VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÙI CÔNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG THÀNH THỊ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐỖ PHÚ HẢI
HÀ NỘI, năm 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THÀNH THỊ .................... 10
1.1. Khái niệm chính sách đào tạo nghề cho lao động thành thị .................... 10
1.2. Thiết kế xây dựng chính sách đào tạo nghề cho lao động thành thị........ 16
1.3. Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề
cho lao động thành thị ..................................................................................... 21
: Doanh nghiệp
ĐTN
: Đào tạo nghề
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KHKT
: Khoa học kỹ thuật
KT-XH
: Kinh tế - Xã hội
LĐTT
: Lao động thành thị
PTDN
: Phát triển dạy nghề
TBDN
: Thiết bị dạy nghề
và đào tạo nghề cho lao động thành thị, cơ hội học nghề cho người lao động,
khuyến khích và huy động để toàn xã hội tham gia vào đào tạo nghề cho lao
động nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa thành thị.
Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ
nhanh trên một số vùng, miền của đất nước khiến số lượng lao động bình
quân trên một diện tích tại thành thị tăng lên. Mặt khác, quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa phát triển như hiện nay sẽ xảy ra tình trạng mất việc
làm ở một số lĩnh vực, khu vực trong đó có khu vực thành thị; một bộ phận
người dân mất đất sản xuất dẫn đến mất việc làm, trong khi đó việc đào tạo
nghề còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động;
mạng lưới cơ sở dạy nghề nói chung tuy đã phát triển nhưng chưa đáp ứng
nhu cầu học nghề của đông đảo lao động; đội ngũ giáo viên dạy nghề thiếu
về số lượng, chưa đạt chuẩn về trình độ, chuyên môn, thiếu kinh nghiệm
quản lý dạy nghề; chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thị
trường lao động.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định rõ: “… Hoàn
thiện pháp luật về dạy nghề, ban hành chính sách, ưu đãi về đất đai, thuế, đào
tạo giáo viên, hỗ trợ cơ sở hạ tầng… nhằm khuyến khích các thành phần kinh
tế tham gia đào tạo nghề. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng dạy và
học, gắn dạy nghề với nhu cầu thực tế...”
Cùng với quá trình phát triển chung của cả nước, kinh tế Quảng Ngãi
1
đang trên đà phát triển, chính sách đào tạo nghề cho người lao động đã được
tỉnh chú trọng.
Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề, đặt ra cho các cấp ủy đảng và chính
quyền địa phương cần tập trung giải quyết nhằm ổn định và tăng trưởng, phát
triển kinh tế - xã hội ở Quảng Ngãi.
đẩy quá trình phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc
gia về Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012 – 2020 (Quyết định số 1201/QĐTTg ngày 31/8/2012) được ban hành, việc thực hiện công tác đào tạo nghề
đang nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương. Ở Việt
Nam, về thực trạng đào tạo nghề cho lao động hiện nay có các công trình
nghiên cứu, các bài viết như:
Nghiên cứu về“Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp
ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác
giả Phan Chính Thức đã đi sâu nghiên cứu đề xuất những khái niệm, cơ sở lý
luận mới của đào tạo nghề, về lịch sử đào tạo nghề và giải pháp phát triển đào
tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở nước ta.
Các tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến đã có nghiên cứu về
“Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” . Trong
nghiên cứu này, các tác giả này đã đề cập đến nhu cầu đào tạo lao động kỹ
thuật của Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa
đất nước. Những nội dung về chương trình đổi mới giảng dạy, tăng cường đầu
tư thiết bị, công nghệ phù hợp với thiết bị, công nghệ của sản xuất, nâng cao
chất lượng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; đổi mới phương pháp kiểm tra,
3
đánh giá; kiểm định chất lượng các trường nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ
thuật của nền kinh tế cả về số lượng, chất lượng và để đảm bảo hiệu quả đầu
tư cho giáo dục và dạy nghề.
Tác giả Nguyễn Viết Sự đã có một nghiên cứu khá công phu “Giáo dục
nghề nghiệp – những vấn đề và giải pháp”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã
nhận diện những vấn đề tồn tại phổ biến trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp
luận và thực tiễn chất lượng lực lượng lao động trong điều kiện kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; làm rõ
thực trạng chất lượng lực lượng lao động hiện nay ở tỉnh Thanh Hóa. Tìm ra
những bất cập giữa chất lượng lực lượng lao động và yêu cầu phát triển kinh
tế -xã hội của tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH; đề xuất quan điểm,
giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng lực lượng lao động tỉnh Thanh Hóa.
Trong các nghiên cứu, tác phẩm, bài viết, sách, báo nêu trên đã đề cập
đến nhiều thực trạng chính sách đào tạo nghề ở Việt Nam ta hiện nay và có
nhiều giải pháp nhằm giúp cho chính sách đào tạo nghề cho lao động nói
chung và lao động thành thị ở các địa phương trong cả nước ngày một hoàn
thiện hơn.
Để hoạt động đào tạo nghề ngày càng đi vào đời sống thực tiễn, mang lại
hiệu quả thiết thực cho người dân thì: “Phải có sự “vào cuộc” mạnh mẽ của cả
hệ thống chính trị ở địa phương; công tác đào tạo nghề cho lao động thành thị
phải sát với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa
phương, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và có hiệu quả thiết thực; Cần
phải giải quyết vấn đề đầu ra sản xuất; Chú trọng phát triển các ngành nghề
phù hợp với điều kiện địa phương và kinh tế vùng; Phải đào tạo về tác
phong làm việc cho người lao động (tác phong công nghiệp…)”.
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho lao động thành thị tại tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy, bản thân mạnh
5
dạn lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động thành
thị từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” để nghiên cứu luận văn, từ đó đưa ra những
định hướng, giải pháp tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
thành thị tại tỉnh Quảng Ngãi để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
trên cơ sở những đường lối, quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Quảng Ngãi đề ra trong những năm tới.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010- 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách qua tiếp cận đa
ngành, liên ngành khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu chính sách
công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách
từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự
tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng
qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách
chuyên ngành đào tạo nghề cho lao động thành thị.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa
nghiên cứu lý thuyết và thực tế; phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp,
so sánh.
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, thống kê và so
sách được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn
có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị
quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ở Trung ương và
địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của
chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động thành thị
7
qua thực tế tại tỉnh Quảng Ngãi nói riêng. Đồng thời, thu thập thông tin từ
các tài liệu của các tổ chức và học giả trong nước liên quan đến đề tài trong
thời gian qua.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp được
dùng khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối
thoại trực tiếp với đối tượng nhằm thu thập thông tin. Ngoài các thông tin
nghề cho lao động thành thị từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
thành thị từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
lao động thành thị
9
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THÀNH THỊ
1.1. Khái niệm chính sách đào tạo nghề cho lao động thành thị
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải
vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng
và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Theo Liên hợp quốc thì: Lao động là tổng thể sức dự trữ, những tiềm
năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người vào
cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Lực lượng lao động là bộ phận
dân số trong độ tuổi và có khả năng lao động được pháp luật quy định, thực tế
đang làm việc và những người thất nghiệp.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhưng suy cho
cùng lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với
con vật; xã hội loài người và xã hội loài vật. Vì vậy, khác với con vật, lao
động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới
tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu
cầu đời sống của con người. Theo C.Mác “Lao động trước hết là một quá
trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt
động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao
Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu
vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công
nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành
cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần
cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v. Công nghệ các hợp chất cao phân
11
tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du
lịch tiếp nối ra đời. Nghề là hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến, gắn
chặt sự phân công lao động xã hội với tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) và
văn minh nhân loại, nó được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau.
Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống
của con người và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT- XH) theo
nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng.
Theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định, cho đến
nay thuật ngữ “Nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Sau đây là một số khái niệm chung về nghề của một số nước.
Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa như sau: Nghề là một loại hoạt
động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn.
Còn ở Đức, khái niệm nghề được định nghĩa: Nghề là hoạt động cần thiết
cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở trình
độ nào đó.
Ở Anh, nghề được định nghĩa: Nghề là một công việc chuyên môn đòi
hỏi một sự đào tạo trong khoa học, nghệ thuật.
Khái niệm nghề được định nghĩa ở Pháp: Nghề là một loại lao động có
thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của con người đê từ đó tìm được phương tiện
sống.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt và Từ điển Tiếng Việt đã cùng đưa ra định
thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau
khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [19] .
Có thể hiểu đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến
thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có
thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
13
Đó là quá trình truyền đạt kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành cho
người học nghề để người học có được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ
nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều
nghề, đáp ứng yêu cầu làm việc của thị trường lao động.
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau: Dạy
nghề là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực
hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo,
thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá trình tiếp thu những
kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình
độ nghề nghiệp nhất định.
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành; lấy thực
hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho
người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện.
+ Đào tạo trình độ sơ cấp: Để người học có năng lực thực hiện được các
công việc đơn giản của một nghề. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình
độ sơ cấp: trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, trường cao đẳng
có đăng ký hoạt động đào tạo trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên.
Người học nghề học hết chương trình sơ cấp thì được dự kiểm tra, nếu đạt
yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp cấp chứng chỉ
sơ cấp nghề theo quy định .
+ Đào tạo trình độ trung cấp: để người học có năng lực thực hiện được
hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Hệ thống cơ sở đào tạo nghề: Là tập hợp các cơ sở đào tạo nghề trên
phạm vi cả nước, bao gồm các trường cao đẳng, trung cấp, trung tâm và các
cơ sở khác có tham gia dạy nghề, được Nhà nước thống nhất quản lý từ Trung
15
ương đến địa phương. Đào tạo nghề là hệ thống chính trong việc cung cấp
nguồn nhân lực có kỹ thuật cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị nhằm
vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với
các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lý sự phát
triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước. Khái niệm chính sách
công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết
định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể
với giải pháp và công cụ để thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo
mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [13].
Từ khái niệm về “chính sách công” và “đào tạo lao động thành thị” nêu
trên, có thể định nghĩa sau: "Chính sách đào tạo nghề cho lao động thành thị
là tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và
công cụ chính sách để giải quyết vấn đề đào tạo lao động thành thị theo mục
tiêu ổn định phát triển bền vững kinh tế - xã hội đô thị”.
1.2. Thiết kế xây dựng chính sách đào tạo nghề cho lao động thành thị
Xác định vấn đề chính sách:
“Hỗ trợ các đối tượng được hưởng chính sách người có công, quân nhân
xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc diện hộ nghèo, người tàn tật, trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, người trực tiếp lao động trong các hộ sản
xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội
khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học nghề để tìm việc làm, tự tạo việc làm,
lập thân, lập nghiệp” [3]. Những quan điểm, định hướng trên của Đảng, Nhà
nghề cho lao động thành thị nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lao động,
góp phần đóng góp tích cực cho công tác giảm nghèo bền vững.
- Tình trạng thiếu việc làm ở một bộ phận lao động thành thị hiện đang rất
17
phổ biến, đặc biệt là thời gian nhàn rỗi, nhiều thanh niên đến tuổi lao động
không có việc làm hoặc có việc làm không ổn định; Những vùng đất bị thu hồi,
chuyển đổi mục đích sử dụng, người lao động được hưởng tiền đền bù, khi đất
không còn, cơ hội tìm kiếm việc làm khó khăn, sinh ra nhiều tệ nạn xã hội như
cờ bạc, nghiện hút. Các hệ lụy này là ngoài mục tiêu phát triển của xã hội.
- Mục tiêu của đào tạo nghề cho lao động thành thị là tạo thêm nhiều
việc làm cho người lao động, thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu lao động, giảm
lao động sản xuất giản đơn, tăng năng suất lao động, đào tạo nghề có chất
lượng cao làm việc trong các Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp ở ngay tại
địa phương.
Mục tiêu của chính sách:
Trong giai đoạn hiện nay đào tạo nghề nói chung và chính sách đào tạo
nghề cho lao động thành thị nói riêng luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của
Đảng và Nhà nước. Phát triển và đổi mới toàn diện giáo dục nghề nghiệp là
chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, được thể hiện trong các Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng; trong Kết luận của Bộ Chính
trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 2 (khóa VIII) phương hướng
phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020; trong Nghị quyết lần thứ 6 Ban
Chấp hành TW Đảng khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt
Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, lao động qua đào tạo nghề đạt trên
63% giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu về nhân lực kỹ thuật trực tiếp
trong sản xuất, kinh doanh với trình độ cao, lành nghề, đủ về số lượng, đảm
bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, nhân cách, năng lực nghề
nước hỗ trợ học nghề. Những người lao động thành thị khi có nhu cầu học
nghề vẫn được tiếp cận với các dịch vụ đào tạo nghề.
Người lao động thành thị không thuộc diện nghèo vẫn được học các
19
nghề mà mình cần với cơ chế hỗ trợ gián tiếp (như tín dụng học nghề, hỗ trợ
tìm việc làm, hỗ trợ sản xuất sau đào tạo).
Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có nhu cầu đào tạo, học nghề
được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn
hạn và được Nhà nước hỗ trợ chi phí học nghề theo quy định tại Quyết định
số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề
cho lao động nông thôn đến năm 2020.
Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có nhu cầu tìm việc làm được
hỗ trợ tư vấn học nghề, tư vấn giới thiệu việc làm miễn phí tại các Trung tâm
Dịch vụ việc làm trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; ưu tiên vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc
làm theo quy định của pháp luật.
Đây là những cơ hội rất tốt để cho lao động thành thị được tiếp cận với
các chính sách của Nhà nước để tham gia học nghề, tăng cơ hội tìm kiếm việc
làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống, góp phần tích cực vào công tác giảm
nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động đối với những vùng bị thu hồi đất cho
phát triển công nghiệp, dịch vụ.
Đối với giáo viên/ người dạy nghề:
Giáo viên/người dạy nghề tham gia dạy nghề, quản lý dạy nghề cho lao
động thành thị được hưởng các chính sách như:
+ Giáo viên/ người dạy nghề, cán bộ quản lý phải thường xuyên xuống
những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp
lưu động 0,2 so với mức lương tối thiểu chung.
+ Người dạy nghề được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu
chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề, đáp ứng yêu cầu làm việc của
thị trường lao động.
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau: Dạy
21