Chính sách xây dựng chính quyền điện tử từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (tt) - Pdf 46

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính phủ điện tử ứng dụng CNTT&TT cùng với quá trình đổi
mới tổ chức, phương thức quản lý, quy trình điều hành làm cho chính
phủ hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, minh bạch hơn, phục vụ nhân
dân tốt hơn và phát huy dân chủ mạnh mẽ hơn. Chính phủ điện tử
đang trở thành mô hình phổ biến đối với nhiều quốc gia, cung cấp
dịch vụ, thông tin trực tuyến cho mọi người dân, doanh nghiệp một
cách nhanh chóng, tiết kiệm, thuận lợi hơn ở khắp mọi nơi, mọi lúc.
Quá trình xây dựng Chính phủ điện tử là một quá trình lâu dài,
kế hoạch tổng thể phát triển Chính phủ điện tử Việt Nam đến năm
2010 là kế hoạch tổng thể đầu tiên nhằm cụ thể hóa các mục tiêu,
nhiệm vụ quan trọng về xây dựng Chính phủ điện tử trong Chiến
lược phát triển CNTT&TT đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020, xây dựng các nền tảng quan trọng để thực hiện thành công
Chính phủ điện tử ở Việt Nam.
Để có một nhìn nhận tổng quát toàn bộ Chính sách phát triển
Chính phủ điện tử ở Việt Nam và quá trình triển khai thực hiện Chính
quyền điện tử ở thành phố Đà Nẵng từ đó đưa ra một số giải pháp
hoàn thiện công tác xây dựng Chính quyền điện tử góp phần nâng
cao hiệu lực, hiệu quả của Bộ máy hành chính thành phố Đà Nẵng,
học viên chọn đề tài nghiên cứu “Chính sách xây dựng Chính quyền
điện tử từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Các công trình trong nước
- Đề tài 1: Chính phủ điện tử và việc triển khai ở Việt nam.
- Đề tài 2: Xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam.
1


Đề tài mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu chứ chưa thể xây

4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: nghiên cứu tiến hành tại thành phố Đà
Nẵng.
- Về mặt thời gian: Các số liệu, sự kiện được quan sát và thu
thập trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội
học và phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận
quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến
xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của
các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua
thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách
chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra: điều tra (qua phiếu điều tra) một nhóm
đối tượng về một số vấn đề cần nghiên cứu liên quan đến đối tượng
điều tra.
- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Là phương
pháp nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá
khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học.
- Phương pháp chuyên gia là phương pháp sử dụng trí tuệ của
đội ngũ chuyên gia để xem xét nhận định bản chất của đối tượng, tìm
ra một giải pháp tối ưu.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết là nghiên cứu
các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng
bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng. Tổng hợp là liên kết từng
mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý
thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng.
3

VÀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ÐIỆN TỬ
Ở ÐỊA PHƯƠNG
1.1. Khái niệm về Chính phủ điện tử và Chính sách xây
dựng Chính quyền điện tử ở địa phương
Chính phủ điện tử là sự ứng dụng CNTT và truyền thông để
các cơ quan chính phủ đổi mới, làm việc hiệu lực, hiệu quả và minh
bạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ công tốt hơn cho người dân
doanh nghiệp và các tổ chức; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn
cho người dân thực hiện quyền dân chủ của mình trong việc tham gia
quản lý nhà nước.
Khái niệm “Chính phủ điện tử ” ngày càng được chấp nhận
một cách rộng rãi tại Việt Nam và trên thế giới. Đó là thước đo về sự
đổi mới quản lý Nhà nước, thể hiện sự vững mạnh của nền kinh tế
của mỗi quốc gia.
Nhận thức được vai trò và xu thế phát triển tất yếu của CPĐT,
trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã và đang thực hiện mạnh mẽ
chủ trương ứng dụng CNTT nhằm cải cách hành chính, hiện đại hóa
cơ quan Chính phủ, xây dựng một Chính phủ hiệu lực, hiệu quả hơn,
thực sự của dân, do dân và vì dân, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo
môi trường thuận lợi phát triển kinh tế-xã hội. Nhiều chương trình, kế
hoạch, đề án, dự án CNTT được triển khai rộng khắp trong CQNN
các cấp, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng, tạo nền tảng
phát triển CPĐT trong các giai đoạn tiếp theo.
Trên cơ sở phân tích các đặc điểm của CSC, khái niệm CPĐT,
chúng ta có thể nhận thấy Chính sách xây dựng Chính quyền điện tử
5


ở địa phương được hiểu là”Chính sách xây dựng Chính quyền điện tử
là một tập hợp các quyết định có liên quan của Đảng và Nhà nước

được tạo ra từ sự phối hợp tương tác giữa các cơ quan hữu quan
thì hệ thống bắt đầu hoạt động trong trạng thái CPĐT dưới góc
độ kết nối.
Mức độ 4 - Tích hợp các dịch vụ trực tuyến trên một cổng dịch
vụ: Việc cung cấp các dịch vụ và quy trình vận hành của các cơ quan
nhà nước được xem xét, đổi mới. Thông tin và các dịch vụ nhà nước
được cung cấp và tích hợp mạnh mẽ vượt qua ranh giới các cơ quan,
trung ương với địa phương, giữa các khu vực (cơ quan chính phủ, tổ
chức tư nhân, tổ chức phi chính phủ và cá nhân). Thông tin và các
dịch vụ được cung cấp một cách thích ứng theo từng nhu cầu riêng
biệt của khách hàng, phát huy tối đa cơ chế một cửa trên cổng giao
tiếp điện tử của cơ quan Chính phủ, tạo nên mối quan hệ gần gũi và
hiệu quả giữa cơ quan chính phủ và khách hàng.
Xây dựng CPĐT là một quá trình hình xoắn ốc mở rộng dần,
trong đó 4 mức độ trên gắn kết với nhau, tác động lên nhau và bổ
sung lẫn nhau chứ không phải tuần tự, xong mức độ này mới triển
khai mức độ tiếp theo. Việc chuyển đổi CPĐT không chỉ đơn thuần
là chuyển đổi công nghệ mà là sự chuyển đổi mạnh mẽ về thiết kế,
vận hành và văn hóa của lĩnh vực công nhằm đáp ứng tốt hơn những
yêu cầu khách hàng và xu hướng của xã hội thông tin.
1.2.2. CPĐT ở trung ương và CQĐT ở địa phương
CPĐT trung ương là ứng dụng CNTT&TT để đổi mới, làm
việc có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn: cung cấp thông tin, dịch
vụ tốt hơn cho chính quyền địa phương, người dân, doanh nghiệp và
các tổ chức. Giúp hoàn thành tốt hơn chức năng nhiệm vụ của chính
phủ trung ương.
CQĐT địa phương là ứng dụng CNTT&TT để đổi mới, làm
7




chính phủ. CPĐT như một công cụ chủ chốt trong việc xây dựng
truyền thống điều hành minh bạch và hiệu quả, CPĐT có thể đi tiên
phong trong cuộc đấu tranh chống nạn tham nhũng. Tuy nhiên,
CPĐT bản thân nó không thể đặt dấu chấm hết cho những nạn tham
nhũng, CPĐT phải được thể hiện cùng các thiết chế khác để chở nên
có hiệu lực một cách đầy đủ. Đồng thời, CPĐT cũng hỗ trợ việc cung
cấp thông tin một cách đầy đủ và nhanh chóng. Việc phổ biến rộng
rãi thông tin hỗ trợ cho việc trao quyền cho người dân cũng như quá
trình đưa ra quyết định cho chính phủ. Tính minh bạch của thông tin
sẽ không chỉ thể hiện ở sự dân chủ mà còn gây dựng dần sự tin cậy
giữa những nhà lãnh đạo chính phủ và tính hiệu quả bắt buộc trong
việc điều hành chính phủ.
Nâng cao năng suất và tính hiệu quả của các cơ quan chính
phủ: việc tái lập các quy trình và thủ tục để giảm bớt nạn quan liêu,
hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ, nâng cao năng suất về mặt hành chính
và tăng cường tiết kiệm là những lợi ích mà CPĐT đem lại. Ngoài ra,
CPĐT có thể giúp nâng cao năng suất lao động của nhân viên chính
phủ giảm chi phí hành chính qua việc cắt giảm văn phong và việc
quản lý giấy tờ nâng cao năng lực quản lý kế hoạch của chính phủ và
nâng cao doanh thu khi doanh nghiệp và người dân xin cấp phép
nhiều hơn do một thực tế là thủ tục đã trở nên dễ dàng hơn và tình
trạng tham nhũng cũng giảm bớt. CPĐT thực hiện tiết kiệm chi phí
trong thời gian trung và dài hạn. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn hạn,
các chi phí về nhân viên và các chi phí khác cũng có khuynh hướng
tăng vì Chính phủ phải tạo ra nhiều nền tảng cung cấp hàng hóa và
dịch vụ (bao gồm cả theo cách truyền thống và theo cách CPĐT)
Trong suốt quá trình dịch chuyển ban đầu CPĐT đơn giản hóa các
hoạt động chính phủ. Phần lớn các hoạt động của chính phủ đã được
9

10


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng
CQĐT tại thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Tổng quan tình hình phát triển CQĐT thành phố Đà
Nẵng
2.1.1.1. Cơ chế chính sách xây dựng CQĐT thành phố Đà
Nẵng
Thành phố Đà Nẵng đã thành lập Ban Chỉ đạo ứng dụng và
phát triển CNTT thành phố Đà Nẵng tại Quyết định số 3613/QĐUBND ngày 06/5/2008 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc thành
lập lại Ban Chỉ đạo ứng dụng và phát triển CNTT thành phố Đà
Nẵng, theo đó, có phân công đại diện lãnh đạo UBND thành phố Đà
Nẵng làm Trưởng ban, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông làm
Phó ban thường trực và đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, UBND
quận, huyện làm thành viên. Trưởng ban Ban Chỉ đạo ứng dụng và
phát triển CNTT chịu trách nhiệm chỉ đạo, triển khai ứng dụng và
phát triển CNTT theo tinh thần Nghị quyết 36a trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
Thành phố Đà Nẵng đã ban hành Chương trình hành động thực
hiện Nghị quyết 36a tại Quyết định 2307/QĐ-UBND ngày
15/4/2016. Xây dựng Kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT trong
hoạt động của các cơ quan nhà nước tại thành phố Đà Nẵng giai
đoạn 2016-2020, đồng thời lồng ghép tất cả các nội dung, hành
động thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 36a về
CQĐT của thành phố.
11

12


lưu trữ đến 100TB, sử dụng công nghệ ảo hóa; đáp ứng nhu cầu lưu
trữ các cơ sở dữ liệu, các phần mềm/ứng dụng dùng chung, là nơi lưu
ký các trang/cổng thông tin của cơ quan đảng và nhà nước bảo đảm
an toàn, an ninh thông tin.
Hệ thống kết nối không dây công cộng có 430 trạm thu phát
sóng (AP); phủ sóng tại tất cả các sở, ban, ngành, quận, huyện, xã,
phường; các khu vực trung tâm của thành phố, các địa điểm du lịch
và khu vực công cộng để tạo điều kiện cho tổ chức, công dân có thể
kết nối, sử dụng dịch vụ của các cơ quan nhà nước và kết nối ra mạng
Internet.
100% cán bộ công chức, viên chức (CBCCVC) của thành phố
được trang bị máy tính; 100% sở, ban, ngành, UBND các quận,
huyện, phường, xã được trang bị đầy đủ máy in, máy quét, máy
chiếu, điện thoại truyền hình (video phone), màn hình cảm ứng tra
cứu,… để ứng dụng CNTT trong hoạt động công vụ.
2.1.1.3. Ứng dụng CNTT trong xây dựng CQĐT
Các ứng dụng CNTT trong cơ quan Nhà nước tại thành phố Đà
Nẵng được liên tục đầu tư, nâng cấp, phát triển đồng bộ nhằm phục
vụ người dân, doanh nghiệp, hỗ trợ lãnh đạo thành phố và các cơ
quan trong công tác chỉ đạo, điều hành.
Hệ thống thông tin Chính quyền điện tử (egov.danang.gov.vn)
Hệ thống thông tin chính quyền điện tử (egov.danang.gov.vn)
được chính thức đưa vào hoạt động vào tháng 7/2014. Hệ thống được
phát triển trên một nền tảng phần mềm nguồn mở, nhất quán về công
nghệ, liên thông từ cấp Thành phố đến quận huyện và phường xã;
cho phép các cơ quan nhà nước tại thành phố Đà Nẵng chia sẻ dữ
liệu, sử dụng chung các ứng dụng,…; tiết kiệm chi phí đầu tư, vận

ngành cho các đơn vị, tiêu biểu như: Phần mềm quản lý nhân hộ
khẩu, Phần mềm Đa tác tử hỗ trợ thu thập, xử lý thông tin điện tử; Bộ
14


Adapter để chuyển đổi, tích hợp dữ liệu từ các ứng dụng quản lý
trường, lớp, giáo viên, học sinh tại Sở Giáo dục và Đào tạo, Phần
mềm lưu trữ lịch sử tại Sở Nội vụ, CSDL kinh tế tập thể và ứng dụng
khai thác dữ liệu tại Liên minh Hợp tác xã thành phố, Phần mềm
quản lý động viên, tuyển quân, Phần mềm giám sát môi trường
nước… Năm 2017 dự kiến tiếp tục đầu tư trên 100 phần mềm chuyên
ngành cho các cơ quan trong Chương trình sự nghiệp CNTT hàng
năm của thành phố.
2.2. Đánh giá chung thực trạng Chính sách xây dựng
CQĐT thành phố Đà Nẵng
Qua quá trình nhiều năm xây dựng hệ thống Chính quyền điện
tử, thành phố Đà Nẵng đã thu được những thành công nhất định về
công tác ứng dụng CNTT trong bộ máy chính quyền địa phương.
Thành công đó có sự đóng góp không nhỏ của việc sớm xác định một
Kiến trúc tổng thể CQĐT phù hợp, đầy đủ và được UBND thành phố
ban hành tại Quyết định số 5258/QĐ-UBND ngày 14/7/2010. Kiến
trúc tổng thể CQĐT đã đóng vai trò dẫn dắt, định hướng công tác
ứng dụng CNTT tại thành phố Đà Nẵng trong những năm qua, góp
phần đưa CNTT trở thành một công cụ hữu hiệu để thực hiện cải
cách hành chính, trở thành công cụ tác nghiệp hàng ngày không thể
thiếu của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại nhiều sở
ban ngành, quận huyện, phường xã. Tác dụng tích cực đó được ghi
nhận không chỉ bởi các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức, người
lao động, người dân và doanh nghiệp tại thành phố, mà còn được
đánh giá khách quan bởi các tổ chức và cộng đồng trong cả nước.

tác ứng dụng CNTT ở cấp độ toàn thành phố.

16


CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Các giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng Chính
quyền điện tử tại thành phố Đà Nẵng
Để thực hiện được các mục tiêu cũng như định hướng của
chính sách xây dựng CQĐT thành phố Đà Nẵng cần tập vào 6 nhóm
giải pháp sau đây:
3.1.1. Triển khai thành công Dự án xây dựng chính quyền
điện tử tại thành phố Đà Nẵng
Đây là nhiệm vụ trung tâm vì từ kết quả triển khai thành công
dự án xây dựng chính quyền điện tử tại Đà Nẵng phát sinh hàng loạt
các cơ hội và điều kiện thuận lợi để thực hiện các nhiệm vụ khác.
3.1.1.1. Nguyên tắc xây dựng
- Xây dựng được một hệ thống thông tin hiện đại phục vụ mọi
hoạt động quản lý nhà nước của bộ máy chính quyền;
- Về căn bản, xây dựng được một hạ tầng CNTT-TT thống
nhất trên quy mô toàn thành phố;
- Xây dựng được hệ thống CSDL được quản lý tập trung và
thống nhất trên quy mô toàn thành phố;
- Về cơ bản, xây dựng được khung pháp lý cho các hoạt động
phối hợp thông qua hạ tầng CNTT-TT (mạng đô thị - MAN) của
thành phố.
- Về cơ bản, hình thành các cơ chế đào tạo và đào tạo lại về

nghiệp điện tử liên kết với nhau trong hệ thống kinh tế, các trường
học điện tử liên kết với nhau trong hệ thống giáo dục,…
18


3.1.1.2. Lộ trình triển khai
Triển khai đồng thời việc xây dựng các mô hình được xác định
trong Nhiệm vụ 2 trong đó ưu tiên xây dựng mô hình doanh nghiệp
điện tử và trường học điện tử. Phấn đầu đến năm 2015, về cơ bản
hoàn thành nhiệm vụ này và hoàn thiện chúng trong giai đoạn 20162020.
3.2.2. Phát triển và hoàn thiện hạ tầng CNTT-TT toàn thành
phố
3.2.2.1. Nguyên tắc xây dựng
Những thành phần quan trọng nhất của hạ tầng CNTT-TT
thành phố Đà Nẵng (mạng trục cáp quang của thành phố, mạng
không dây hỗ trợ kết nối mọi lúc, mọi nơi trong thành phố, trung tâm
dữ liệu, trung tâm giao dịch CNTT-TT) được hình thành khi triển
khai dự án xây dựng chính quyền điện tử nêu trên. Công việc tiếp
theo là hoàn thiện hạ tầng này để phục vụ các chủ thể được điện tử
hóa khác (doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, cộng đồng) trên cùng
hạ tầng này. Do không cần nâng cấp băng thông của mạng trục ít
nhất là từ nay đến năm 2020, nên nhiệm vụ chính tập trung vào các
cơ chế kết nối, phát triển, tích hợp dữ liệu đa chiều và tổ chức khai
thác dữ liệu phục vụ các yêu cầu ở cả cấp vĩ mô (phục vụ thành phố
quy hoạch, định hướng,…) đến vi mô (phục vụ các doanh nghiệp,
đơn vị,…).
3.2.2.2. Nguyên tắc triển khai
Mọi giao dịch, trao đổi thông tin diễn ra giữa các cơ quan nhà
nước với các doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, tập thể hay cá
nhân người dân đều được thực hiện thông qua mạng trục của thành

Một khung pháp lý đầy đủ và được cập nhật luôn luôn là chỗ
dựa vững chắc cho việc triển khai các dự án ứng dụng và phát triển
CNTT-TT.
20


3.2.3. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT
Đây được xem là giải pháp trọng tâm cho sự phát triển lâu dài
và bền vững. Để thực hiện tốt cần tiến hành những nội dung sau:
- Đẩy mạnh việc tuyên truyền, làm cho mọi đối tượng trong
các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện và người
dân đều nhận thức rõ vai trò của CNTT-TT trong việc xây dựng và
phát triển thành phố lên văn minh và hiện đại và con đường nhanh
nhất là xây dựng thành phố điện tử;
- Tập trung đào tạo các kỹ năng cơ bản hay chuyên ngành về
ứng dụng CNTT-TT cho tất cả các đối tượng bắt đầu từ các cán bộ,
công chức trong bộ máy nhà nước, tiếp đến là các doanh nghiệp,
trường học, bệnh viện và cộng đồng người dân tùy theo nhóm đối
tượng;
- Thực hiện đào tạo cho lãnh đạo các Sở, ban, ngành, quận,
huyện, xã, phường, lãnh đạo các doanh nghiệp, trường học, bệnh
viện,… các khóa về quản lý và điều hành các dự án CNTT, tổ chức
tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực CNTT ở
trong nước hoặc ở các nước có nền CNTT phát triển tùy theo điều
kiện và đối tượng.
3.2.4. Phát triển ngành CNTT-TT làm động lực phát triển
kinh tế-xã hội
Thành phố điện tử không đơn giản là tập hợp của các mô hình
tổ chức điện tử (chính quyền, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện,
cộng đồng điện tử) mà là một tổng thể vận động trong môi trường

KẾT LUẬN
Với phương châm: “CNTT là động lực thúc đẩy phát triển
công nghiệp hóa-hiện đại hóa, đưa thành phố hướng tới phát triển bền
vững”, Đà Nẵng luôn có những chủ trương, chính sách và giải pháp
cụ thể nhằm khuyến khích phát triển ứng dụng CNTT và TT trong
toàn thể cộng đồng, hướng đến mục tiêu xây dựng một thành phố
điện tử-một thành phố thông minh, phát triển bền vững trên nền tảng
kinh tế tri trức, trong đó đời sống người dân không ngừng được cải
thiện, văn hóa, xã hội phát triển hài hòa. Đây là mục tiêu đồng thời
cũng là động lực thúc đẩy sự vươn lên mạnh mẽ hơn của Thành phố
trong những năm tới.
Kinh nghiệm phát triển trong hơn 15 năm qua, kể từ khi thành
phố trực thuộc Trung ương, sự tăng trưởng và phát triển vượt bậc về
kinh tế-xã hội, đặc biệt là những tiến bộ không ngừng về ứng dụng và
phát triển CNTT, sẽ là nền tảng vững chắc để thành phố tiếp tục phát
huy nội lực, khai thác có hiệu quả ngoại lực, đẩy mạnh cải cách hành
chính, xây dựng chính quyền điện tử, xây dựng mô hình thành phố
thông minh hơn.
Xây dựng Chính quyền điện tử tại Đà Nẵng là kế hoạch tổng
thể phát triển kinh tế xã hội dựa trên nền tảng phát triển CNTT-TT
hiện đại trên quy mô toàn thành phố. Đó là con đường mà tất cả các
tỉnh, thành phố trong cả nước đều sẽ đi qua hướng đến văn minh,
hiện đại trong kỷ nguyên CNTT và Internet. Do những nỗ lực chuẩn
bị từ trước, thành phố Đà Nẵng đã hội đủ những điều kiện cần và đủ
về hạ tầng CNTT-TT, khung chính sách, nguồn nhân lực và các
nguồn lực khác cho việc khởi động một tiến trình phát triển ở mức
cao hơn, hoàn thiện hơn: Xây dựng mô hình thành phố điện tử.
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status