã đặc biệt khó khăn,
tổ chức dạy tiếng dân tộc Cơ tu cho cán bộ là người Kinh v.v…
Xuất phát từ đặc điểm của một tỉnh rộng, dân số đông, địa hình miền
núi phức tạp, đa dân tộc sống đang xen, mặt bằng dân trí không đều nhất là
đồng bào các dân tộc có trình độ văn hoá thấp. Đội ngũ cán bộ là người dân
các dân tộc đồng tình và ghi nhận.
Công tác tiếp công dân theo định kỳ tại Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam
được Lãnh đạo Ban giao thanh tra Ban trực tiếp nhận hồ sơ ban đầu, nghiên
cứu đề xuất trình cho đồng chí Trưởng Ban Dân tộc xử lý.
Thông qua công tác tiếp công dân tại Ban Dân tộc thấy nổi lên những
bất cập hạn chế như sau:
- Thứ nhất, đối với cán bộ được phân công phụ trách theo dõi công tác
tiếp công dân: Do năng lực hạn chế, chưa được trang bị nghiệp vụ chuyên
môn nên xử lý thiếu chính xác, còn bỏ qua những tình tiết quan trọng cần khai
thác. Bên cạnh đó tinh thần trách nhiệm và thái độ ứng xử của cán bộ tiếp
công dân đôi lúc chưa tốt. Vì thế đã làm cho dân đôi lúc bất bình, phản ứng
hoặc to tiếng gây ảnh hưởng không tốt đối với chính sách dân tộc của Đảng
và Nhà nước ta.
- Thứ hai, việc phân công cán bộ tiếp công dân chưa ổn định:
Do biên chế bộ máy của Ban Dân tộc Quảng Nam chỉ có 12 người,
trong quá trình điều hành chỉ đạo công việc ở Ban, phải thực hiện những
nhiệm vụ đột xuất do UBND tỉnh giao, mà biên chế ít nên lãnh đạo Ban phải
cử người tiếp công dân thay. Do đó chất lượng và hiệu quả công tác tiếp công
dân chưa cao, lúng túng trong giao tiếp và bị động khi trả lời những thắc mắc
của đồng bào.
10
- Thứ ba, việc tiếp công dân của thủ trưởng cơ quan chưa tạo thành nề
nếp, còn xem nhẹ. Phần lớn giao khoán cho Thanh tra Ban tổ chức thực hiện,
thiếu sự quan tâm đúng mức.
11
III. Công tác xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Trung bình hàng năm, Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam đã tiếp nhận
khoảng 40 – 50 đơn thư, trong đó nội dung đơn thư KN, TC chủ yếu về các
thường xuyên và trực tiếp tiếp xúc với đồng bào các dân tộc để hạn chế đơn
thư vượt cấp.
Giải quyết tốt những bất cập, tồn tại nên trên vừa để tăng cường hiệu
quả công tác giải quyết KN, TC; đồng thời cũng là thực hiện nhiệm vụ cải
cách hành chính Nhà nước theo chỉ đạo của Chính phủ.
13
Phần thứ ba
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư
KN, TC
tại Ban Dân tộc Quảng Nam
I. Đối với công tác tiếp công dân.
Tổ chức tiếp công dân là nghĩa vụ của mọi ngành, mọi cấp có chức
năng quản hành chính Nhà nước, các lực lượng vũ trang, các tổ chức KT –
XH, các đoàn thể và các tổ chức chính trị trong xã hội.
Làm tốt công tác tiếp dân không chỉ là vấn đề nhận thức và quan điểm
đúng đắn mà còn là khâu khởi đầu quan trọng có tính quyết định lập lại trật tự
của công tác giải quyết KN, TC, khắc phục sự chồng chéo và nâng cao hiệu
quả, hiệu lực của việc giải quyết KN, TC.
Để làm tốt công tác tiếp công dân tại Ban Dân tộc, cần tập trung vào
các nội dung sau:
- Một là, cần thống nhất phân công một cán bộ chuyên trách giúp Lãnh
đạo Ban theo dõi trực tiếp công dân và có nghiệp vụ chuyên môn về công tác
giải quyết KN, TC.
Thông thường, trong mỗi kỳ tiếp công dân, số công dân đến phản ánh hoặc
gởi đơn thư có nội dung mới, nhưng cũng có nhiều công dân đến hỏi nội dung tiến
độ giải quyết vụ việc cũ theo giấy hẹn để tránh phiền hà cho nhân dân.
- Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân. Do việc
- Hai là, cần có chính sách và chế độ trợ cấp thích hợp để động viên
đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư KN, TC ở các cấp
các ngành để họ có điều kiện thực thi tốt nhiệm vụ được giao.
- Ba là, đối với địa phương có nhiều thành phần dân tộc, đòi hỏi người
cán bộ làm công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư KN, TC cần nắm bắt về
tâm lý, phong tục tập quán của các dân tộc để có sự ứng xử phù hợp và có
điều kiện khai thác thu thập thông tin, tạo niềm tin, chỗ dựa vững chắc cho
đồng bào các dân tộc khi có vấn đề cần đến nơi tiếp công dân.
15
16
Phần thứ tư
Kết luận – kiến nghị
Làm tốt công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư KN, TC có ý nghĩa rất
quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước của các cấp các ngành. Do đó, để
thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, các cơ quan Nhà nước phải chú
trọng đúng mức công tác tiếp công dân cũng như xử lý đơn thư và phải coi đó
như là một nhiệm vụ quan trọng của đơn vị.
Qua quá trình nghiên cứu học tập nghiệp vụ công tác thanh tra, bản
thân tôi đã tiếp thu được rất nhiều nội dung mới về nghiệp vụ, đặc biệt là công
tác tiếp công dân và xử lý đơn thư KN, TC.
Tuy nhiên, với đặc điểm là một cơ quan làm công tác dân tộc của một
tỉnh Trung du, công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư KN, TC trong những
năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng so với yêu cầu nhiệm vụ
vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục, chấn chỉnh, đòi hỏi sự nỗ lực của các
cấp, các ngành và đặc biệt là sự chỉ đạo kịp thời, thường xuyên của cấp Uỷ
Đảng, có như vậy công tác tiếp công dân và giải quyết KN, TC mới đạt hiệu