VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN DIỄM LOAN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN DIỄM LOAN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành
Mã số
: Chính sách công
: 60.34.04.02
2.1. Khái quát về quận Hải Châu ...................................................................................39
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn quận
Hải Châu ........................................................................................................................43
2.3. Kết quả thực hiện chính sách ..................................................................................62
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG ...........................................................................................................................69
3.1. Quan điểm và mục tiêu bảo vệ môi trường quận Hải Châu ...................................69
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn
quận Hải Châu trong thời gian tới .................................................................................72
KẾT LUẬN ..................................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
MT
Môi trường
Nẵng giai đoạn 2012-2016
2.3.
Diễn biến lượng khách du lịch đến quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 2012-2016
66
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
hình
1.1.
2.1.
Hệ thống quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường hiện nay ở nước ta
Hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở
quận
Trang
18
42
1
Hưng Nghiệp Formosa (Khu kinh tế Vũng Áng), đã gây ra hậu quả lớn về kinh tế,
xã hội, môi trường trước mắt và lâu dài; ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành đánh
bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, làm muối, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch;
làm xáo trộn, gây mất an ninh trật tự, tâm lý bức xúc, bất an trong nhân dân. Vụ
việc đang được Chính phủ tập trung chỉ đạo xử lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm
và khắc phục hậu quả nhưng đây là cái giá quá đắt phải trả cho việc buông lỏng
quản lý, việc thiếu trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan trong tổ chức thực
hiện chính sách bảo vệ môi trường dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Để ngăn ngừa
tình trạng trên tái diễn, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về bảo vệ môi trường ngày
24 tháng 8 năm 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo: “Kiên quyết không
vì lợi ích kinh tế trước mắt mà đánh đổi môi trường, cuộc sống bình yên của người
dân”. Tuy nhiên, để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường cũng như tác động của
chính sách và luật pháp đối với công tác bảo vệ môi trường thì cần phải có những
nghiên cứu cụ thể, tại những địa phương cụ thể.
Quận Hải Châu là một quận trung tâm về chính trị - hành chính- văn hóa của
Thành phố Đà Nẵng với nhiều cơ quan của Trung ương và địa phương đóng trên địa
bàn, đó cũng là điều kiện thuận lợi cũng như không ít khó khăn thách thức cho địa
phương. Công tác chỉnh trang đô thị cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và đô thị hóa trên toàn địa bàn thành phố nói chung, quận Hải Châu nói
riêng đã ảnh hưởng lớn đến môi trường và các hệ sinh thái. Việc phát triển bền
vững, phấn đấu nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trên địa bàn quận
đang đứng trước nhiều thách thức to lớn, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân
quận Hải châu cần phải định hướng phát triển quận Hải Châu theo hướng mà đề án
xây dựng Đà nẵng – thành phố môi trường đã vạch ra.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa ngày nay thì sự phát
triển bền vững phải dựa trên ba yếu tố cấu thành là kinh tế, xã hội và môi trường,
đây là xu hướng chung của thế giới, các quốc gia Châu Á và nhà nước ta. Nhằm
trên địa bàn quận Hải Châu.
Xuất phát từ yêu cầu đó, cùng với những kiến thức đã học, tôi chọn đề tài
luận văn thạc sĩ Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục
tình trạng ô nhiễm môi trường, góp phần xây dựng quận Hải Châu trở thành quận
môi trường trong thời gian đến.
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay đang là chủ đề nóng, được các cấp, các
ngành và người dân đặc biệt quan tâm. Đã có rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề
ô nhiễm môi trường và việc thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường trên các
báo, tạp chí, thậm chí đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến chủ đề môi
trường và bảo vệ môi trường, cụ thể như:
- Bài viết của Nguyễn Hữu Chí "Về việc thực hiện chính sách của Đảng và
Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo vệ môi trường", đã đánh giá thực trạng ô
nhiễm môi trường ở Việt Nam, kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 41NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và nêu ra các nhiệm vụ
theo tinh thần Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/1/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện Nghị quyết 41- NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX);
- Luận án tiến sĩ Hà Văn Hòa (2015) "Quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường biển ven bờ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" tại Học viện Hành chính Quốc
gia. Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về môi trường biển, ô nhiễm môi
trường biển; thực trạng ô nhiễm môi trường biển ven bờ, nguyên nhân và công tác
quản lý nhà nước để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Quảng Ninh thời
gian qua. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường biển ven bờ ở Quảng Ninh;
- Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công, Học viện Khoa học xã
hội của tác giả Đặng Thị Hà “Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách
bảo vệ môi trường;
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn
quận Hải Châu;
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ
môi trường từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, làm rõ các khái niệm
nghiên cứu cơ bản về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường.
5
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, từ đó xác định những mặt được,
những hạn chế cùng các nguyên nhân.
Thứ ba, đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường từ thực tiễn quận Hải Châu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Về thời gian: từ năm 2012 đến tháng 5/2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên
ngành khoa học xã hội, trong đó chú ý nhiều đến tiếp cận thực hiện chính sách có sự
phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định. Phương pháp này được sử dụng chủ
yếu phục vụ cho nội dung về thực trạng và đánh giá thực trạng thực hiện chính
sách ở quận Hải Châu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận: người học nghiên cứu và vận dụng
các lý thuyết về chính sách công và quy trình phân tích một chính sách công để làm
rõ một số vấn đề về khoa học và thực tiễn của một chính sách cụ thể; làm rõ một số
vấn đề thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ góc độ tiếp cận lý thuyết khoa
học chính sách công.
- Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các thuyết liên
quan đến chính sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp
chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng
các lý thuyết về chính sách công, quy trình phân tích chính sách công để xem xét
giữa lý thuyết và thực tiễn về chính sách bảo vệ môi trường ở quận Hải Châu, thành
7
phố Đà Nẵng để từ đó nâng cao hiệu quả của chính sách trong những năm tiếp theo.
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho Ủy ban nhân dân
Quận, các phòng, ban, ngành, đoàn thể có liên quan trong quá trình thực hiện chính
sách bảo vệ môi trường để chính sách có thể mang lại hiệu quả trong việc phát triển
kinh tế, xã hội, bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường của địa phương trong
những năm đến.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm 3
chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thực hiện chính sách
quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách
để giải quyết các vấn đề về bảo vệ môi trường nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ
môi trường cho phát triển bền vững của đất nước.
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.1.2.1. Khái niệm về môi trường
Trong tiếng Anh, “environment” có nghĩa là môi trường, từ này có nguồn gốc
từ một từ tiếng Pháp “environner”, có nghĩa là bao quanh một điểm nào đấy, hay tất
cả những gì bao quanh một điểm trung tâm. Theo cách hiểu như vậy, môi trường có
9
thể được hiểu là toàn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa bao quanh có ảnh
hưởng đến cuộc sống của một cá nhân hay cộng đồng. Vấn đề môi trường cũng có
thể được coi là bao gồm các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tội phạm, tiếng ồn
v.v.. Xét về mặt địa lý, môi trường có thể hiểu là một khu vực nào đó hoặc là toàn
bộ hành tinh của chúng ta. Môi trường là tổ hợp các thành phần của thế giới vật chất
làm cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của thế giới sinh vật và con người.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014 định nghĩa
“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối
với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [22, tr.16]. “Môi trường”
cũng có thể được hiểu là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con
người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm:
- Môi trường tự nhiên: là những gì vốn có trong tự nhiên, là tập hợp các yếu tố
vật lý, hóa học, sinh học có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống tự nhiên
và vận động theo những quy luật của tự nhiên, ví dụ như: đất, nước, không khí,…
- Môi trường nhân tạo: là những gì con người tạo ra đưa vào môi trường như
chất thải (rắn, lỏng, khí) hoặc làm biến đổi, thay đổi các thành phần của môi trường
tự nhiên, làm cho môi trường tự nhiên (ở khu vực nhất định) trở thành một trạng thái
đặc biệt, như môi trường ở khu vực đô thị hay công trường xây dựng, khu công
1.1.2.2. Hoạt động về bảo vệ môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các
tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy
thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.
Nguyên tắc về bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi
trường năm 2014 thì các nguyên tắc bảo vệ môi trường bao gồm [22]:
- Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ
gia đình và cá nhân.
- Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo
đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó
với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường
trong lành.
- Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu
11
chất thải.
- Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn
cầu; BVMT bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia.
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa,
lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên
phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng
lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải
khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
- Bảo vệ môi trường thông qua việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
một cách đúng đắn, phù hợp và có hiệu quả.
tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi
trường theo hướng chính quy, hiện đại [22].
1.1.4. Vị trí và vai trò của việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực
hoạt động bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để những chính sách và pháp luật về bảo
vệ môi trường đi vào cuộc sống và trở thành hành vi xử xự, hợp pháp của các chủ
thể pháp luật về bảo vệ môi trường, phát huy tác dụng của nó trong thực tiễn, Nhà
nước phải giữ vai trò trụ cột trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật về
bảo vệ môi trường.
Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành của chu trình chính sách, là toàn
bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực. Tổ chức thực
hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước thực hiện hoá chính sách vào
đời sống xã hội.
Việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường là thước đo thực tiễn đánh giá
chính sách và tạo cơ sở hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường.
Như vậy thực hiện chính sách bảo vệ môi trường là quá trình hoạt động có
mục đích làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ môi
trường đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
13
trường; bảo vệ, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành và
bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững.
Chính sách môi trường được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ chức
quản lý môi trường cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội.
Các hình thức tổ chức thực hiện chính sách môi trường rất đa dạng, phong
Trên cơ sở các quan điểm về bảo vệ môi trường, Nghị quyết số 24-NQ/TW
ngày 03/6/2013 nêu trên đã chỉ ra 3 mục tiêu trong bảo vệ môi trường là [2]:
- Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử lý; tiêu
huỷ, xử lý trên 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế; tái sử dụng hoặc tái chế
trên 65% rác thải sinh hoạt.
- Phấn đấu 95% dân cư thành thị và 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước
sạch, hợp vệ sinh. Kiểm soát an toàn, xử lý ô nhiễm môi trường do hậu quả chiến
tranh. Nâng cao chất lượng môi trường không khí ở các đô thị, khu vực đông dân
cư. Cải thiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực nông thôn.
- Quản lý khai thác hợp lý, sớm chấm dứt khai thác rừng tự nhiên, nâng diện
tích các khu bảo tồn thiên nhiên lên trên 3 triệu ha; nâng độ che phủ của rừng lên
trên 45%.
Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương cụ thể hóa thành các mục tiêu chiến
lược bảo vệ môi trường thành chính sách bảo vệ môi trường một cách tương ứng để
có thể thực hiện được các mục tiêu xác định.
1.2.3. Các nhóm giải pháp
Bộ tài nguyên môi trường đã trình Thủ tướng chính phủ nhiều nhóm giải pháp
nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước. Cụ thể có 6 nhóm giải
pháp được hướng đến đó là:
Thứ nhất, Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp
luật về bảo vệ môi trường, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật
nói chung, bám sát thực tế và theo kịp tiến trình phát triển và hội nhập quốc tế của
đất nước, diễn biến nhanh và mức độ phức tạp của các vấn đề môi trường. Thể chế
hóa kịp thời và tổ chức thực hiện nghiêm các quan điểm, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường; chú trọng nâng cao nhận
15
thức và đề cao trách nhiệm của các cấp, các ngành; tăng cường sự phối hợp, chặt
công cụ, biện pháp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; sớm đưa các chế tài
hình sự về môi trường vào áp dụng; hoàn thành kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng trước năm 2020. Tổ chức đánh giá, xếp hạng công
tác bảo vệ môi trường của các địa phương từ năm 2017.
Thứ năm, Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, phát triển khoa học công nghệ về bảo vệ
môi trường. Tiếp tục quan tâm xây dựng các dự án ưu tiên về bảo vệ môi trường
nhằm kêu gọi hỗ trợ từ nguồn vốn ODA. Nghiên cứu, kiến nghị cơ chế cử cán bộ
đại diện ngoại giao về môi trường tại các nước nhằm tăng cường cơ hội học hỏi,
trao đổi kinh nghiệm, hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.
Thứ sáu, Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về
bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế xanh theo hướng đổi mới
nội dung, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, các vùng
miền; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động đào tạo, truyền thông về môi trường.
Các địa phương căn cứ vào các giải pháp này và các mục tiêu, điều kiện cụ thể
ở địa phương để đề ra các giải pháp cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả các chính
sách bảo vệ môi trường ở địa phương.
1.2.4. Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường
Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền
lực như: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước. Chính sách bảo vệ môi trường cũng là một trong những chính sách công của
Nhà nước. Do đó, chủ thể ban hành chính sách bảo vệ môi trường gồm các cơ quan
Nhà nuớc có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Bộ Tài chính. Ngoài ra, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ,
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các đơn vị sự nghiệp công
lập cũng ban hành các văn bản phục vụ cho hoạt động quản lý đơn vị mình và tổ
chức triển khai thực hiện.
1.2.4.1. Chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
cấp quận/huyện
Công chức Địa
chính - Môi
trường cấp
phường/xã
Cấp Trung ương
Cấp địa phương
Hình 1.1. Hệ thống quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường hiện nay ở nước ta
18