bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
trêng ®¹i häc n«ng l©m tp hå chÝ minh
********* Tªn ®Ò tµi:
TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN NHÃN HIỆU CHỨNG NHẬN
"ĐÀ LẠT" CHO SẢN PHẨM HOA ĐỊA LAN
CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
GVHD: TS TrÇn §¾c D©n
HVTH: Th¸i Quèc Long
L©m §ång, th¸ng 10/2012
Mục lục
Mở đầu
Phần I. Thông tin chung về dự án
Tài liệu tham khảo
PHỤ LỤC
Phụ lục 01. Kết quả khảo sát chất lượng mẫu hoa địa lan
Phụ lục 02. Các cơ sở tham gia sử dụng NHCN Hoa Đà Lạt
Phụ lục 03. Sổ quản lý các cơ sở tham gia sử dụng NHCN Hoa Đà Lạt
Mục lục hình ảnh, sơ đồ, đồ thị
Hình 1, 2, 3: Hình thái ngoài, Cành Hoa địa lan Cymbidium.
Hình 4- Quy mô sản xuất theo diện tích , Hình 5 – Thị trường địa lan Đà Lạt
Mục lục bảng biểu
Bảng 1- Bảng phân bổ số lượng và vị trí các cơ sở khảo sát
Bảng 2 - Bảng phân bổ sử dụng giống lan Cymbidium sản xuất của các cơ sở
Bảng 3 - Bảng khảo sát tình trạng ứng dụng kỹ thuật tại các cơ sở
Bảng 4 - Bảng kết quả nhận biết và áp dụng tiêu chuẩn
Bảng 5 - Bảng ý kiến về các chỉ tiêu chất lượng
Bảng 6 - Nhận thức và sự sẵn sàng tham gia sử dụng NHCN hoa Đà Lạt
Bảng chữ viết tắt
CDĐL Chỉ dẫn địa lý
CNC Công nghệ cao
CNSH Công nghệ sinh học
Cơ sở Doanh nghiệp, cơ sở, hộ gia đình sản xuất kinh doanh
KHCN, KH&CN Khoa học và công nghệ
NHCN Nhãn hiệu chứng nhận
NHTT Nhãn hiệu tập thể
NN Nông nghiệp
NNPTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTCNCL Phân tích và chứng nhận chất lượng
SHTT Sở hữu trí tuệ
UBND Ủy ban nhân dân
Mở đầu
trồng địa lan với quy mô 200 chậu (đơn vị) trở lên. Tổng số chậu ước tính khoảng 2 triệu, gồm
cây ở các độ tuổi khác nhau. Giá hoa địa lan cắt cành khoảng 40.000-70.000 đồng/cành và
100.000 - 150.000 đồng/cành/chậu trong dịp Tết và lễ hội. Đặc biệt, hoa địa lan chỉ được trồng
tại Đà Lạt là một ưu thế rất lớn để tạo thương hiệu và tăng khả năng sản xuất phục vụ thị trường
nội tiêu và xuất khẩu.
Hoa địa lan Đà Lạt đã và đang mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, góp phần
ổn định và phát triển kinh tế, xã hội cho thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, việc
trồng, canh tác, kinh doanh hoa địa lan hiện nay mang tính tự phát, sản phẩm đưa ra thị trường
chất lượng chưa đồng đều; đặc biệt, nhiều tổ chức, cá nhân lợi dụng danh tiếng của hoa địa lan
Đà Lạt đã chào bán và đưa ra thị trường hoa địa lan mang thương hiệu Đà Lạt nhưng lại không
có xuất xứ từ Đà Lạt. Nguyên nhân một phần do các tổ chức, cá nhân trồng và kinh doanh hoa,
các cơ quan có trách nhiệm chưa đưa ra thị trường sản phẩm hoa có chất lượng đồng đều cũng
như chưa có phương pháp hữu hiệu giúp cộng đồng, người tiêu dùng nhận biết và phân biệt
được hoa địa lan có xuất xứ từ Đà Lạt với hoa địa lan được trồng, canh tác từ khu vực khác. Do
đó, việc xây dựng, quản lý và phát triển NHCN cho sản phẩm hoa địa lan Đà Lạt là rất cần thiết.
Dự án giúp các doanh nghiệp, các hộ nông dân trồng và kinh doanh hoa nâng cao nhận
thức về giá trị tài sản trí tuệ, biết xây dựng và phát triển các tài sản trí tuệ; giúp cho cơ quan
quản lý ở địa phương hiểu biết, điều hành quản lý và tổ chức sử dụng NHCN góp phần tăng
sức cạnh tranh về giá trị sản phẩm và phát triển thương hiệu hoa Đà Lạt, góp phần nâng cao
hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Lạt nói riêng và cả tỉnh
Lâm Đồng nói chung.
Thông tin chung về dự án
1. Tên dự án: Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Đà Lạt” cho sản phẩm
hoa địa lan của thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
2. Thời gian thực hiện:
3. Cấp quản lý:
4. Tổ chức chủ trì thực hiện dự án:
5. Chủ nhiệm dự án:
6. Kinh phí thực hiện:
- Điều tra, thu thập, xác định các số liệu kỹ thuật về: quy trình ươm giống, quy trình
trồng và chăm sóc, quy trình đóng gói, gắn tem nhãn, quy trình thu hái và bảo
quản hoa địa lan trước khi bán ra thị trường .
- Xác định tổ chức chứng nhận – đồng thời là chủ sở hữu NHCN.
- Thiết kế, thống nhất lựa chọn mẫu NHCN.
- Xây dựng, thống nhất ý kiến về Quy chế quản lý sử dụng NHCN.
- Chuẩn bị tài liệu, lập và nộp đơn đăng ký NHCN.
8.2 Nội dung quản lý và phát triển NHCN
- Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý NHCN
+ Chỉ định đơn vị quản lý NHCN Hoa địa lan Đà Lạt;
+ Mô hình tổ chức hệ thống quản lý NHCN;
+ Bổ sung các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt
động của các cơ quan tham gia kiểm soát việc sử dụng NHCN.
- Xây dựng hệ thống các văn bản quản lý việc sử dụng NHCN
+ Quy trình cấp quyền sử dụng NHCN;
+ Quy chế sử dụng NHCN.
- Đăng ký mã số, mã vạch tại Trung tâm Tiêu chuẩn chất lượng
- Thuê khoán chuyên môn thiết kế, sản xuất tem, nhãn, bao bì sử dụng cho các sản
phẩm hoa địa lan Đà Lạt.
- Các quy trình, kỹ thuật canh tác/sản xuất sản phẩm gồm:
+ Quy trình ươm giống;
+ Quy trình trồng, chăm sóc;
+ Quy trình thu hái sản phẩm và bảo quản sản phẩm;
+ Quy trình đóng gói, gắn tem sản phẩm.
- Xây dựng hệ thống phương tiện, điều kiện quảng bá, khai thác giá trị NHCN
+ Thiết kế bộ tài liệu về giống và các sản phẩm hoa Địa lan phục vụ việc
quảng bá nhãn hiệu;
+ Thiết kế, phát hành các tài liệu giới thiệu hoa địa lan của thành phố Đà Lạt,
tỉnh Lâm Đồng và NHCN Hoa địa lan Đà Lạt;
- Mẫu thiết kế các tờ rơi quảng bá NHCN Hoa Đà Lạt
- Khung chương trình quảng bá Hoa địa lan Đà Lạt
- CD Video quảng bá
9.8 Bộ tài liệu đào tạo tập huấn.
- Tài liệu hướng dẫn thủ tục thực hiện việc tham gia sử dụng NHCN “Hoa Đà Lạt”
- Bộ quy định kỹ thuật hướng dẫn áp dụng cho việc ươm giống, trồng, chăm sóc, thu hái
và bảo quản Hoa địa lan sử dụng NHCN “Hoa Đà Lạt” gồm:
+ Quy trình ươm giống Hoa địa lan
+ Quy trình chăm sóc Hoa địa lan
+ Quy trình thu hái và bảo quản Hoa địa lan
+ Quy trình đóng gói, gắn tem nhãn Hoa địa lan
9.9 Báo cáo kết quả việc thực hiện triển khai nội dung quản lý và khai thác NHCN; kết
quả khai thác NHCN. (Báo cáo tổng hợp kết quả dự án).
Tổ chức thực hiện và quản lý dự án
Phần I. Kết quả thực hiện dự án
I.1 Nội dung công việc đã thực hiện
I.1.1 Điều tra thu thập, tổng hợp các thông tin
I.1.1.1 Khái quát về xây dựng NHCN gắn với địa danh
Nhằm mục đích thực hiện việc xây dựng thương hiệu gắn với địa danh Đà Lạt cho sản
phẩm hoa, nhóm thực hiện đã nghiên cứu các tài liệu liên quan đến kinh nghiệm về bảo hộ yếu
tố chỉ dẫn địa lý trong thương hiệu. Theo quy định của pháp luật SHTT của nước ta hiện nay, có
các hình thức bảo hộ địa danh trong thương hiệu gồm:
- Chỉ dẫn địa lý, Nhãn hiệu tập thể, Nhãn hiệu chứng nhận
Việc thực hiện bảo hộ địa danh theo hình thức chỉ dẫn địa lý đòi hỏi xác định được rõ
ràng (có thể đo lường một cách khoa học) các đặc thù của sản phẩm là do các đặc thù của vùng
địa lý đó tạo ra. Vấn đề này cần phải có các nghiên cứu để chỉ ra được bằng chứng đó, tốn nhiều
thời gian và tiền bạc. Việc quản lý chỉ dẫn địa lý thường được quy định chặt chẽ từ nguồn gốc,
cách thức chế tạo sản phẩm, do chính quyền quy định để đảm bảo các đặc tính riêng biệt của sản
phẩm. Nhờ việc quản lý chặt chẽ, nó tạo cơ sở có độ tin cậy cao cho việc xác lập uy tín đối với
người tiêu dùng. Chỉ dẫn địa lý được coi là tài sản quốc gia.
NHCN không chỉ là phù hợp theo quy định trong nước, mà cũng tương thích với quy định ở các
nước khác, ví dụ như ở Mỹ. Đối tượng đăng ký tham gia sử dụng NHCN có thể trực tiếp là các
hộ sản xuất kinh doanh nông sản hay là hợp tác xã tiêu thụ, việc này phụ thuộc thực tế quy mô
sản xuất và mức quan hệ trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Đối với sản phẩm hoa Đà
Lạt, việc chọn lựa mô hình có thể tương tự như các sản phẩm rau, trà, cà phê đã được xây dựng
NHCN ở tỉnh.
I.1.1.2 Về hoa Đà Lạt và hoa địa lan Đà Lạt
Đà Lạt được vinh danh là thành phố hoa bởi các điều kiện thiên nhiên ưu đãi cho các loài
hoa. Ở Đà Lạt không chỉ các nhà vườn trồng hoa quy mô, được canh tác với các ứng dụng công
nghệ tương đối khá so với cả nước, mà còn có thể thấy hoa dại mọc ở khắp nơi, đủ loại tạo nên
cho thành phố một vẻ đẹp rất riêng có. Vinh danh người trồng hoa, nghề trồng hoa tỉnh Lâm
Đồng đã tổ chức nhiều Lễ hội Hoa, Festival Hoa Đà Lạt và Chính phủ chính thức cơng nhận Đà
Lạt là thành phố Festival Hoa.
Nghề trồng hoa được phát triển ở Đà Lạt từ lâu, từ khi các cư dân từ các miền đến đây lập
nghiệp, mang theo nghề trồng hoa từ q nhà. Làng hoa Hà Đơng được thành lập vào năm 1938,
khi người dân ở các làng hoa Nghi Tàm, Quảng Bá (Hà Nội) vào Đà Lạt. Làng hoa Vạn Thành
được hình thành năm 1960, với các người dân Hà Nam đầu tiên vào đây sinh sống, vừa trồng
rau và trồng hoa. Làng hoa Thái Phiên, với các dân cư từ miền Trung đến lập nghiệp với nghề
trồng rau, cây ăn trái; đến năm 1956, người dân trồng thử các giống hoa có nguồn gốc từ Pháp
như Hồng anh, Lay-ơn, Xạc-ra, Cẩm tú cầu, hoa Hồng, hoa Cúc… sau đó nhanh chóng trở
thành một vùng sản xuất hoa chủ yếu của dân địa phương.
Ngày nay, ngành nghề trồng hoa phát triển ra các khu vực phụ cận thành phố Đà Lạt như
các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà,… Các loại hoa trồng phổ biến là cúc,
hồng, xa lem, lay ơn, ly ly, cát tường,… và đặc sản của vùng núi cao là hoa địa lan. Diện tích
trồng hoa ở Đà Lạt khoảng trên 2000 ha, với sản lượng cắt cành mỗi năm khoảng 01 tỷ cành.
Cây địa lan (Cymbidium spp.) được trồng tại Việt Nam chỉ tập trung ở các vùng núi cao
như Sapa, Đà Lạt,… tạo nên loại cây trồng đặc hữu và cũng là thương hiệu mang giá trị thương
mại cao.
Hoa địa lan được ưa chuộng do sự phong phú về màu sắc và hình dáng hoa, thuộc họ
triển. Ở châu Mỹ và Châu Âu, người ta khơng cần che ánh sáng vào mùa đơng, vào mùa hè
thường che từ 30 – 50% ánh sáng, tuỳ theo giống. Nhìn chung, cây lan Cymbidium cần lượng
ánh sáng khá cao: giai đoạn cây con dưới 3 tháng tuổi từ: 30.000 – 40.000 Lux; giai đoạn cây
trưởng thành, lượng ánh sáng cần thiết từ 60.000 – 80.000 Lux.
Địa lan Cymbidium là cây thân thảo, đa niên
và đẻ nhánh hàng năm, tạo thành những bụi nhỏ. Có
loài rễ mọc bám trên vỏ cây, mặt đất (bì sinh hay phụ
sinh), có loài rễ ăn sâu trong bọng cây và trong đất
mùn. Thân ngầm của cây (căn hành) thường ngắn nối
những củ lan với nhau, các củ lan thực chất là cành
ngắn của căn hành. Củ già khi bị tách khỏi căn hành, có
thể mọc ra những đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên
những cây con. Củ lan (giả hành) thường có dạng con
quay hay dạng hột xoài, đường kính từ 1 - 15 cm, củ
thường được bọc trong các bẹ lá (Hình 1.)
Lá thường có hai dạng: dạng vẩy dính theo một
đoạn căn hành và dạng thực dính trên giả hành. Lá thực
thường có cuống lá, giữa bẹ lá và cuống lá có một tầng
phân cách. Khi phiến lá rụng, vẫn còn đoạn bẹ ôm lấy
giả hành. Vài loài không có cuống lá. Lá có dạng mũi
mác, dạng phiến. Đầu lá nhọn chia thành 2 thùy, kích
thước của
bản lá biến
động từ
0,5 - 6 cm, chiều dài của lá thay đổi từ 10 - 150 cm.
Phiến lá thường có màu xanh đậm, một số ít có màu
xanh vàng.
Chồi hoa thường xuất hiện bên dưới giả
hành và trong nách của các bẹ lá già. Thông thường
gian phức tạp. Ngoài ra, trên cánh môi
còn có những nét khảm sặc sỡ và cầu
kỳ. Quả lan là một nang chứa 3 góc và
bên trong có chứa hàng trăm ngàn hạt.
Khi chín, quả mở theo 3 đường góc và gieo vào không khí những hạt như bụi phấn màu vàng
lụa. Khi rơi vào nơi có điều kiện ẩm độ, ánh sáng thích hợp và có nấm cộng sinh tham gia, hạt
sẽ nảy mầm và phát triển thành cây mới.
Hoa địa lan Đà Lạt là loại hoa đặc hữu, có giá trị kinh tế đối với địa phương nên trong
những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu để hoàn chỉnh quy trình trồng và sản xuất. Năm 2004-
2005, tỉnh đã có đề tài “Nghiên cứu tác nhân gây bệnh và các biện pháp phòng trừ bệnh chết củ
địa lan tại Đà Lạt - Lâm Đồng” nhằm tìm ra nguyên nhân bệnh thối củ, thối rễ gây chết địa lan
hàng loạt. Đề tài đã xác định được các tác nhân cơ bản là nấm bệnh và virus, xuất phát từ điều
kiện độ ẩm cao, giá thể không thoát nước tốt, sự lây lan do khoảng cách chậu không hợp lý
hoặc/và lan truyền qua hệ thống thoát nước tưới, tiêu không được kiểm soát tốt; chưa có cách
thuốc điều trị đặc trưng, biện pháp chủ yếu là phòng ngừa. Vào năm 2006-2007, tỉnh đã phê
duyệt thực hiện đề tài “Xây dựng quy trình trồng địa lan theo hướng kiểm soát an toàn dịch
bệnh” và năm 2007-2009 thực hiện dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ trong sản xuất hoa tại Đà Lạt - Lâm Đồng” trên cơ sở các kết quả của đề tài. Các nghiên
cứu về nhân giống đã được thực hiện từ năm 2005 đến 2007 với đề tài “Ứng dụng các tiến bộ
công nghệ sinh học để sản xuất cây giống hoa địa lan (Cymbidium) tại Đà Lạt” và dự án sản
xuất thử nghiệm “Sản xuất thử nghiệm cây dâu tây, salem và địa lan tại Đà Lạt bằng công nghệ
nuôi cấy mô quang tự dưỡng”. Về cơ bản, các nghiên cứu về kỹ thuật canh tác phòng ngừa bệnh
đã được triển khai thành các mô hình kiểm nghiệm trong thực tế và đã đề xuất được các quy
trình tương đối phù hợp với điều kiện của Đà Lạt. Các quy trình được trình bày trong sản phẩm
Hình 3- Hoa địa lan Cymbidium
8 (Phụ lục Các sản phẩm của dự án) là kết quả rút ra từ kết quả các đề tài dự án đã nghiệm thu
và công bố trên địa bàn tỉnh.
Việc thu hái, bảo quản đã được nghiên cứu trong đề tài “Nghiên cứu công nghệ xử lý bảo
quản và đóng gói thích hợp cho một số loại hoa cắt cành tại Đà Lạt phục vụ nội tiêu và xuất
1
Phường 3 - 6
2
Phường 4 51 6
3
Phường 5 8 2
4
Phường 6 19 -
5
Phường 7 49 13
6
Phường 8 14 7
7
Phường 9 32 8
8
Phường 10 32 8
9
Phường 11 18 5
10
còn rất ít (1,3%) (hình 4).
Các cơ sở có quy
mô sản xuất lớn, thực
hiện quản lý chặt chẽ quá
trình sản xuất còn hạn
chế. Hầu hết các hộ/cơ sở
trồng lan Cymbidium đều
trang bị nhà lưới để sản
xuất với 98,1%. Đối với
các hộ/cơ sở có trang bị
nhà màng để trồng hoa
lan Cymbidium thì mức
độ còn hạn chế, với 22,8
% số hộ/cơ sở có đầu tư.
b) Việc sử
dụng giống
Nguồn giống cung cấp cho hoạt động sản xuất chủ yếu xuất xứ từ cây nhân cấy mô thực
vật. Công tác đổi mới giống lan Cymbidium tại Đà Lạt đã được chú trọng nhưng giống cây
trồng mới vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu giống lan hiện nay.
Chủ yếu hiện nay vẫn là các giống có trước năm 1995 với các giống truyền thống là Vàng
Ba Râu với trên 73,4% số hộ/cơ sở có nuôi trồng (15,3% cơ cấu), Xanh Thơm với trên 76,6 %
số hộ/cơ sở nuôi trồng (16,7 % cơ cấu), Tím Hột trên 81,9% số hộ/cơ sở nuôi trồng (17,2% cơ
Hình 4- Quy mô sản xuất theo diện tích
cấu). Các giống lan đang được thị trường ưa chuộng, có giá trị kinh tế cao như Cam Lửa, Vàng
Mít, Vàng Golden, Vầng Trăng, Xanh Lưỡi Đỏ, Xanh Linh Ngọc,… chiếm tỷ lệ thấp trong cơ
cấu giống lan hiện nay, với tỷ lệ mỗi giống đa số không vượt quá 5% (Bảng 2).
STT
Giống trước 1995 Tỷ lệ
sở nào có giải pháp bảo quản cụ thể, kể cả kỹ thuật đóng gói sản phẩm. (Bảng 3)
STT Giải pháp kỹ thuật % cơ sở ứng dụng
1
Giá thể
Dớn xay 95,9
Dớn mịn 15,3
Trấu đốt 27,8
Vỏ cà phê 10,3
Giá thể khác (xơ dừa, vỏ cây đã xử lý,…) 17,5
2
Hệ thống tưới
Tưới phun truyền thống 83,1
Tưới bec tự động 16,9
Tưới điều khiển (Drip, capinet…) 0,0
3
Sử dụng nguồn nước
Nước sinh hoạt 43,8
Nước giếng 45,0
Mương suối 11,3
4
Công nghệ thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch
56,9
Bảng 3 - Bảng khảo sát tình trạng ứng dụng kỹ thuật tại các cơ sở
d) Tình hình hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh hoa lan Cymbidium chưa có tính hệ thống, chủ yếu là theo thời vụ,
còn manh mún, nhỏ lẻ, điều kiện kinh doanh còn hạn chế.
Tỷ lệ %
cơ sở đồng ý
Cơ cấu
%
1 Số hoa trên cành 100,0 10,5
2 Chiều dài cành hoa 95,6 10,0
3 Số hoa đã nở trên cành 91,3 9,6
4 Màu sắc hoa 89,7 9,4
5 Hình dáng cành hoa 84,7 8,9
6 Mức độ sâu bệnh hại 82,2 8,6
7 Kích thước hoa 78,1 8,2
8 Các tổn thương khác 62,5 6,6
9 Kiểu phân bố hoa trên cành 61,6 6,5
10 Dấu vết cặn hóa chất BVTV 55,9 5,9
11 Bao gói sản phẩm 52,5 5,5
12 Bảo quản sản phẩm 52,5 5,5
13 Xử lý sau thu hoạch 45,6 4,8
Tổng cộng
100,0
Bảng 5 - Bảng ý kiến về các chỉ tiêu chất lượng
f) Nhận thức về nhãn hiệu và nhãn hiệu hoa Đà Lạt
Nhận thức về nhãn hiệu hàng hóa, thương hiệu hoa Đà Lạt còn hạn chế. Nhưng hầu hết
sẵn sàng tham gia xây dựng thương hiệu nếu được sự hỗ trợ của nhà nước.
Stt Tiêu chí
Tỷ lệ % cơ sở đồng ý
Sản xuất Kinh doanh
Bình
quân
NHCN gắn với địa danh. Việc xác định địa điểm sản xuất kinh doanh có nằm trong vùng địa lý
phù hợp theo quy định của NHCN là một yếu tố cơ bản cho chứng nhận. Tuy nhiên, không phải
luôn luôn yêu cầu toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm phải năm trong vùng địa lý
được xác định. Việc cho phép chỉ một phần trong quá trình sản xuất kinh doanh (một cách thích
hợp) sản phẩm có gắn với vùng địa lý đó cũng có thể được công nhận. Việc xác định này cần
phải đảm bảo tạo sự thúc đẩy mạnh hơn sự tiêu thụ sản phẩm, tạo nên lợi ích lớn hơn cho các
sản phẩm địa phương (cộng đồng sản xuất bản địa), với điều kiện không ảnh hưởng đến uy tín
chất lượng của các sản phẩm đó. Tiêu chí về nguồn gốc, xuất xứ của hoa là: hoa địa lan được
ươm/trồng, chăm sóc và ra hoa tại thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận, tỉnh Lâm Đồng. (việc xác
định vùng địa lý cụ thể xem tại mục xác định vùng địa lý).
Thực tế, việc xác định tiêu chí xuất xứ dựa trên sự khai báo của người đăng ký tham gia
sử dụng NHCN và do cơ quan quản lý NHCN, hoặc đơn vị được ủy quyền xác nhận theo hồ sơ
xét cấp quyền sử dụng NHCN. Trong điều kiện tổ chức sản xuất hoa địa lan còn nhỏ lẻ, manh
mún hiện nay, việc xác định điều kiện để tham gia NHCN chỉ dành cho các doanh nghiệp, cơ
sở/hộ (để thuận tiện xin gọi chung là cơ sở) sản xuất kinh doanh hoa địa lan tại thành phố Đà
Lạt và vùng phụ cận, tỉnh Lâm Đồng. Các nội dung về tên cơ sở, diện tích trồng, địa chỉ sản xuất
kinh doanh, giống, nguồn gốc giống và ngày, tháng thu hoạch là những thông tin giúp xác định
xuất xứ của sản phẩm, là cơ sở để thực hiện chứng nhận các tiêu chí chất lượng, và có thể truy
nguyên nguồn gốc.
Việc xác định vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên phù hợp nhất cho việc sinh trưởng và
phát triển của hoa địa lan, cũng như thực tế phát triển sản xuất kinh doanh hoa địa lan tại Đà Lạt
và vùng phụ cận căn cứ vào các thông số vùng khí hậu và kết quả khảo sát ý kiến của cơ sở
trồng lan tại các hội thảo.
Các nghiên cứu số liệu tích lũy nhiều năm về khí hậu thủy văn tỉnh Lâm Đồng có thể chia
ra làm 3 vùng (có 06 tiểu vùng) khí hậu cơ bản .Trong đó các vùng và tiểu vùng điều kiện khí
hậu khá phù hợp để phát triển hoa địa lan, dựa trên các yếu tố cơ bản về nhiệt độ, độ ẩm và ánh
sáng (nắng). Các vùng cụ thể phù hợp gồm:
- Vùng Đà Lạt, Lạc Dương: Khí hậu mát quanh năm, nhiệt độ trung bình năm 17,5
-
hai khía cạnh là các đặc tính tự nhiên của sản phẩm hoa địa lan và các nhu cầu thưởng ngoạn
của người dùng, phản ánh qua nhu cầu của thị trường.
Các đặc tính tự nhiên của hoa địa lan cắt cành Đà Lạt cần đề cập khi xem xét là: các yếu
tố như hình dáng, chiều cao phát hoa, màu sắc, kích cỡ hoa, số lượng và sự phân bố hoa trên
cành, hương thơm là những yếu tố thể hiện đặc trưng của hoa (xem phần III.1.1.2 Về hoa Đà Lạt
và hoa địa lan Đà Lạt). Các yếu tố về lá, hành giả và phân bố phát hoa trong chậu thể hiện các
đặc trưng khi xem xét toàn thể cây hoa.
Theo điều tra về tình hình sản xuất kinh doanh ở trên, phản ánh các nhu cầu của thị
trường, có 13 yếu tố được quan tâm nhất được xác định là cần thiết đối với việc đánh giá chất
lượng sản phẩm hoa lan Cymbidum, trong đó nhóm 10 yếu tố được đồng thuận với tỷ lệ cao là:
số hoa trên cành, chiều dài cành, số hoa đã nở, màu sắc hoa, hình dáng cành, mức độ sâu bệnh
hại, các tổn thương cơ học, kích thước hoa, kiểu phân bố hoa và công tác bảo quản sau thu
hoạch.
Chuẩn hóa các yếu tố trên các khía cạnh chia ra các tiêu chí cho hoa cắt cành và hoa
chậu. Hệ thống tiêu chí đối với hoa cắt cành chọn gồm:
1. Ngoại quan: về các khuyết tật, hình dáng cành hoa
2. Chiều dài cành hoa
3. Kích cỡ hoa
4. Kết cấu phân bố hoa trên cành
5. Màu sắc
6. Hương thơm
Các tiêu chí đối với hoa chậu tương tự như đối với hoa cắt cành, ngoài ra thêm tiêu chí về
chất lượng chậu hoa:
7. Chất lượng chậu hoa: tương quan số lượng hành giả và cành hoa, hình dáng các
khuyết tật lá, hình dáng cành hoa và phân bố trong chậu
Phương pháp dùng để đánh giá các tiêu chí chất lượng của sản phẩm hoa địa lan chủ yếu
là cảm quan, đo đạc bằng thước. Để thực hiện đánh giá cảm quan, kết hợp nội dung xây dựng tài
liệu mô tả về các giống, nhóm nghiên cứu đã thiết lập tài liệu mô tả khái quát về sản phẩm địa
lan theo các giống thông dụng hiện nay tại Đà Lạt (xem sản phẩm 7 trong Phụ lục Các sản phẩm
của dự án).
- Có chức năng chứng nhận sản phẩm hoa địa lan Đà Lạt theo các tiêu chí đề ra.
- Không tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh hoa.
- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Hiện nay, tại địa phương, các tổ chức không phải cơ quan nhà nước thực hiện chức năng
chứng nhận chưa sẵn sàng, trong khi đó UBND thành phố Đà Lạt đang thực hiện chức năng cơ
quan quản lý với các sản phẩm đặc sản như NHCN Rau Đà Lạt. Với tính chất của NHCN, để
thuận lợi và tạo cơ hội cho mọi đối tượng có thể tham gia sử dụng, hội thảo thống nhất chọn
UBND thành phố Đà Lạt thực hiện vai trò cơ quan quản lý NHCN Hoa Đà Lạt.
I.1.4 Xây dựng quy định quản lý và sử dụng NHCN
Việc xây dựng quy định quản lý và sử dụng NHCN Hoa Đà Lạt được thực hiện theo các
yêu cầu của pháp luật hiện hành, thực hiện theo hình thức: có quy định chung về quản lý sử
dụng NHCN cho các loại hoa, các yếu tố chứng nhận liên quan đến từng loại hoa được quy định
trong các văn bản riêng. Cụ thể hoa địa lan Đà Lạt là một loại hoa nằm trong NHCN có bản đồ
và các tiêu chuẩn chất lượng để chứng nhận nằm trong một quyết định khác (Quyết định
1485/QĐ-UBND ngày 11/7/2011) so với quy định quản lý sử dụng NHCN (Quyết định
31/2011/QĐ-UBND ngày 22/06/2011). Cách thức thiết lập này thuận lợi cho việc mở rộng các
đối tượng sản phẩm chứng nhận khác cùng sử dụng NHCN Hoa Đà Lạt.
Theo điểm 37.6 của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN quy định: Quy chế sử dụng nhãn hiệu
tập thể và quy chế sử dụng NHCN phải có các nội dung tương ứng quy định tại khoản 4 và
khoản 5 Điều 105 của Luật Sở hữu trí tuệ và phải làm rõ các vấn đề sau:
- Các thông tin vắn tắt về nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu, hàng hoá, dịch vụ mang nhãn
hiệu.
- Các điều kiện để được người đăng ký nhãn hiệu cấp phép sử dụng nhãn hiệu và các điều
kiện chấm dứt quyền sử dụng nhãn hiệu.
- Nghĩa vụ của người sử dụng nhãn hiệu (bảo đảm chất lượng, tính chất đặc thù của hàng
hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu, chịu sự kiểm soát của người đăng ký nhãn hiệu, nộp phí quản lý
nhãn hiệu…).
- Quyền của người đăng ký nhãn hiệu (kiểm soát việc tuân thủ quy chế sử dụng nhãn
hiệu, thu phí quản lý nhãn hiệu, đình chỉ quyền sử dụng nhãn hiệu của người không đáp ứng
cần đề nghị với chủ NHCN (ở cùng phụ cận thông qua phòng Nông nghiệp huyện) để được xem
xét chứng nhận theo tiêu chí quy định.
Một số nhận xét về mô hình với chính quyền địa phương thực hiện vai trò chủ NHCN:
Thuận lợi: đảm bảo tính định hướng cho phát triển kinh tế xã hội địa phương, dễ thuyết
phục lòng tin của khách hàng, người tiêu dùng, có điều kiện huy động các nguồn lực thuộc
quyền (tổ chức nhân sự, kinh phí) như là sự hỗ trợ của nhà nước để phát triển sản phẩm, lĩnh
vực thế mạnh (tổ chức hoạt động chứng nhận, quảng bá sản phẩm được chứng nhận, lồng ghép
quy hoạch và các chính sách tạo điều kiện đế phát triển sản phẩm), dễ đảm bảo tính công bằng
trong việc đảm bảo khả năng tiếp cận sử dụng NHCN cho toàn thể các cơ sở sản xuất kinh
doanh hoa trên địa bàn.
Hạn chế: dễ bị áp đặt bởi quan niệm về quản lý nhà nước, các cơ quan hành chính sự
nghiệp thiếu nhân sự và điều kiện hoạt động chuyên sâu, do đó cần thuê các dịch vụ ngoài, nảy
sinh vấn đề đảm bảo chất lượng hoạt động và phương thức phối hợp phức tạp.
- Quan hệ khách hàng và các cơ sở sản xuất phối hợp (không thuộc cộng đồng sử
dụng NHCN): nhận biết, tiêu thụ sản phẩm, phối hợp sản xuất kinh doanh.
I.1.7 Xây dựng hệ thống các văn bản quản lý việc sử dụng NHCN
Quy trình cấp quyền
a. Quy trình cấp quyền sử dụng NHCN:
b. Xây dựng các quy trình kỹ thuật
Việc xây dựng các quy trình kỹ thuật trong trồng, chăm sóc, thu hái, bảo quản hoa có vai
trò quan trọng trong việc định hướng các hoạt động sản xuất của các cơ sở theo các kỹ thuật tiến
bộ, góp phần đảm bảo chất lượng sản phẩm hoa. Quy trình kỹ thuật được kế thừa từ kết quả các
nghiên cứu đã có trong các đề tài, dự án đã được nghiệm thu của tỉnh. Các quy trình được phổ
biến cho các cơ sở áp dụng trong sản xuất để góp ý kiến trước khi ban hành chính thức thành
tiêu chuẩn khuyến khích sử dụng.
Tuy nhiên, việc thực hiện quy trình kỹ thuật canh tác như là một tiêu chuẩn khuyến khích
áp dụng có ý nghĩa thực tế trong điều kiện các cơ sở sản xuất hoa, nhất là hoa địa lan thường
quy mô nhỏ và phân tán, điều kiện sản xuất không giống nhau, các cơ sở có thể áp dụng các
kinh nghiệm riêng cùng với quy trình cơ bản để tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt nhất. Việc
thông qua hệ thống mã số, mã vạch (phụ lục 03).
I.1.8 Xây dựng hệ thống phương tiện, điều kiện quảng bá, khai thác giá trị NHCN
Việc xây dựng các phương tiện điều kiện quảng bá NHCN cho hoa địa lan Đà Lạt dựa
trên hệ thống hóa lại các loại hoa địa lan đang được sản xuất, kinh doanh thực tế tại địa phương.
Quá trình xây dựng một tài liệu nhằm mô tả khái quát sản phẩm hoa địa lan được phối hợp với
Trung tâm Nông nghiệp thành phố, đơn vị đã thực hiện điều tra khảo sát. Kết quả là Bộ tài liệu
về các giống hoa địa lan Cymbidium tại Đà Lạt được xây dựng với các giống hoa trồng phổ biến
nhập trước 1995, sau 1995 và những năm gần đây (phụ lục Các sản phẩm của dự án, sản phẩm
7). Mỗi giống hoa được mô tả khái quát đặc điểm kèm hình ảnh. Tài liệu còn nêu những đặc
điểm khái quát và tình hình sản xuất tiêu thụ của địa lan Cymbidium tại Đà Lạt những năm gần
đây. Tài liệu là cơ sở khoa học cung cấp các kiến thức cơ bản cho việc xây dựng các chương
trình quảng bá về hoa địa lan.
I.1.9 Triển khai thực hiện hoạt động quản lý và khai thác NHCN
Để áp dụng thí điểm mô hình quản lý và khai thác NHCN hoa Đà Lạt với địa lan, Sở
KH&CN đã phối hợp với phòng Kinh tế thành phố Đà Lạt thực hiện tuyên truyền về NHCN hoa
Đà Lạt. Trong Hội thảo nâng cao nhận thức về SHTT và nhãn hiệu chứng nhận, nhóm thực hiện
dự án đã trao đổi, phổ biến các quy trình kỹ thuật trồng địa lan Cymbidium được xây dựng từ
các kết quả đề tài, dự án đã nghiệm thu của tỉnh với trên 20 cơ sở sản xuất kinh doanh hoa địa
lan Đà Lạt. Hội thảo đã nhận được các đóng góp về các quy trình và có thể áp dụng để tham gia
chứng nhận sản phẩm.
Sau khi có văn bằng bảo hộ của Cục SHTT cấp, UBND thành phố Đà Lạt đã tổ chức việc
cấp quyền sử dụng cho 02 cơ sở nhân dịp Festival Hoa Đà Lạt 2012. Trong dịp Festival hoa và
Tết Nguyên đán 2012 các cơ sở này đã tích cực tuyên truyền, quảng bá và giới thiệu các sản
phẩm hoa địa lan đến với người tiêu dùng và du khách. Hai cơ sở được UBND Đà Lạt cấp
quyền sử dụng NHCN là các cơ sở quy mô sản xuất phổ biến trung bình khoảng .1000-2.000
chậu (50% đang kỳ thu hoạch, tuổi 4-5). Các cơ sở này cũng đồng thời thực hiện hoạt động kinh
doanh, phù hợp đặc điểm của tổ chức sản xuất hoa địa lan tại Đà Lạt. (Phụ lục 02)
Tổ chức giám sát việc tuân thủ Quy chế quản lý việc sử dụng NHCN đã được cơ quan
quản lý thực hiện với các cơ sở tham gia, đối với một số giống hoa có hoa trong thời điểm kiểm
+ Quy trình thu hái và bảo quản Hoa địa lan
+ Quy trình đóng gói, gắn tem nhãn Hoa địa lan
- Kết quả việc thực hiện triển khai nội dung quản lý và khai thác NHCN.
I.3 Đánh giá chung về tổ chức thực hiện dự án
Việc tổ chức thực hiện dự án mặc dù còn gặp những khó khăn trong quá trình triển khai,
nhưng cơ quan chủ trì và chủ nhiệm dự án đã có nhiều cố gắng để triển khai kế hoạch, phối hợp
với các đơn vị liên quan tham gia thực hiện dự án có kết quả, đảm bảo các nội dung của dự án
yêu cầu.
Trong quá trình triển khai thực hiện, cơ quan chủ trì đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
tận tình của Cục Sở hữu trí tuệ, nhờ đó dự án đã được triển khai đầy đủ các nội dung, kịp thời
cấp văn bằng bảo hộ đáp ứng vào thời điểm Festival Hoa – một sự kiện lớn để quảng bá và tôn
vinh nghề trồng hoa ở địa phương. Việc bảo hộ NHCN Hoa Đà Lạt đã đáp ứng được mong mỏi
của các nhà sản xuất kinh doanh hoa Đà Lạt, đồng thời khẳng định giá trị của Hoa Đà Lạt, trong
đó có hoa địa lan - một loại hoa đặc thù của Đà Lạt, tạo lòng tin với người tiêu dùng, nâng cao
giá trị sản phẩm, góp phần thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội.