VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ ANH ĐẠT
HỖ TRỢ KẾT NỐI HỌC NGHỀ VỚI VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội
Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Thị Xuân Mai
Phản biện 2: TS. Lê Hải Thanh
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ...... ,ngày .... tháng..... năm 2017
1
vấn đề học nghề, hỗ trợ việc làm. Vì vậy, cần thiết có đề tài nghiên cứu về
hỗ trợ kết nối học nghề với việc làm cho người khuyết tật.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Hỗ trợ kết nối học nghề với
việc làm cho người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế
Trong nghiên cứu của Acemoglu và Joshua (2010) có đề cập khía
cạnh về các chương trình bảo vệ và hỗ trợ người khuyết tật trong vấn đề
việc làm [29]. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm cũng
như phân tích và đánh giá về các chính sách liên quan đến việc làm của
người khuyết tật. Từ đó đã có những đề xuất và giải pháp định hướng cho
việc xây dựng chính sách cho người khuyết tật trong lĩnh vực này.
Một cuộc nghiên cứu tổng thể về các vấn đề việc làm của người
khuyết tật trong lĩnh vực hành chính công đã được Hirst (2004). Nghiên
cứu này tác giả đã thu thập số liệu và tập trung phân tích các vấn đề về việc
làm của người khuyết tật dựa trên những số liệu và thông tin từ rất nhiều
các nghiên cứu khác nhau, ở các lĩnh vực khác nhau [31].
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
TS. Trần Thị Thúy Lâm đã có bài viết phân tích và đánh giá thực
trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho người khuyết tật trên
các phương diện: Chính sách đối với cơ sở dạy nghề, người khuyết tật học
nghề và giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật; đồng thời đưa ra một số
khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với người khuyết
tật cả ở phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện
[14].
2
Hỗ trợ kết nối học nghề với việc làm cho người khuyết tật trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về đối tượng
Nghiên cứu lý luận và thực trạng về hỗ trợ kết nối học nghề với việc
làm cho người khuyết tật; cụ thể đó là hỗ trợ tư vấn, định hướng việc học
nghề để phù hợp với nhu cầu việc làm của xã hội, hỗ trợ giới thiệu việc làm
sau khi học nghề, hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại chỗ.
* Phạm vi về khách thể
Nghiên cứu tình hình học nghề của người khuyết tật, công tác kết nối
học nghề và kết nối việc làm tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp Đà Nẵng;
hai cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật tư nhân là: Cơ sở dạy nghề Thanh
Ngọc Minh, cơ sở dạy nghề Dana Tre Đà Nẵng; 30/56 nhân viên Công tác
xã hội tại 56 xã/phường của 7 quận/huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,
những người trực tiếp làm công tác hỗ trợ kết nối học nghề cho người
khuyết tật và nghiên cứu trên 100 người khuyết tật trên địa bàn thành phố.
Nghiên cứu khách thể gồm cán bộ quản lý, chuyên viên làm công tác
hoạch định kế hoạch hỗ trợ học nghề và tạo việc làm của người khuyết tật.
* Phạm vi về địa bàn: Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng, từ những đánh giá về
thực trạng học nghề, giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố
Đà Nẵng, rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện
pháp để nâng cao hiệu quả công tác kết nối học nghề với việc làm đối với
người khuyết tật tại thành phố. Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ bổ
4
sung thêm cơ sở lý luận, khoa học cũng như phát triển hệ thống các lý luận,
tật.
- Phương pháp điều tra bản hỏi: Trong đề tài tiến hành điều tra bản
hỏi với 100 người khuyết tật trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu giúp làm sáng tỏ lý luận về công tác hỗ trợ kết nối học
nghề với việc làm cho người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, qua
đó bổ sung và làm phong phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá 2 hoạt động
học nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu
ích tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với người khuyết tật: Giúp khắc phục những vấn đề, khó khăn
trong việc tìm kiếm việc làm cho người khuyết tật nhất là sau khi đào tạo
nghề từ đó nâng cao số lượng và chất lượng giải quyết việc làm cho người
khuyết tật. Người khuyết tật sẽ ngày càng khẳng định được vai trò trong xã
hội.
- Đối với các cơ quan, trung tâm, tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho
người khuyết tật: Các phát hiện của nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ
thực trạng về mức độ liên kết giữa việc học nghề và việc làm cho người
khuyết tật hiện nay tại thành phố từ đó đưa ra những giải pháp, định hướng
nhằm gia tăng chất lượng dịch vụ của các cơ sở giúp nâng cao hiệu quả hỗ
trợ người khuyết tật.
6
- Đối với xã hội: Việc giải quyết vấn đề việc làm cho người khuyết
tật sẽ góp phần giải quyết các vấn đề chung của người khuyết tật, góp phần
khẳng định nỗ lực trong việc thực hiện Công ước của Liên Hợp Quốc về
quyền của người khuyết tật mà Việt Nam đã ký kết.
soát phản ứng khi bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng. Cộng đồng và xã
hội cần giáo dục mọi người tránh lời nói, cử chỉ, hành vi miệt thị, xa lánh;
đồng thời, tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập vào cuộc sống xã
hội như những người bình thường.
Nếu sống trong những gia đình khó khăn, người khuyết tật có cảm
giác mình bị bỏ rơi. Đa số người khuyết tật chưa được đi học hoặc học nghề
đến nơi, đến chốn là do tâm lý gia đình ít quan tâm đến nhu cầu đi học, việc
làm của người khuyết tật.
* Nhu cầu của người khuyết tật
Nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được coi là
thiết yếu cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì
khác [5, tr.4]. Theo quan điểm của nhà tâm lý học A. Maslow, con người có
5 bậc thang nhu cầu được xếp theo thứ tự từ nhu cầu vật chất cơ bản cần
thiết đến nhu cầu tinh thần nâng cao. Các nhu cầu không tồn tại độc lập mà
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, gắn kết, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn
nhau. Trong cuộc sống, trước mắt con người mong muốn thỏa mãn những
nhu cầu bậc thấp, sau đó mới vươn tới những nhu cầu bậc cao hơn.
1.2. Lý luận về hỗ trợ kết nối học nghề với việc làm cho người
khuyết tật
8
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm việc làm
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13, các nhà thống kê về lao động của Tổ
chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm
như sau: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được
trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những
người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích
hay vì thu nhập gia đình, không nhận tiền công hay hiện vật” [2, tr.5]. Theo
khuyết tật; lắng nghe người khuyết tật; trung thực, chân thành với người
khuyết tật; thỏa hiệp dựa trên sự đồng ý của các bên.
1.2.3. Nội dung hỗ trợ kết nối học nghề với việc làm đối với người
khuyết tật
* Hỗ trợ tư vấn việc làm trước và sau khi học nghề
Hỗ trợ tư vấn việc làm nhằm giúp người khuyết tật lựa chọn nghề,
trình độ đào tạo, nơi học phù hợp với khả năng và nguyện vọng; lựa chọn
công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng; kỹ năng thi tuyển; tạo
việc làm, tìm việc làm. Do đó, hỗ trợ tư vấn việc làm rất quan trọng, trước
hết là để xóa bỏ những mặc cảm khiến người khuyết tật còn chưa muốn
tiếp cận với việc làm, thứ hai là để làm rõ các băn khoăn, thắc mắc cho
người khuyết tật từ đó khích lệ, động viên người khuyết tật về quyền của
họ trong các hoạt động việc làm. Sau khi được học nghề đây cũng là giai
đoạn khó khăn với người khuyết tật vì họ không biết sẽ làm việc được
không, môi trường làm việc như thế nào hay làm thế nào họ có thể đi làm
được. Nhiều vấn đề đặt ra cần sự tư vấn, hướng dẫn của nhân viên công
10
tác xã hội để họ có thể an tâm tìm kiếm và làm việc như những người bình
thường.
* Hỗ trợ giới thiệu việc làm sau khi học nghề
Trên thực tế, tư vấn để người khuyết tật có được tâm thế sẵn sàng
tham gia vào thị trường lao động đã khó. Tuy nhiên việc sau đó giúp họ có
được một công việc phù hợp và ổn định cũng là một thách thức không hề
nhỏ vì trên thực tế ngay cả người bình thường tìm được việc cũng đã khó.
Với rất nhiều rào cản còn đang tồn tại hiện nay thì việc người khuyết tật tự
đi xin việc là rất khó khăn. Do đó rất cần thiết phải có một “cầu nối” giữa
doanh nghiệp và người khuyết tật để các bên đến được với nhau.
* Hỗ trợ tìm kiếm nguồn lực để giải quyết việc làm cho người khuyết
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Đà Nẵng là một thành phố thuộc trung ương từ năm 1997, nằm trong
vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam, là trung tâm lớn về kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu
của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Đà Nẵng nằm ở vị trí
trung độ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế - xã hội và quốc
phòng - an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường
sắt, đường biển và đường hàng không. Đà Nẵng hiện nay có tám quận,
huyện với tổng diện tích là 1285,4 km². Theo kết quả điều tra năm 2009 thì
12
dân số thành phố là 887.435 người. Năm 2013, dân số thành phố là 992.800
người. Dân số Đà Nẵng đạt 1.029.000 người.
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu
* Đặc điểm của đội ngũ nhân viên làm công tác xã hội
Số nhân viên CTXH trên địa bàn thành phố rất khá lớn với số lượng
lên đến hơn 1000 người (chủ yếu là trợ giúp cho trẻ em), nhân viên CTXH
trực tiếp làm công tác hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật của thành phố
Đà Nẵng gần là 100 người, gồm: 56 cộng tác viên CTXH tại các xã,
phường; 15 nhân viên tại Trung tâm CTXH, Trung tâm giới thiệu việc làm,
trung tâm giáo dục nghề nghiệp... Nhân viên CTXH tại thành phố Đà Nẵng
chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm tại các UBND xã, phường, công việc chuyên
môn chính là thực hiện các chính sách trợ giúp cho các đối tượng BTXH
nói chung và người khuyết tật nói riêng vì vậy họ rất có kinh nghiệm trong
công tác trợ giúp người khuyết tật nhưng bên cạnh đó còn có hạn chế như
thích ứng chậm với chưa linh hoạt tiếp thu những mô hình mới. Bên cạnh
đó kiến thức về CTXH mới được phổ biến, thường xuyên thay đổi lĩnh vực
công tác là một trong những khó khăn. Đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội
* Đối với người khuyết tật chưa được học nghề
Đối với người khuyết tật chưa qua học nghề tỷ lệ có việc làm là rất
ít chỉ có 3% trong tổng số 32 người hầu hết công việc người khuyết tật
không tìm được việc làm chiếm tỷ lệ lớn 56%. Đây là những người khuyết
tật có nhu cầu làm việc, có thể làm việc song họ không thể tìm được việc
làm. Bên cạnh đó có một bộ phận khá lớn người khuyết tật không đủ sức
khỏe để làm việc chỉ ở nhà phụ giúp gia đình trong việc buôn bán nhỏ hoặc
không làm gì chiếm tỷ lệ 38%. Phân tích sâu hơn về người khuyết tật không
14
tìm được việc làm chủ yếu tập trung vào việc người khuyết tật đã cố gắng đi
xin việc nhưng không được nhận vào làm việc tại các cơ quan, doanh
nghiệp hay đáng nói hơn cả là việc người khuyết tật đang làm việc nhưng
bỏ việc không tiếp tục làm nữa. Tình trạng người khuyết tật không có thông
tin vẫn xảy ra đối với một số ít người khuyết tật.
* Đối với người khuyết tật đã được học nghề:
Không phải hầu hết NKT đều có được việc làm sau khi học nghề.
Thực tế qua 68 người có việc làm có 47% tìm kiếm được việc làm sau khi
học nghề, một phần lớn khác người khuyết tật không tìm kiếm được việc
làm mặc dù đã được đào tạo nghề. Trong số những người khuyết tật đã qua
đào tạo nghề có một số không nhỏ người khuyết tật không có nhu cầu làm
việc (10 người chiếm tỷ lệ 15%), lý do có thể kể đến là do bản thân họ chưa
tự nỗ lực hoặc do đặc điểm về dạng tật, tâm lý chán nản không muôn làm
việc. Như vậy, có thể thấy vai trò của các cơ quan cung cấp dịch vụ là còn
khá hạn chế trong việc hỗ trợ người khuyết tật có được việc làm sau khi
được đào tạo nghề hoặc do đặc điểm cá nhân của người khuyết tật làm họ
mặc cảm, tự ti không muốn làm việc mặc dù đã được đào tạo nghề.
2.2.2. Thực trạng các hoạt động hỗ trợ kết nối học nghề với việc
làm cho người khuyết tật tại thành phố Đà Nẵng
cơ hội ứng dụng các kiến thức mình đã được học vào trong cuộc sống để
làm ra của cải vật chất.
2.2.2.3 Hỗ trợ tìm kiếm nguồn lực tạo việc làm tại chỗ cho người
khuyết tật
Từ trước đến nay hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật như tạo một nền
tảng hay cung cấp nguồn lực ban đầu để kinh doanh, làm việc kiếm sống.
16
Thành phố Đà Nẵng tập trung rất nhiều nguồn lực cũng như vận động các
tổ chức, cá nhân chung tay hỗ trợ cho người khuyết tật trong đó có hỗ trợ
sinh kế cho người khuyết tật để tham gia lao động.
Người khuyết tật vay vốn mà không biết làm gì, đây là một điều mà
các nhà hoạch định chính sách cần quan tâm vì các hoạt động hỗ trợ của
chúng ta dường như chưa hướng tới mục tiêu trợ giúp hiệu quả cho NKT.
Như vậy ngoài những hoạt động như tư vấn việc làm, giới thiệu việc làm
hoặc đào tạo nghề thì cần mở thêm các buổi hội thảo, tập huấn chuyên đề
về những lĩnh vực liên quan tới kinh doanh nhỏ.
Hỗ trợ người khuyết tật học nghề phi chính quy là một chính sách
khác biệt của thành phố Đà Nẵng so với các địa phương khác. Tuy nhiên rất
ít người khuyết tật biết đến mô hình này, điều đó cho thấy sự thiếu thông tin
của người khuyết tật về các chính sách của thành phố cũng như sự thiếu sát
sao trong công tác tuyên truyền của chính quyền địa phương. Chúng ta cần
có những cải thiện trong công tác này trong thời gian đến.
2.3. Thực trạng của các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kết nối
học nghề với việc làm cho người khuyết tật
2.3.1. Thực trạng yếu tố bản thân người khuyết tật
2.3.2. Thực trạng yếu tố về thể chế
2.3.3. Thực trạng yếu tố về các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ
2.3.4. Thực trạng yếu tố về đội ngũ nhân viên công tác xã hội
cộng đồng dân cư về bảo vệ, chăm sóc và trợ giúp người khuyết tật.
- Tạo cơ chế, khuyến khích các doanh nghiệp tự đào tạo nhân lực để
đáp ứng nhu cầu tuyển dụng đối với các vị trí, ngành nghề đơn giản phù
18
hợp với điều kiện của người khuyết tật hay thành lập các doanh nghiệp xã
hội trên địa bàn thành phố nhằm hỗ trợ học nghề và tạo việc làm tại chỗ cho
người khuyết tật nói riêng và các đối tượng yếu thế trên địa bàn thành phố
nói chung.
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ kết nối học nghề với việc
làm cho người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
3.2.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội trong hỗ trợ kết
nối học nghề với việc làm đối với các đơn vị, trung tâm thực hiện chức
năng liên quan học nghề, tư vấn việc làm
Các trung tâm DVVL, trung tâm CTXH, trung tâm giáo dục nghề
nghiệp và các UBND cần có sự trao đổi qua lại thông tin với nhau về vấn đề
người khuyết tật đang học nghề, có nhu cầu việc làm thông qua việc ứng
dụng hệ thống thông tin. Trong khuôn khổ dự án “Toàn diện và tích hợp trợ
giúp người khuyết tật” giai đoạn 2013-2015 của tổ chức USAID đã xây
dựng cho thành phố một hệ thống thông tin quản lý người khuyết tật. Hệ
thống này lưu trữ thông tin của hơn 151.000 người khuyết tật với tất cả các
mức độ khuyết tật. Việc tích hợp phần mềm này vào công tác kết nối học
nghề và giải quyết việc làm cho người khuyết tật là hoàn toàn có thể.
3.2.2. Giải pháp về cơ chế, chính sách thúc đẩy hiệu quả việc hỗ
trợ kết nối học nghề với việc làm đối với người khuyết tật
Thông qua thực trạng hiện nay cũng như báo cáo về tình hình trợ
giúp người khuyết tật, chính sách dạy nghề kết hợp với giải quyết việc làm
tại chỗ (dạy nghề phi chính quy) đang nhận được sự ủng hộ cao từ người
khuyết tật. Đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nên có hướng
20
Một thực trạng hiện nay là nhân viên công tác xã hội tại địa phương
đang rất thiếu về cả số lượng lẫn chất lượng. Một nhân viên đang phải kiêm
nhiệm quá nhiều việc dẫn đến các hoạt động trợ giúp nói chung và hỗ trợ
kết nối việc làm cho người khuyết tật sau khi học nghề nói riêng là không
hiệu quả. Cần có một đội ngũ nhân viên công tác xã hội đủ về số lượng, đáp
ứng tiêu chuẩn về kiến thức kỹ năng để từ đó công tác hỗ trợ được hiệu quả.
Bên cạnh đó, cần xác định tư tưởng trong đội ngũ nhân viên làm công tác
hỗ trợ việc làm đối với NKT dù là ở các đơn vị nào thì trước hết phải xác
định đó là nhân viên CTXH thực hành công tác xã hội với NKT.
3.2.5. Giải pháp xây dựng các mô hình trợ giúp kết nối học nghề
với việc làm cho người khuyết tật trong cộng đồng
Xây dựng mô hình doanh nghiệp xã hội tích hợp với bán trú dành
riêng cho người khuyết tật là mô hình mà thông qua nghiên cứu này muốn
đề xuất xây dựng. Doanh nghiệp xã hội được hiểu một cách chung nhất là
những doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Nó
được thành lập với mục tiêu là để giải quyết một vấn đề xã hội nào đó mà
doanh nghiệp đó theo đuổi, phần lớn lợi nhuận thu được dùng để phục vụ
mục tiêu xã hội và môi trường. Doanh nghiệp xã hội sẽ là nơi để người
khuyết tật có thể học một số ngành nghề đơn giản phù hợp với sức khỏe,
trình độ của mình và làm việc ngay cho chính doanh nghiệp đó nhằm tạo ra
sản phẩm mang lại thu nhập. Việc thành lập doanh nghiệp xã hội sẽ tạo ra
một môi trường làm việc mà ở đó hầu hết là người khuyết tật từ với những
dạng tật khác nhau, những hoàn cảnh khác nhau nhưng họ có chung với
nhau một điều đó là sự khiếm khuyết. Đây có lẽ là nơi người khuyết tật
được sống trong chính thế giới mà vừa được làm việc vừa nhận được sự sẽ
chia của đồng nghiệp cũng như cộng đồng xung quanh.
21
những vấn đề lý luận về các nội dung của hỗ trợ tư vấn việc làm trước và
sau khi học nghề, hỗ trợ giới thiệu việc làm, hỗ trợ kết nối nguồn lực để tạo
việc làm tại chỗ cho với người khuyết tật và vai trò của nhân viên công tác
xã hội trong các hoạt động hỗ trợ này. Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ kết
nối học nghề với việc làm đối với người khuyết tật từ các yếu tố thuộc về
bản thân người khuyết tật, các yếu tố từ cơ sở cung cấp dịch vụ, yếu tố
thuộc về đội ngũ nhân viên công tác xã hội đến các yếu tố về cơ chế, chính
sách cũng được phân tích làm rõ.
Nghiên cứu cũng đã đưa ra được vài nét về địa bàn nghiên cứu, khách
thể nghiên cứu, thực trạng người khuyết tật và nhu cầu hỗ trợ kết nối học
nghề với việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Đà Nẵng. Có thể nhận
23