Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀNG CHIẾN

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN
CỦA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀNG CHIẾN

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN
CỦA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số

: 60.38.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH GIAI ĐOẠN 2012-2016
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÒNG NGỪA HIỆN TƯỢNG
TIÊU CỰC NÀY .....................................................................................................62
3.1. Tăng cường nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp
giật tài sản trên địa bàn quận Tân Bình trong phòng ngừa tình hình tội phạm này ..62


3.2. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn
quận Tân Bình và vấn đề dự báo tình hình tội phạm này .........................................63
3.3. Giải quyết nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản và
phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản ................................................................66
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................80
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Mức độ tổng quan của tình hình tội phạm và tình hình tội cướp giật tài
sản
Bảng 2.2. Cơ số tội phạm và cơ số tội cướp giật tài sản
Bảng 2.3. Diễn biến tình hình tội cướp giật tài sản
Bảng 2.4. Cơ cấu về mức độ của tình hình tội cướp giật tài sản phân theo số dân
của 15 đơn vị hành chính cấp phường
Bảng 2.5. Cơ cấu về mức độ của tình hình tội cướp giật tài sản phân theo diện tích
15 đơn vị hành chính cấp phường
Bảng 2.6. Cấp độ nguy hiểm của tình hình các tội cướp giật tài sản xét theo dân số
và diện tích của 15 đơn vị hành chính cấp phường
Bảng 2.7. Cơ cấu xét theo các bước thực hiện hành vi phạm tội
Bảng 2.8. Cơ cấu xét theo phương tiện gây án
Bảng 2.9. Cơ cấu xét theo thời gian gây án

Quận Tân Bình có 2 cửa ngõ giao thông quan trọng của cả nước. Đó là Cụm
cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và quốc lộ 22 về hướng tỉnh Tây Ninh và
Vương quốc Campuchia. Trên địa bàn quận hiện có 15.854 doanh nghiệp, 1.337 chi
nhánh, văn phòng đại diện và gần 30.000 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động.
Nhờ vị trí thuận lợi, lại là một trong những quận trọng điểm của thành phố
Hồ Chí Minh, trong những năm qua, quận Tân Bình không ngừng phát triển về mọi
mặt, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao rõ rệt; công tác
phòng, chống tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng trên địa bàn quận
luôn được Quận ủy và Ủy ban nhân dân quận quan tâm chỉ đạo; các cấp, các ngành,
các cơ quan chức năng thường xuyên triển khai các biện pháp nhằm giữ vững ổn
định chính trị, an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn quận.
Tuy vậy, bên cạnh những yếu tố tích cực và những thành tựu đã đạt được,
quận Tân Bình cũng có những yếu tố tiêu cực, trong đó phải nói đến tình hình tội
phạm. Theo báo cáo thống kê của Tòa án nhân dân quận Tân Bình từ năm 2012 đến
năm 2016 cho thấy có 2.179 vụ án, với 2.978 bị cáo đã được xét xử hình sự sơ

1


thẩm, trong đó tội cướp giật tài sản là 485 vụ án, với 670 bị cáo, tức là tỷ lệ tội cướp
giật tài sản trên địa bàn quận Tân Bình 5 năm qua chiếm tỷ lệ 22,26% về số vụ và
22,50% về số bị cáo. Tỷ lệ này so với phạm vi toàn quốc là quá cao, lại đang diễn ra
theo xu hướng gia tăng.
Như vậy, đấu tranh với tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Tân
Bình là một yêu cầu bức thiết từ thực tiễn xã hội. Yêu cầu này đã được Quận ủy và
Ủy ban nhân dân quận Tân Bình luôn quan tâm và thực hiện bằng chỉ thị, kế hoạch
cụ thể. Quận ủy Tân Bình đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/QU ngày 10/01/2011 và
Ủy ban nhân dân quận Tân Bình cũng đã ban hành kế hoạch số 12/KH-UBND ngày
20/01/2011 để thực hiện chương trình hành động số 04CTr/TU ngày 31/12/2010
của Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh theo chỉ đạo của Trung

thực tiễn, NXB. Công an nhân dân, 2000;
-GS.TS. Đào Trí Úc (chủ biên), Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật tố tụng
hình sự Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia, 1994;
-PGS.TS Phạm Văn Tỉnh, Phòng ngừa tội phạm và chiến lược phòng ngừa
tội phạm, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật (3/2014), tr. 74-84;
-Trịnh Tiến Việt, Khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tội phạm học,
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế-Luật 24 (2008), 185-199.
-PGS.TS Phạm Văn Tỉnh, Phòng ngừa tội phạm và vấn đề bảo vệ quyền con
người – một nghiên cứu liên ngành tội phạm học và nhân quyền học, Thông
tin tội phạm học/Số 7 (29)-2011, tr. 7-14.
-PGS.TS Phạm Văn Tỉnh, Cơ chế hành vi phạm tội - cơ sở để xác định
nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa tội phạm, Tạp chí kiểm sát Số 1 và số
3/1996.
-Th.S Lê Nguyên Thanh, Vấn đề đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm,
Tạp chí khoa học pháp lý số 1(38)/2007, tr. 1-5.
-Trần Minh Tơn, Quan điểm và giải pháp chiến lược phòng, chống tội phạm
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Cộng sản 2014.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập chung làm rõ những vấn đề lý luận
cơ bản về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản bao gồm khái
niệm, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, phân biệt khái niệm nguyên nhân và

3


điều kiện của tội phạm với một số khái niệm khác có liên quan, các đặc điểm
nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, sự tác động qua lại của các yếu tố tiêu cực
trong cơ chế hành vi phạm tội. Đây là những cơ sở lý luận rất quan trọng mà luận
văn sẽ kế thừa làm nền tảng lý luận.
b/ Nhóm các công trình nghiên cứu về các khía cạnh nguyên nhân và điều kiện
của tình hình tội cướp giật tài sản

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp
giật tài sản trên địa bàn quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ các
yếu tố tác động làm phát sinh tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận như
một chỉnh thể, một hiện tượng xã hội tiêu cực. Từ đó, đề tài đưa ra các giải pháp
khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của hiện tượng tiêu cực này, nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trong thời gian
tới trên địa bàn quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội cướp giật tài sản.
Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích làm rõ các yếu tố giữ vai trò là nguyên nhân
và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Tân Bình.
Thứ ba: Dự báo tình hình tội cướp giật tài sản và hoàn thiện hệ thống giải
pháp phòng ngừa tội cướp giật tài sản từ khía cạnh nguyên nhân và điều kiện của
tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Tân Bình.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Xét trong hệ thống tội phạm học, tên đề tài luận văn đã đề cập đến đối tượng
nghiên cứu của đề tài, tức là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật
tài sản trên địa bàn quận Tân Bình. Đó là sự tương tác giữa những hiện tượng,
những yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống ở quận Tân Bình và những đặc điểm
tiêu cực về nhân thân người phạm tội mà trong những hoàn cảnh, tình huống nhất
định đã thực hiện những hành vi tạo thành tình hình tội cướp giật tài sản trên địa
bàn quận Tân Bình

5



Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng vào việc
tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân về nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản, đồng thời có thể vận dụng
trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, là tài liệu tham khảo cho việc hoạch định
chính sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác phòng ngừa tình hình tội
cướp giật tài sản trên địa bàn quận Tân Bình.
7. Cơ cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của luận văn gồm có 3 chương. Cụ thể là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội cướp giật tài sản

6


Chương 2: Thực trạng nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật
tài sản trên địa bàn quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản trên
địa bàn quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh và những vấn đề đặt ra đối với
phòng ngừa hiện tượng tiêu cực này.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ
ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện
của tình hình tội cướp giật tài sản
1.1.1. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài

Vinh gọi là ba khâu cơ bản “Quá trình hình thành tính động cơ của tội phạm, việc
kế hoạch hóa các hoạt động phạm tội và việc trực tiếp thực hiện tội phạm” [33,
tr.114].
Về mặt lý thuyết, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là hai
phạm trù khác nhau, giữ vai trò khác nhau trong việc sinh ra kết quả là tình hình tội
phạm.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực xã hội nói chung và tội phạm học học nói riêng, sự
phân biệt giữa nguyên nhân và điều kiện chỉ mang tính chất tương đối, thực tế đấu
tranh và phòng ngừa tội phạm luôn đòi hỏi phải loại trừ cả hai, tức là phải loại trừ
cả nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm.
Như vậy, có thể hiểu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài
sản hay của hành vi phạm tội cướp giật tài sản chỉ là một và là chính bản thân sự tác
động qua lại giữa các yếu tố tiêu cực của môi trường sống bên ngoài với các yếu tố
tâm – sinh lý tiêu cực bên trong con người mà trong những tình huống, hoàn cảnh
nhất định đã dẫn đến việc thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình
sự qui định là tội cướp giật tài sản.
Trên cơ sở này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của
tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội cướp giật tài sản
Tội phạm học với tư cách là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về tội
phạm và người phạm tội cùng với những nguyên nhân và điều kiện của nó để đề ra
biện pháp đấu tranh và phòng ngừa tội phạm. Do đó, việc nghiên cứu một cách sâu

9


sắc, toàn diện nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản sẽ mang
lại nhiều ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tế.
1.1.2.1. Ý nghĩa lý luận của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của

từng địa bàn, đối với từng loại người nhất định được tiến hành trên cơ sở nghiên
cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản nói chung.
Ba là, nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện tình hình tội cướp giật tài sản sẽ
góp phần cung cấp những thông tin hữu ích cho khoa học quản lý, giáo dục người
phạm tội trở thành người hữu ích cho xã hội.
1.2. Phân loại nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài
sản
Tội cướp giật tài sản phát sinh không phải do một nguyên nhân và điều kiện
gây ra mà là kết quả tác động của hàng loạt các nguyên nhân và điều kiện khác
nhau. Trong tội phạm học, các nhà khoa học có các cách phân loại như sau:
1.2.1. Căn cứ vào phạm vi và mức độ tác động, có thể chia thành
- Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung (Nguyên nhân
và điều kiện của toàn bộ tình hình tội phạm trên địa bàn quận Tân Bình).
Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung thể
hiện mức độ khái quát cao nhất.
Tội cướp giật tài sản là một tội phạm cụ thể trong tổng số các tội phạm xảy ra
trên địa bàn quận Tân Bình nên nó cũng xuất phát từ một số nguyên nhân chung
làm phát sinh tình hình tội phạm trên địa bàn quận Tân Bình.
Những nguyên nhân như: Ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường sống, những tồn
tại, hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước, do hiểu biết pháp luật và ý
thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế, hoạt động đấu tranh phòng
chống tội phạm có lúc, có nơi chưa phát huy hiệu quả... là những nguyên nhân và
điều kiện mà hầu hết các loại tội phạm phát sinh trong xã hội đều phát sinh từ đó.
- Nguyên nhân và điều kiện của loại tội phạm (Nguyên nhân và điều kiện của
nhóm tội, loại tội)
Theo Bộ luật hình sự năm 1999, tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Tân
Bình thuộc nhóm tội xâm phạm sở hửu. Do đó, nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội cướp giật tài sản cũng xuất phát từ nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội
xâm phạm sở hữu. Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp các nguyên nhân và


1.2.3. Theo bản chất, các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
phạm có thể chia thành

12


- Nguyên nhân và điều kiện chủ quan: là những nguyên nhân và điều kiện
xuất phát từ những hạn chế, yếu kém trong hoạt động phòng, chống tội phạm (hạn
chế trong quy định của pháp luật, hạn chế trong hoạt động của các chủ thể phòng,
chống tội phạm).
- Nguyên nhân và điều kiện khách quan: là những nguyên nhân và điều kiện
tồn tại trong xã hội không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước và cũng không phải do
Nhà nước gây ra (ảnh hưởng của khí hậu, thiên tai, ảnh hưởng của địa lý, dân cư,
ảnh hưởng của di hại chế độ cũ).
1.2.4. Phân loại nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài
sản trên cơ sở của cơ chế tác động
Như đã trình bày ở trên, có nhiều cách để phân loại nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội cướp giật tài sản nhưng mô hình phân loại trên cơ sở của cơ
chế tác động sở dĩ sẽ được trình bày chi tiết sau đây là vì nó được chọn làm cơ sở lý
luận cho việc nghiên cứu thực tế ở chương sau.
Nghiên cứu các công trình đã công bố về cơ chế hành vi phạm tội [15, 21,
33] cho phép chúng ta rút ra những kết luận sau:
- Một là, cơ chế hành vi có hai quá trình: Quá trình một là quá trình tương tác
nhập tâm. Quá trình hai là quá trình tương tác xuất tâm. Hai quá trình này phụ thuộc
lẫn nhau, phản ánh lẫn nhau;
- Hai là, quá trình tương tác nhập tâm là quá trình con người chuyển từ phía
môi trường sống vào bản thân mình những quy luật bản chất của thế giới để tạo
thành tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh thế giới. Quá
trình tương tác nhập tâm diễn ra trong đẩu óc con người, kéo dài từ khi sinh ra cho
đến khí có động cơ tư tưởng (động cơ hóa hành vi) và được bộc lộ ra bên ngoài

người trở thành người tốt hay trở thành tội phạm có nguyên nhân từ gia đình. Con
người sinh ra không bẩm sinh là người có xu hướng phạm tội mà yếu tố dẫn đến
việc phạm tội của con người khởi nguồn là sự thiếu sót trong quá trình phát triển
nhân cách, mà sự thiếu sót này chủ yếu do gia đình gây ra. Như vậy để phòng ngừa
cũng như đấu tranh chống tội phạm cướp giật tài sản, gia đình có vai trò rất quan
trọng.
Thứ nhất, do thiếu sự quan tâm, giáo dục của gia đình. Nhiều bậc cha mẹ và
những người thân trong gia đình thiếu sự quan tâm cho nhau chỉ biết kiếm tiền lo

14


cho gia đình mà quên mất việc dành thời gian để giáo dục, quan tâm và tìm hiểu
tâm tư nguyện vọng của con em mình. Từ đó đã không kịp thời uốn nắn được hành
vi sai trái của con em, vô tình làm cho con em mình cảm thấy buồn chán, chây lười
học tập, chỉ thích tụ tập bạn bè chơi bời, quậy phá, mất định hướng trong cuộc sống,
sớm nhiễm những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội và bước vào con đường phạm tội.
Thứ hai, do ảnh hưởng bởi các thói hư tật xấu của những người trong gia
đình. Người phạm tội cướp giật tài sản chịu ảnh hưởng nhiều của những hành vi
xấu, đặc biệt là những hành vi sử dụng bạo lực, xem trọng giá trị vật chất, không
gương mẫu về đạo đức, vi phạm pháp luật. Các hành vi tiêu cực này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách của con người.
Thứ ba, do không định hướng đúng đắn về việc làm hoặc không tạo điều
kiện tốt để con em có việc làm ổn định. Nếu như con em trong gia đình bỏ học hoặc
gia đình không có điều kiện cho học tiếp thì gia đình nên cho đi học nghề hoặc tạo
việc làm ổn định thì sẽ ít có cơ hội để tụ tập bạn bè và tham gia vào các cuộc nhậu
nhẹt, ăn chơi...từ đó sẽ dẫn tới hành vi phạm tội, trong đó có tội cướp giật tài sản.
+ Những yếu tố tiêu cực thuộc môi trường nhà trường
Nhà trường không chỉ là nơi đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao
kiến thức tự nhiên và xã hội mà còn trau dồi hệ thống các quan điểm, nhân sinh

nhiệm đối với vấn đề tội phạm trong xã hội. Nhưng điều đó không có nghĩa là, sự
xuất hiện tội phạm trong xã hội nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng, đều là
do Nhà nước. Vì thế phải đánh giá cho công bằng, tức là phải có cái khách quan và
cái chủ quan. Và để bảo đảm tính toàn diện, tránh bỏ sót trong việc xác định hệ
thống những yếu tố làm phát sinh tội cướp giật tài sản, hệ thống những yếu tố này
cần được phân thành những yếu tố khách quan và những yếu tố chủ quan trên cơ sở
lấy Nhà nước làm trung tâm để phân biệt.
- Do tồn tại xã hội
Những yếu tố khách quan làm phát sinh tình hình tội phạm là yếu tố đang tồn
tại trong xã hội, không phụ thuộc vào ý chí nhà nước và cũng không phải do nhà
nước gây ra, còn những yếu tố chủ quan là yếu tố do bản thân nhà nước tạo ra trong
quá trình thực hiện chức năng quản lý làm tội phạm xuất hiện trong xã hội mặc dù
nhà nước không mong muốn. Nhà nước ở đây, trước hết, là những cơ quan, ban

16


ngành cụ thể mà trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đã tạo điều
kiện cho tội phạm phát sinh.
- Do hạn chế của Nhà nước trong các khâu quản lý trên các lĩnh vực
Những yếu tố làm phát sinh tình hình tội phạm là yếu tố do bản thân Nhà
nước trong quá trình thực hiện chức năng quản lý xã hội đã làm cho tội phạm xuất
hiện. Đó là những yếu kém, khiếm khuyết, thiếu trách nhiệm trong quá trình quản lý
xã hội của Nhà nước. Quản lý được hiểu là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh
mang tính quyền lực nhà nước đối với mọi mặt kinh tế - xã hội, văn hóa, pháp luật,
quản lý xã hội... có thể nêu một số khâu cơ bản sau:
Thứ nhất, về kinh tế
Trong những năm gần đây, thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, kinh tế
đất nước phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã có những

Thứ tư, về dân sự
Trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội cướp giật
tài sản nói riêng thì các cơ quan bảo vệ pháp luật giữ vai trò trọng yếu. Trong những
năm qua, hoạt động của các cơ quan này dù cố gắng nhiều, nhưng vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao của thực tiễn, những mặt thiếu sót cần khắc phục vẫn
còn.
Tội cướp giật tài sản chưa được pháp luật xử lý kiên quyết, vì vậy tác dụng
giáo dục, răn đe phòng ngừa còn hạn chế. Việc thi hành các quy định của pháp luật
đã được ban hành nhất là việc áp dụng Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự
còn nhiều bất cập, kém hiệu quả. Năng lực của cán bộ thực thi pháp luật chưa đủ
tầm trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm với những biến hóa
nhanh chóng về thủ đoạn phạm tội.
Trong điều tra và xử lý các tội phạm chưa đáp ứng được yêu cầu và chưa phù
hợp với tình hình thực tế, còn có một số vấn đề cần khắc phục như: chất lượng điều
tra chưa cao; nhiều vụ án kéo dài không xử lý kịp thời; việc điều tra, truy tố, xét xử
các vụ án chưa nghiêm, thiếu nhất quán.
b) Những nguyên nhân và điều kiện chủ quan

18


Nguyên nhân, điều kiện chủ quan từ phía người phạm tội được hiểu là tất cả
những yếu tố thuộc về người phạm tội bao gồm những tiêu cực thuộc ý thức cá
nhân và những biểu hiện tiêu cực trong lối sống cá nhân.
Quá trình động cơ hoá hành vi phạm tội diễn ra trong suy nghĩ người phạm
tội, còn những động lực của hành vi như nhu cầu, sở thích, lợi ích, thói quen...lại là
những yếu tố không phải lúc nào cũng tồn tại trong con người, mà chúng thường do
môi trường bên ngoài quy định. Điều đó có nghĩa là, động cơ hoá hành vi là quá
trình tâm- sinh lý- xã hội. Quá trình này có cơ sở khách quan do điều kiện xã hội,
do hoàn cảnh sống cụ thể của mỗi con người mang lại [15].

Một là, sai lệch về nhu cầu tài sản. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường
sống, những phẩm chất đạo đức, đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu
xã hội khác nhau. Một bộ phận dân cư có nhu cầu không phù hợp với hoàn cảnh
kinh tế, khả năng lao động, nhu cầu của bản thân vượt lên trước khả năng thu nhập
của bản thân, so sánh sự giàu nghèo giữa bản thân mình với người khác. Do có sự
đòi hỏi vật chất quá đáng đối với mình hoặc đối với gia đình mình, tức là nảy sinh
nhu cầu không phù hợp với hoàn cảnh dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội
cướp giật tài sản.
Hai là, sai lệch ở phương pháp thỏa mãn nhu cầu. Sự không phù hợp của nhu
cầu về tài sản với hoàn cảnh của chủ thể hành vi chỉ là tạm thời, vì hoàn cảnh cũng
luôn luôn thay đổi. Vì thế, sự không phù hợp này cũng không bắt buộc phải phạm
tội cướp giật tài sản. Vấn đề ở đây là chọn phương pháp thỏa mãn loại nhu cầu đã
được xem là không phù hợp đó. Khi nhu cầu đó được bộc lộ ra ngoài với người
khác, tức là xuất tâm, thì lại tùy thuộc hoàn cảnh, tình huống mà nhu cầu đó có
những thể hiện khác nhau.
1.2.4.2. Nguyên nhân và điều kiện thuộc quá trình tương tác xuất tâm
Quá trình kế tiếp là quá trình tương tác xuất tâm, gồm khâu kế hoạch hóa và
hiện thực hóa hành vi phạm tội.
Theo lý luận đã được các nhà khoa học khái quát, kế hoạch hóa hành vi là
bước chuẩn bị cho việc thực hiện hành vi. Chủ thể xác định mục đích trực tiếp, đối
tượng tác động, phương tiện, địa điểm, thời gian thực hiện và xác định cả phương
thức giải quyết hậu quả mà mình gây ra. Ở bước này, chủ thể chuẩn bị cả điều kiện
vật chất và điều kiện tinh thần cho việc thực hiện hành vi. Còn hiện thực hóa hành

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status