Tiểu luận Trợ giúp xã hội Th.s Nguyễn Trung Hải
Mục lục
I. Lý do chọn đề tài: “Chính sách hỗ trợ việc làm cho người nông dân bị
thu hồi đất nông nghiệp tại xã Cẩm Lý–Lục Nam–Bắc Giang”……………….1
II. Cơ sở lý luận của Chính sách hỗ trợ việc làm cho người nông dân bị
thu hồi đất nông nghiệp tại xã Cẩm Lý–Lục Nam–Bắc Giang……………… 2
III.Thực trạng Chính sách hỗ trợ việc làm cho người nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp tại xã Cẩm Lý–Lục Nam–Bắc Giang…………………………2
1. Tổng quan về xã Cẩm Lý–Lục Nam–Bắc Giang …………………… 2
1.1 Những đặc điểm có liên quan…………………………………………… 2
1.2 Thực trạng việc sử dụng tiền bồi thường thu hồi đất của người nông dân
xã Cẩm Lý …………………………………………………………………………4
2. Hoạt động đào tạo nghề cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
tại xã Cẩm Lý–Lục Nam–Bắc Giang………………………………………….….5
3. Những kết quả đã đạt được và hạn chế của hoạt động đào tạo nghề đối
với người nông dân bị thu hồi đất tại xã Cẩm Lý_Lục Nam_Bắc Giang……….10
4. Những giải pháp, kiến nghị để khắc phục những hạn chế của hoạt động
đào tạo nghề tại xã Cẩm Lý_Lục Nam_Bắc Giang………………………… 13
IV.Kết luận………………………………………………………………… 15
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………………… 15
SVTH: Nguyễn Thị Ngân Lớp: Đ3CT3
1
Tiểu luận Trợ giúp xã hội Th.s Nguyễn Trung Hải
I. Lý do chọn đề tài: “Chính sách hỗ trợ việc làm cho người nông dân bị
thu hồi đất nông nghiệp tại xã Cẩm Lý–Lục Nam–Bắc Giang”.
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trong những năm qua đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn, bên cạnh đó nó cũng đem lại rất nhiều khó khăn,
thách thức. Cùng với việc gia tăng của các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất…
là sự giảm dần diện tích đất nông nghiệp, ô nhiễm môi trường và nhiều tác động
tiêu cực khác. Những năm gần đây, quá trình đô thị hóa kéo theo nhu cầu xây dựng
các Khu Công Nghiệp, cơ sở hạ tầng và đất ở đô thị đặt người dân bị thu hồi đất
nhằm giúp người lao động có hoạt động lao động không bị pháp luật cấm và đem
lại thu nhập cho họ.
_ Khái niệm Người nông dân: Người nông dân là người trực tiếp sản xuất và
có nguồn sống chủ yếu sản xuất nông nghiệp.
_ Khái niệm đất nông nghiệp: là đất được xác định chủ yếu sử dụng vào mục
đích trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng hoặc nghiên cứu thí
nghiệm của Nhà Nước. ( Theo Luật Đất đai 2003 )
_ Khái niệm thu hồi đất: là việc Nhà Nước ra quyết định hành chính để thu lại
quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị
trấn.( Theo nghị định số 197/2004/NĐ-CP )
> Trên cơ sỏ những khái niệm trên, chúng tôi đưa ra cách hiểu về chính
sách hỗ trợ việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp: là những sách
lược và kế hoạch cụ thể nhằm trợ giúp người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
thay đổi cơ cấu ngành nghề, có việc làm và có thu nhập để nuôi sống bản thân và
gia đình.
III.Thực trạng Chính sách hỗ trợ việc làm cho người nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp tại xã Cẩm Lý–Lục Nam–Bắc Giang.
1. Tổng quan về xã Cẩm Lý–Lục Nam–Bắc Giang .
1.1 Những đặc điểm có liên quan.
SVTH: Nguyễn Thị Ngân Lớp: Đ3CT3
3
Tiểu luận Trợ giúp xã hội Th.s Nguyễn Trung Hải
Cẩm Lý là một xã miền núi của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Được thành
lập ngày 21/01/1957 theo Nghị định số 24/TTg, có tổng diện tích là: 2.802 ha, dân
số có 8.058 người, gồm 3 dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Tày, chung sống ở 18 thôn xóm,
địa giới hành chính được bao bọc bởi 2/3 dãy núi Huyền Đinh, có dòng sông Lục
Nam bao quanh 1/4 xã, có dãy núi Bắc Nồi, núi Kim Xa, núi Hòn Tròn và núi Hòn
Chấu. Tạo thành lòng chảo, thế chân kiềng vòng chòn án ngữ trục đường 17 và đệ
tứ chiến khu Đông Triều và vùng rừng núi. Đây là vị trí địa lý quan trọng có ý
nghĩa chiến lược của Lục Ngạn trước đây.
hơn những bất cập đang đặt ra đối với vấn đề này.
Bảng số liệu dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn mục đích sử dụng tiền bồi
thường thu hồi đất của người nông dân.
Thứ tự Mục đích sử dụng tiền bồi thường thu hồi đất nông
nghiệp của người dân
Tỷ lệ %
1 Xây nhà 57,5
2 Mua đồ dùng 8,72
3 Đầu tư cho sản xuất phi nông nghiệp 1,27
4 Đầu tư cho học nghề 2,55
5 Gửi tiết kiệm 18,2
6 Khác 11,76
( Theo Điều tra của Đại học Kinh tế Quốc dân)
Nhìn vào bảng số liệu trên cho ta thấy: Phần lớn số tiền bồi thường thu
hồi đất người dân sử dụng để xây nhà chiếm 57,5 %; trong khi việc đầu tư vào sản
xuất phi nông nghiệp chỉ chiếm có 1,27%; đầu tư cho học nghề chiếm 2,55%; sử
dụng mua đồ dùng chiếm 8,72%; dùng để gửi tiết kiệm chiếm 18,2%; dùng vào
việc khác chiếm 11,76% lần lượt gấp 45,28 lần; 22,55 lần; 6,6 lần; 3,16 lần; 4,89
lần.
Như vậy, tuy chính sách thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường giải phóng mặt
bằng, hỗ trợ tái định cư đã được đổi mới, hoàn thiện, đảm bảo người nông dân
SVTH: Nguyễn Thị Ngân Lớp: Đ3CT3
5
Tiểu luận Trợ giúp xã hội Th.s Nguyễn Trung Hải
được trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư xứng đáng với giá trị quyền sử dụng
đất nông nghiệp bị thu hồi theo cơ chế thị trường Nhưng ta thấy rằng một trong
những hạn chế chủ yếu trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện có của Nhà Nước cũng
như các doanh nghiệp chỉ ra là việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả
trực tiếp tiền cho người dân bị thu hồi đất, người nông dân với khả năng quản lý tài
chính hạn chế, nhận được khoản tiền bồi thường lớn, đa số nông dân thường sử
Thứ tư, là trình độ học vấn của người dân còn thấp, chưa quen với tác phong
công nghiệp do vậy mà không đáp ứng được nhu cầu của các công ty.
SV:Vâng, xin ông cho biết cán bộ xã đã có giải pháp gì để giải quyết những
khó khăn trên chưa?
Ông Tùng: Chúng tôi dự định là sẽ xin vốn đầu tư của các cấp trên đồng thời
kêu gọi sự hỗ trợ của các dự án và doanh nghiệp trên địa bàn xã để có đủ nguồn
vốn cho việc đào tạo. Bên cạnh đó,tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng
cho người dân biết cách sử dụng vốn và nhận thức được vai trò quan trọng của
việc đào tạo nghề.
SV: Vâng cảm ơn ông đã trả lời phỏng vấn.Chào ông!
Từ việc đánh giá và xác định số lao động khu vực thu hồi đất nông nghiệp bị
ảnh hưởng để có kế hoạch đào tạo sử dụng lao động (số hộ gia đình bị thu hồi đất
nông nghiệp chia theo diện tích đất bị thu hồi; lao động chia theo độ tuổi trình độ,
giới tính; tình trạng việc làm; nhu cầu đào tạo lao động và nhu cầu tuyển dụng của
các doanh nghiệp trên địa bàn ). Ban lãnh đạo xã đã đưa ra kế hoạch tổ chức, chỉ
đạo, tuyên truyền hướng dẫn cho người lao động ở các địa phương nhận thức được
vai trò quan trọng của việc học nghề cũng như các chính sách hỗ trợ nghề của địa
SVTH: Nguyễn Thị Ngân Lớp: Đ3CT3
7
Tiểu luận Trợ giúp xã hội Th.s Nguyễn Trung Hải
phương đối với những người dân gặp khó khăn do việc thu hồi đất để khuyến
khích người dân tham gia nhiệt tình hơn.
Trích đoạn phỏng vấn sâu giả định bác Lê thị Mơ, một người dân bị thu hồi
đất:
SV: Chào bác, xin bác cho biết suy nghĩ của mình về việc bị thu hồi đất?
Bác Mơ: Chị biết rùi đấy, người nông dân như chúng tôi quanh năm chỉ biết
bám vào mảnh đất để sinh sống đã bao nhiêu năm nay, giờ không còn đất nữa
chúng tôi biết làm gì để sinh sống đây ?
SV: Dạ thưa bác, thế số tiền được bồi thường bác đã sử dụng như thế nào?
Bác Mơ: Số tiền đó ư, tôi mua xe máy, xây cái công trình phụ có còn lại được
3 Mây, tre ,đan 20 25 44.44 55.56 100
4 Sửa chữa xe
máy
31 4 88.5
7
11.43 100
5 Điện tử 34 6 85 15 100
( Theo Kết quả điều ta giả định )
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy giữa các loại hình ngành nghề thì chúng ta
có thể thấy sự khác nhau cả về số lượng và giới tính.
Trong đó:
_ Nghề may là nghề có số lượng người học nhiều nhất 55 (người) chiếm
27,5% trong tổng số người học; trong đó nam giới chiếm 18.49%, nữ giới chiếm
81.81%.
_ Đứng thứ 2 là nghề mây, tre , đan 45( người) chiếm 22.5% trong tổng số
người học; trong đó nam giới chiếm 44.44%, nữ giới chiếm 55.56%.
_ Đứng thứ 3 là nghề điện tử 40 (người) chiếm 20% trong tổng số người học;
trong đó nam giới chiếm 85%, nữ giới chiếm 15%.
_ Đứng thứ 4 là nghề sửa chữa xe máy 35(người) chiếm 17,5% trong tổng số
người học; trong đó nam giới chiếm 88.57%, nữ giới chỉ chiếm 11,43%.
SVTH: Nguyễn Thị Ngân Lớp: Đ3CT3
9
Tiểu luận Trợ giúp xã hội Th.s Nguyễn Trung Hải
_ Đứng thứ 5 là nghề giầy da 25( người) chiếm 12,5% trong tổng số người
học; trong đó nam giới chiếm 20%, nữ giới chiếm 80%.
Như vậy, ta có thể thấy số lượng người học nghề may chiếm tỷ lệ cao nhất
mà hầu hết là nữ giới. Nguyên nhân là do :
+ Hầu hết phụ nữ ở xã bị thu hồi đất đều sống chủ yếu bằng nghề nông
nghiệp, trình độ học vấn còn nhiều hạn chế, thích học nghề may vì nghề này đào
tạo trong một thời gian tương đối ngắn và kĩ thuật thường giản đơn, dễ học.
Số lượng nam nữ đã tìm được
việc làm sau khi được đào
tạo(người)
Tỷ lệ % so với số
lượng nam nữ đã
được đào tạo
Nam Nữ Nam Nữ
1 May 5 40 50 88.89
2 Giầy da 1 11 20 55
3 Mây, tre, đan 12 22 60 88
4 Sửa chữa xe
máy
26 1 83.87 25
5 Điện tử 30 2 88.24 33.33
(Theo kết quả điều tra giả định)
Nhìn vào bảng số liệu trên cho ta thấy số lượng người tìm được việc làm sau
khi đào tạo là khá cao và có sự khác nhau giữa các ngành nghề và theo giới tính:
_ Đối với nam giới:
+ Nghề có số người đã tìm được việc làm nhiều nhất là nghề điện tử đạt
88.24% so với số lượng người đã được đào tạo trong ngành nghề đó.
+ Đứng thứ hai là nghề sửa chữa xe máy với số người đã tìm được việc làm
đạt 83.87% so với số lượng người đã được đào tạo trong ngành nghề đó.
+ Đứng thứ ba là nghề mây, tre, đan với số người đã tìm được việc làm đạt
60% so với số lượng người đã được đào tạo trong ngành nghề đó.
+ Đứng thứ tư là nghề may với số người đã tìm được việc làm đạt 50% so với
số lượng người đã được đào tạo trong ngành nghề đó.
SVTH: Nguyễn Thị Ngân Lớp: Đ3CT3
11
Tiểu luận Trợ giúp xã hội Th.s Nguyễn Trung Hải
+ Cuối cùng nghề có số người đã tìm được việc làm ít nhất là nghề giầy da
người dân trước
khi có
việc làm
(1000vnđ/tháng)
Thu nhập bình
quân của
người dân sau
khi có
việc làm
(1000vnđ/tháng)
Số thu nhập
tăng
lên(lần)
May 500 1300 2.6
Giầy da 400 1000 2.5
Mây, tre, đan 600 1550 2.58
Sửa chữa xe máy 750 2000 2.67
Điện tử 900 2500 2.78
(Theo kết quả điều tra giả định)
Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy thu nhập bình quân hàng tháng của người
dân trước khi tìm được việc và sau khi tìm được việc được tăng lên đáng kể ở tất
cả các ngành nghề đã được đào tạo.Trong đó, nghề điện tử là nghề có số lần tăng
thu nhập từ trước khi tìm được việc làm và sau khi tìm được việc làm cao nhất gấp
2.78(lần), thứ hai là nghề sử chữa xe máy tăng gấp 2.67(lần), thứ ba là nghề mây,
tre ,đan tăng gấp 2.58(lần), thứ tư là nghề may tăng gấp 2.6(lần), cuối cùng là nghề
có số lần tăng ít nhất 2.5(lần) là nghề giầy da.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được hoạt động đào tạo nghề còn
tồn tại một số hạn chế như sau:
_ Còn tồn tại một bộ phận không nhỏ người dân bị thu hồi đất gặp khó khăn
trong việc chuyển nghề và tìm kiếm việc làm mới là do không đáp ứng được yêu
tài trợ. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở đào tạo nghề.
+ Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền và nâng cao hơn nữa vai trò của các đơn vị
đoàn, hội tại địa phương nhằm phổ biến các chính sách ưu đãi của Nhà nước,
thành phố về hỗ trợ người dân học nghề, để người dân nằm trong diện bị thu hồi
SVTH: Nguyễn Thị Ngân Lớp: Đ3CT3
14
Tiểu luận Trợ giúp xã hội Th.s Nguyễn Trung Hải
đất canh tác hiểu rõ được ý nghĩa của công tác đào tạo nghề nhằm chuyển đổi nghề
nghiệp, giúp họ yên tâm với cuộc sống mới.
+Tăng cường hỗ trợ tiền học phí, miễn phí để khuyến khích người dân tích
cực tham gia học nghề.Tìm hiểu nhu cầu học nghề của người dân, để có thể đáp
ứng một cách có hiệu quả nhất.
_ Tăng cường chất lượng và số lượng hoạt động đào tạo nghề.
+ Đa dạng hoá các loại hình trường lớp đào tạo, thực hiện người học nghề và
người sử dụng lao động cùng đóng góp kinh phí theo phương thức nhà nước và
nhân dân cùng làm. Cần chú trọng đặc biệt tới tăng dần tỷ trọng đầu tư cho đào tạo
nghề dài hạn
+ Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho nông dân thì bản thân cơ sở đào tạo
nghề này phải phát huy nội lực và sự giúp đỡ của cơ quan quản lý Nhà nước.
Chẳng hạn tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề… Thực hiện chủ
trương xã hội hoá và sự tham gia của DN trong việc đào tạo nghề, rồi đến việc cải
tiến trương trình giảng dạy, nâng chuẩn của giáo viên. Đồng thời các cơ sở đào tạo
và người nông dân phải tiếp cận gần hơn với thị trường lao động.
+ Yêu cầu hoặc khuyến khích các doanh nghiệp đóng tại địa phương, đặc biệt
là doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi ưu tiên sử dụng lao động địa phương.
+Tăng cường liên kết với các công ty, doanh nghiệp để tạo việc làm cho
người lao động.
+ Lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề; tăng cường tư vấn dịch vụ hướng nghiệp và
dạy nghề, nhất là đối tượng 15-30 tuổi, đồng thời đào tạo tại chỗ chuyển đổi nghề
đối với lao động trên 35 tuổi với những công việc không đòi hỏi kỹ năng phức tạp.