Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố đà lạt, tỉnh lâm đồng - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG NỮ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT,
TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI ANH THỦY

Hà Nội, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về:“Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ
thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” là hoàn toàn trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Phan Thị Huyền



DVVL

Dịch vụ việc làm

HTVL

Hỗ trợ việc làm

LĐN

Lao động nữ

XKLĐ

Xuất khẩu lao động

LĐTBXH

Lao động - Thương binh và Xã hội

UBND

Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI
VỚI LAO ĐỘNG NỮ ................................................................................................... 11


phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội của quốc gia đó. Đối với
nước ta, hỗ trợ việc làm là giải quyết vấn đề cấp thiết trong xã hội đồng thời
là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần
chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nguồn lực
con người.
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới nền kinh tế của đất nước,
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến lao động nữ thông qua các chính
sách, luật pháp như: Bộ Luật Lao động, Luật Việc làm, Luật Bình đẳng giới…
cùng hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách hỗ trợ việc làm.
Trong đó đề cập đến những quyền cơ bản, bảo đảm cho phụ nữ được bình
đẳng về mọi mặt trong xã hội, tạo nhiều thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận tốt các
lĩnh vực giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, học nghề, lao động và việc
làm…
Thành phố Đà Lạt là trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ
của tỉnh Lâm Đồng, có tiềm năng phát triển nông nghiệp, dịch vụ, tốc độ tăng
trưởng duy trì ổn định, nhưng cũng đồng thời đối mặt với nhiều trở ngại khi
số lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ khá cao so với các huyện, thành phố trong
tỉnh và ngày càng biến động tăng cùng lượng dân nhập cư đến thành phố làm
việc, học tập. Điều này đặt ra cho các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể
của địa phương những thách thức trước việc xác định các biện pháp hữu hiệu

1


nhằm hạn chế những khó khăn đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận cơ hội
giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, việc làm, tạo thu nhập nuôi sống bản
thân, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động nói chung, đặc biệt
là đối tượng lao động nữ của địa phương.
Ở nước ta vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và

trường lao động bao gồm: lao động nữ, nông dân nghèo các vùng đặc biệt khó
khăn, người dân tộc thiểu số và lao động nữ [2]. Cuốn sách đã nêu một số giải
pháp nâng cao hiệu quả dạy nghề tạo việc làm bền vững cho lao động nữ mà
chủ yếu chỉ là nêu một số giải pháp chung về dạy nghề cho người lao động.
- Nghiên cứu “Việc làm cho người khuyết tật và người dễ bị tổn thương
khác tại Quảng Ninh, Hòa Bình và Lâm Đồng” do Ban Công tác xã hội Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện năm 2010 [1]. Nghiên cứu
đã chỉ ra các dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật trong mối tương quan với các
loại hình công việc. Những khó khăn trong quá trình tìm việc và làm việc của
nhóm người dễ bị tổn thương trong đó có lao động nữ cũng được nhóm tác
giả phân tích từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
làm cho các nhóm người dễ bị tổn thương.
- Luận văn thạc sĩ “Giải quyết việc làm cho lao động nữ tỉnh Quảng
Nam” của tác giả Lưu Thị Bích Ngọc (2011) đã đánh giá thực trạng cung ứng
việc làm nói chung và lao động nữ nói riêng, các chính sách hỗ trợ việc làm,
mối liên kết giữa doanh nghiệp và người lao động nữ [9]. Đề tài đã phân tích
cơ hội việc làm cho lao động nữ ngoài các yếu tố chính sách và thực thi của
nhà nước, một số các yếu tố khác cần được xem xét như: cách nhìn xã hội
trong đó có người tuyển dụng lao động; trình độ và khả năng làm việc của lao
động nữ. Trên cơ sở các yếu tố trên tác giả nêu ra những giải pháp trong việc
giải quyết việc làm cho lao động nữ.
- Luận văn thạc sĩ “Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên từ thực
tiễn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Đào Thị Tỉnh (2015) ngoài

3


việc trình bày cơ sở lý luận về hỗ trợ giải quyết việc làm, tác giả cũng đã phân
tích vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ giải quyết việc làm đối
với thanh niên [19]. Đề tài đã khảo sát, đánh giá các thực trạng hỗ trợ giải
quyết việc làm thông qua nhiều hình thức như hỗ trợ vốn vay, xuất khẩu lao

làm.
Cuốn sách “Thực trạng lao động - việc làm và xuất cư 5 năm qua của
tỉnh Lâm Đồng” (thời kỳ 2011-2015) của Sở Lao động - Thương binh và Xã
hội phối hợp với Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng thực hiện [4], cuốn sách đã
phân tích đánh giá thực trạng lao động, việc làm và xuất cư 5 năm qua của
tỉnh nhằm phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu, xây dựng các chiến lược
quy hoạch và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đào tạo nghề, giải quyết
việc làm và nhiều chính sách khác, qua đó đã đề ra các giải pháp có liên quan
đến lĩnh vực lao động và việc làm của tỉnh trong thời gian tới.
Nhìn chung, tác giả của các công trình nghiên cứu ở trên đã có những
cách tiếp cận khác nhau hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp về vấn đề chính
sách hỗ trợ việc làm. Đó là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá giúp cho tác
giả có những thông tin cần thiết để kế thừa và phát triển trong luận văn thạc sĩ
của mình. Riêng về chính sách HTVL cho LĐN đã được nhiều đề tài trong
nước nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau và từ đó có nhiều đề xuất, đóng
góp nhằm cải thiện, hoàn chỉnh việc hoạch định một số chính sách phù hợp
hơn. Nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ việc làm cho lao động nữ, từ tư vấn
việc làm, giới thiệu việc làm đến hỗ trợ dạy nghề, hỗ trợ tự tạo việc làm chưa
được các đề tài đề cập đến nhiều.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về chính sách HTVL
cho LĐN; từ thực tiễn thực hiện chính sách HTVL cho LĐN tại thành phố Đà
Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu

5


quả trong việc hoàn thiện và thực hiện chính sách HTVL cho LĐN góp phần
cải thiện các dịch vụ xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh

5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật
chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã
được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục
vụ cho quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài
liệu để: Phân tích những công trình nghiên cứu liên quan đến phụ nữ và người
lao động nữ, vấn đề chính sách HTVL cho LĐN. Đọc và phân tích các tài liệu
có liên quan, phân tích báo cáo của các cấp quản lý như báo cáo của Bộ
LĐTBXH, UBND tỉnh Lâm Đồng, UBND thành phố Đà Lạt, ngành
LĐTBXH thành phố Đà Lạt… tìm hiểu, đánh giá nhận xét tài liệu có liên
quan đến các chính sách và thực hiện chính sách HTVL cho LĐN.
5.2.2. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua các
tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp
ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử
dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và
kiểm tra độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát đặc điểm tâm
sinh lý, thể trạng, sức khỏe, thể chất, trình độ học vấn, hoàn cảnh sống, thái
độ... của lao động nữ, cụ thể:
Quan sát về môi trường, không gian sống và điều kiện sinh sống trong
sinh hoạt hằng ngày của lao động nữ; quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và
trạng thái tâm lý của lao động nữ; quan sát thực trạng đời sống kinh tế- xã hội
địa phương, thái độ, hành vi của người dân, gia đình, của chính quyền đối với
các vấn đề liên quan đến chính sách HTVL cho LĐN…Những quan sát này sẽ

7




góp phần giải quyết các vấn đề chung của xã hội đảm bảo thực hiện thắng lợi
công tác bình đẳng giới, nâng vị thế của người phụ nữ, nâng cao chất lượng
cuộc sống, đảm bảo công bằng xã hội. Từ lý luận về chính sách HTVL cho
LĐN và từ thực tiễn việc thực hiện chính sách HTVL cho LĐN tại thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm về cách nhìn
nhận, đánh giá về chính sách HTVL cho LĐN ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng nói riêng và trên cả nước nói chung.
Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết
về CSXH, lý thuyết về CTXH nói chung và CTXH đối với lao động nữ nói
riêng là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, từ đó góp phần hoàn
thiện chính sách HTVL cho lao động nữ ở nước ta nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả trong việc xây dựng cũng như tổ chức thực hiện. Là nguồn tài liệu
tham khảo hữu ích đối với những người có quan tâm đến lĩnh vực chính sách
xã hội nói chung và chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về
thực trạng chính sách HTVL đối với LĐN, qua đó có thể bổ sung vào công
tác đóng góp ý kiến, tham vấn chính sách pháp luật cho Nhà nước trong việc
hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với lao động nữ nói riêng và người lao động
nói chung, đồng thời nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách,
chương trình có liên quan đến phụ nữ cho toàn thể người dân biết và thực hiện
kiệp thời, có hiệu quả các chế độ, dịch vụ, chính sách thụ hưởng...
Kết quả nghiên cứu của đề tài, góp phần nâng cao nhận thức đối với
lãnh đạo chính quyền, các tổ chức, hội và đoàn thể các cấp hiểu rõ hơn về lý
luận chính sách HTVL cho LĐN ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và thực
tiễn từ kết quả thực hiện chính sách HTVL cho LĐN tại thành phố Đà Lạt,
tỉnh Lâm Đồng, từ đó định hướng góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng,

9


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC
LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ
1.1. Các khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Khái niệm việc làm
Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người vì nhờ nó
con người tạo thu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình
và các thành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con người tham gia
vào các hoạt động xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã
hội của mình.
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13, các nhà thống kê về lao động của Tổ
chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như
sau: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền
công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham
gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu
nhập gia đình, không nhận tiền công hay hiện vật” [3, tr.47]. Theo pháp luật
của Việt Nam quy định tại Khoản 1 Điều 9 Chương 2 của Bộ luật Lao động
cũng như tại Khoản 2 Điều 3 của luật Việc làm, đều định nghĩa: “Việc làm là
hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [13].
Như vậy, việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm tạo ra thu
nhập hoặc lợi ích cho bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm,
bao gồm:
- Việc làm hưởng lương: Những người làm các công việc được trả tiền
lương hoặc tiền công bằng tiền hoặc hiện vật theo hợp đồng lao động (bằng
văn bản hoặc bằng lời nói) với một người khác, tổ chức hoặc doanh nghiệp.
Lao động nữ thường phải đối mặt với nhiều rào cản để có được việc làm

11




người sử dụng lao động tiếp xúc và có thể đi đến những thỏa thuận tuyển
dụng [29, tr.32].
* Khái niệm đào tạo nghề
Cuốn “Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam” của Viện Khoa học lao động
và Xã hội và Tổ chức GIZ phối hợp xây dựng đã định nghĩa: “Đào tạo nghề
là việc cung cấp kỹ năng, kiến thức một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho
các cá nhân có đủ khả năng thực hiện công việc, nghề nghiệp hoặc một nhóm
công việc, nghề nghiệp phù hợp” [29, tr.29]. Theo Luật giáo dục nghề nghiệp,
đã có khái niệm: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể
tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học để nâng
cao trình độ nghề nghiệp” [12]. Khái niệm “Đào tạo nghề nghiệp” theo Luật
giáo dục nghề nghiệp là một khái niệm mới, đầy đủ và bao quát nhất.
* Khái niệm tự tạo việc làm
Bộ tài liệu Hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của Tổ
chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra khái niệm: “Tự tạo việc làm là một thuật
ngữ chỉ các hoạt động kinh tế ở cả các khu vực kinh tế chính thức và phi
chính thức do một cá nhân hoặc một nhóm sở hữu, tổ chức hoạt động và quản
lý” [30, tr.25]. Khu vực kinh tế chính thức được điều chỉnh bởi Chính phủ và
bao gồm việc làm trong khu vực công và tư nhân, ở đó người lao động được
thuê dựa trên hợp đồng với mức lương cùng với những lợi ích như lương hưu
và bảo hiểm y tế. Khu vực kinh tế phi chính thức là khu vực không được kiểm
soát trong nền kinh tế quốc gia. Khu vực kinh tế này bao gồm sản xuất nông
nghiệp quy mô nhỏ, giao thương nhỏ, các công ty gia đình, các đơn vị kinh
doanh nhỏ sử dụng một vài công nhân và nhiều hoạt động tương tự [30, tr.5].
1.1.3. Lao động nữ
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các



14


- Xét trên phương diện giới:
So với nam giới, điều kiện sinh hoạt của phụ nữ thường phức tạp hơn,
cũng do nhiều nguyên nhân chi phối nên lao động nữ thường có trình độ học
vấn thấp hơn nam giới, cộng thêm bản tính rụt rè, thiếu tự tin của người phụ
nữ đang là những trở ngại lớn cho người phụ nữ trong việc tìm kiếm việc làm
trên thị trường lao động.
- Điểm mạnh:
Phụ nữ là những người rất linh hoạt trong tìm kiếm việc làm, họ rất đa
năng, đa ngành nghề phù hợp thị trường lao động với những công việc giản
đơn, thời vụ, bán thời gian. Luôn làm việc có tinh thần chấp nhận khó khăn và
chi tiêu tiết kiệm, sẵn sàng làm nhiều việc, làm thêm giờ. Phụ nữ thường tính
toán chi li đồng vốn, quan tâm ở các mức đầu tư thấp, sinh lợi cao, lấy công
lao động làm lợi nhuận.
- Điểm yếu của lao động nữ:
Lao động nữ thường thiếu thông tin về thị trường lao động như: ngành
nghề, tiền lương và điều kiện tham gia. Thiếu am hiểu về các kỹ năng của
công việc đang làm và các kỹ năng nghề theo yêu cầu, dễ chấp nhận công
việc thu nhập thấp, việc làm không ổn định, dễ thay đổi việc làm, không quan
tâm nhiều đến pháp luật lao động. Khi mất việc làm phụ nữ dễ sa sút do tâm
lý và khó tìm ngay việc làm tốt hơn. Chi phí lương dành cho lao động nữ
thường không đủ trang trải cuộc sống cho bản thân, gia đình và để tái sản xuất
sức lao động.
Như vậy khi tìm hiểu về đặc điểm của lao động nữ trên các phương
diện giới và giới tính, điểm mạnh và điểm yếu của lao động nữ. Có thể thấy
rằng một trong những nhu cầu rất lớn, phổ biến của lao động nữ là nhu cầu
được biết thông tin về việc làm, các điều kiện để tham gia thị trường lao động


16


Như vậy có thể hiểu Chính sách là các chương trình hành động do các
nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc
phạm vi thẩm quyền của mình.
1.1.5.2. Chính sách xã hội
Chính sách xã hội là công cụ để đảm bảo nền an sinh xã hội. CSXH ở
một nghĩa rộng nhất được hiểu như một bộ phận cấu thành chính sách chung
của một Nhà nước, chính quyền hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết
vấn đề liên quan tới cuộc sống của con người, đến lợi ích của nhóm người
trong xã hội góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mục
tiêu của giai cấp, chính đảng.
CSXH được xem như sự định hướng hay những can thiệp liên quan tới
các vấn đề xã hội tạo nên sự thay đổi hoặc duy trì điều kiện sống đảm bảo an
sinh cho con người. Các CSXH được xây dựng nhằm cải thiện an sinh xã hội
và đáp ứng nhu cầu của con người như: y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở và an
toàn xã hội…
Dinitto & Dye (1983) định nghĩa về CSXH: “Tất cả những điều chính
quyền làm hoặc không làm mà ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi công dân”.
Theo định nghĩa tổng quát này thì CSXH có thể bao gồm tất cả những vấn đề
về thuế, quốc phòng, bảo vệ môi trường, giáo dục, y tế, nhà ở và những
chương trình cứu trợ. Và trong phạm vi hẹp có thể định nghĩa CSXH một
cách cụ thể là những hoạt động của chính quyền có mục đích tác động đến sự
an sinh của công dân thông qua những chương trình, dịch vụ tạo thu nhập, các
chính sách liên hệ trực tiếp đến chương trình xã hội có tính chất trợ giúp và
bảo hiểm với những nhóm đối tượng đặc biệt trong hoàn cảnh khó khăn.
Xét về nội hàm: CSXH thường hướng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị
của Đảng cầm quyền và Nhà nước trong từng thời kỳ, các CSXH thể hiện tính

tác động đến xã hội nhằm đạt được các mục tiêu nhà nước đã đề ra và cũng có
thể dẫn tới những tác động không mong muốn, thậm chí ngoài dự đoán phân

18


tích ban đầu.
Như vậy có thể hiểu thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động
nữ là thông qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao
quyền… các chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ việc làm cho lao động nữ
được thực thi và có tác động trực tiếp đến quyền lợi của lao động nữ.
1.2. Nội dung của chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ
1.2.1. Các quan điểm về việc làm và hỗ trợ việc làm cho lao động nữ
Việc làm có thể là lao động chân tay, lao động trí óc hoặc có thể cả lao
động chân tay và lao động trí óc. Việc làm có thể là những công việc thủ
công, truyền thống gia đình hoặc những công việc dựa vào công nghệ hiện
đại, đòi hỏi trình độ kiến thức, chuyên môn kỹ thuật hoặc tay nghề cao. Lao
động nữ có việc làm hưởng lương thông qua tuyển dụng của cơ quan, tổ chức,
doanh nghiệp, cá nhân; hoặc có việc làm tự chủ do bản thân người lao động
nữ, gia đình, nhóm lao động nữ tổ chức hoạt động sản xuất, dịch vụ, thương
mại tự tạo việc làm.
Theo Từ điển Tiếng Việt, từ “hỗ trợ” được giải nghĩa là: “Giúp đỡ lẫn
nhau, giúp đỡ thêm vào” [8, tr.457]. Hỗ trợ việc làm là các hoạt động trợ giúp
để lao động nữ có việc làm. Có nhiều hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao
động nói chung cũng như cho người lao động nữ nói riêng. Trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn, tác giả chủ yếu tập trung vào các nội dung sau:
* Hỗ trợ tư vấn việc làm
Trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau nên lao động nữ chưa
thể đi làm vì sinh con và nuôi con…. Một số lao động nữ còn chưa nắm được
thông tin về loại hình công việc, mức lương, thời gian làm việc nên e ngại

gỡ bỏ những rào cản để họ có thể tiếp cận được tới dịch vụ hỗ trợ việc làm.
* Hỗ trợ giới thiệu việc làm
Sau hoạt động tư vấn việc làm, hoạt động giới thiệu việc làm là công cụ

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status