VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ ANH ĐẠT
HỖ TRỢ KẾT NỐI HỌC NGHỀ VỚI VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ công tác xã hội với đề tài: “Hỗ trợ kết nối
học nghề với việc làm cho người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là
nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn này là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Hồ Anh Đạt
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH
Công tác xã hội
BTXH
Bảo trợ xã hội
DN
Dạy nghề
HN
Học nghề
VL
Việc làm
DVVL
Dịch vụ việc làm
International Labour Organization
ILO
Đà Nẵng là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của hậu quả
chiến tranh và chất độc hóa học để lại, do vậy, tỷ lệ người khuyết tật chiếm khá cao.
Theo số liệu điều tra thông tin người khuyết tật trên địa bàn toàn thành phố bằng
phương pháp phân loại khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2014 do
Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam (VNAH) hỗ trợ thực hiện có 152.131
người khuyết tật, chiếm tỷ lệ 20,3% tổng dân số, trong đó có hơn 10.000 người
khuyết tật có mức độ khuyết tật đặc biệt nặng, nặng, nhẹ (đã được giám định mức
độ khuyết tật) được đưa vào diện mở hồ sơ quản lý trường hợp, theo dõi và có nhu
cầu cần trợ giúp, trong số đó có hơn 30% người khuyết tật đặc biệt nặng đang được
hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên. Phần lớn đời sống hộ gia đình người khuyết tật
đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuộc diện hộ nghèo cần sự trợ giúp rất lớn của
xã hội và cộng đồng.
Trong quá trình thực hiện các chính sách và các hoạt động trợ giúp người
khuyết tật, hỗ trợ kết nối việc làm cho người khuyết tật sau khi được đào tạo nghề là
một vấn đề khó khăn và nan giải. Với người không khuyết tật, cơ hội tìm được việc
làm đã khó, với người khuyết tật tiếp cận, tìm kiếm được việc làm còn khó khăn
hơn rất nhiều. Việc làm và thu nhập của người khuyết tật còn nhiều rào cản. Theo
báo cáo thống kê của Cục Việc làm, số người khuyết tật có việc làm chỉ chiếm 1020% trong tổng số người khuyết tật [6], số người khuyết tật còn lại gặp nhiều khó
khăn, hầu hết phải sống dựa vào gia đình. Một bộ phận người khuyết tật tuy có việc
làm, nhưng công việc không ổn định và thu nhập còn rất thấp.
1
Ở Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng, chính quyền các cấp luôn chú
trọng đến công tác học nghề, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người khuyết tật.
Nhiều năm trở lại đây vấn đề này nhận được sự quan tâm lớn và tạo điều kiện thuận
từ phát triển hạ tầng cơ sở cho đến chính sách trợ giúp đối tượng tham gia học nghề
cũng như giáo viên dạy nghề. Luật Dạy nghề năm 2006 đã dành toàn bộ Chương
VII quy định dạy nghề cho người khuyết tật, với mục tiêu giúp đối tượng có năng
những số liệu và thông tin từ rất nhiều các nghiên cứu khác nhau, ở các lĩnh vực khác
nhau [31].
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
TS. Trần Thị Thúy Lâm đã có bài viết phân tích và đánh giá thực trạng pháp
luật Việt Nam hiện hành về học nghề, dạy nghề cho người khuyết tật trên các
phương diện: Chính sách đối với cơ sở dạy nghề, người khuyết tật học nghề và giáo
viên dạy nghề cho người khuyết tật; đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với người khuyết tật cả ở phương diện hoàn
thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện [14].
Ths. Bùi Thái Hiền đã phân tích rõ thực trạng và vấn đề trong công tác đào tạo
nghề cho người khuyết tật tại trong nghiên cứu “Nâng cao chất lượng hiệu quả đào
tạo nghề cho người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề tàn tật tỉnh Bình Dương” từ
đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm cải thiện chất lượng đào tạo nghề và đề xuất
hướng giải pháp gắn kết học nghề và giải quyết việc làm tại trung tâm [10].
Trong luận văn thạc sĩ công tác xã hội “Hoạt động tạo việc làm cho người
khuyết tật huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình” của tác giả Ngô Thị Bích Phượng (2013)
đã tiến hành khảo sát nghiên cứu tại hai cơ sở tư nhân trên địa bàn xã Yên Thắng và
Khánh Thịnh [17]. Tác giả chỉ ra một trong những hoạt nhằm giải quyết việc làm
cho người khuyết tật bằng cách gắn kết nó với việc học nghề từ các lớp dạy nghề
địa phương hoặc của các doanh nghiệp. Thông qua những đặc điểm của người
khuyết tật như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng khuyết tật, hoàn
cảnh kinh tế gia đình, là một trong những yếu tố tác động đến quá trình học nghề và
tìm kiếm việc làm, tác giả đề xuất một số phương pháp, cách thức nhân viên Công
tác xã hội có thể sử dụng để hỗ trợ cho người khuyết tật tiếp cận được cơ hội việc
làm. Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến những yếu tố khác có tác động đến việc làm
của người khuyết tật như yếu tố về môi trường, doanh nghiệp, chính sách.
3
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về đối tượng
Nghiên cứu lý luận và thực trạng về hỗ trợ kết nối học nghề với việc làm cho
người khuyết tật; cụ thể đó là hỗ trợ tư vấn, định hướng việc học nghề để phù hợp
với nhu cầu việc làm của xã hội, hỗ trợ giới thiệu việc làm sau khi học nghề, hỗ trợ
đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại chỗ.
* Phạm vi về khách thể
Nghiên cứu tình hình học nghề của người khuyết tật, công tác kết nối học nghề
và kết nối việc làm tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp Đà Nẵng; hai cơ sở dạy nghề
cho người khuyết tật tư nhân là: Cơ sở dạy nghề Thanh Ngọc Minh, cơ sở dạy nghề
Dana Tre Đà Nẵng; 30/56 nhân viên Công tác xã hội tại 56 xã/phường của 7
quận/huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, những người trực tiếp làm công tác hỗ
trợ kết nối học nghề cho người khuyết tật và nghiên cứu trên 100 người khuyết tật
trên địa bàn thành phố.
Nghiên cứu khách thể gồm cán bộ quản lý, chuyên viên làm công tác hoạch
định kế hoạch hỗ trợ học nghề và tạo việc làm của người khuyết tật.
* Phạm vi về địa bàn: Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận cho chúng ta biết cách thức tiếp cận một vấn đề xã hội cụ
thể, đó là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nhận thức và
cải tạo hiện thực.
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng, từ những đánh giá về thực trạng
học nghề, giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Đà Nẵng, rút ra
được những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp để nâng cao hiệu
quả công tác kết nối học nghề với việc làm đối với người khuyết tật tại thành phố.
Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm cơ sở lý luận, khoa học
vấn đề nghiên cứu của đề tài.
5.2.3 Phương pháp quan sát
Trong đề tài, phương pháp quan sát được sử dụng để ghi lại những thái độ,
hành vi, cách cư xử, trao đổi của các giảng viên đào tạo nghề, nhân viên tư vấn, giới
thiệu việc làm cho người khuyết tật.
6
5.2.4. Phương pháp điều tra bảng hỏi
Là phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập một
bảng hỏi cho nhóm đối tượng cần nghiên cứu trong một không gian, thời gian nhất
định.
Đề tài sẽ điều tra bằng bảng hỏi 70 khách thể là người khuyết tật,
trên 56 xã/phường của 7 quận/huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu giúp làm sáng tỏ lý luận về công tác hỗ trợ kết nối học nghề với
việc làm cho người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, qua đó bổ sung và
làm phong phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá 2 hoạt động học nghề và tạo việc
làm cho người khuyết tật.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các
cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với người khuyết tật: Đánh giá rõ hơn tình hình học nghề, giúp khắc
phục những vấn đề, khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm nhất là sau khi đào tạo
nghề từ đó nâng cao số lượng và chất lượng giải quyết việc làm cho người khuyết
tật. Người khuyết tật sẽ ngày càng khẳng định được vai trò trong xã hội.
- Đối với các cơ quan, trung tâm, tổ chức cung cấp dịch vụ dạy nghề, hỗ trợ
kết nối học nghề với việc làm cho người khuyết tật: Các phát hiện của nghiên cứu
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của người khuyết tật
1.1.1. Khái niệm người khuyết tật
* Khái niệm người khuyết tật
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về người khuyết tật cụ thể như:
“Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí
tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt
những rào cản có thể cản trợ sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật
vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” - Công ước của LHQ về
người khuyết tật (2006).
Định nghĩa về người khuyết tật của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) như sau:
“Khuyết tật là một thuật ngữ chung bao gồm các khiếm khuyết, hạn chế hoạt động
và hạn chế sự tham gia. Người khuyết tật là người gặp phải một vấn đề trong chức
năng hoặc cấu trúc cơ thể dẫn đến giới hạn hoạt động trong việc thực hiện một
nhiệm vụ hoặc hành động, hạn chế sự tham gia giải quyết, thực hiện một vấn đề của
chính cá nhân đó trong việc cuộc sống. Khuyết tật không chỉ là một vấn đề sức
khỏe. Đây là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các đối tượng
của cơ thể của một người và đặc điểm xã hội trong đó con người đang sống.”
Disabilites _ Retrieved 28/10/2016.
Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam ban hành vào năm 2010: “Người khuyết
tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức
năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó
khăn” Đây là định nghĩa khá đầy đủ, tổng hợp được các cách hiểu khác nhau về
khuyết tật và phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam vì vậy trong phạm vi đề
tài, tác giả sử dụng định nghĩa này để hiểu về người khuyết tật.
* Dạng khuyết tật
Việc phân loại khuyết tật ở Việt Nam đã được cụ thể hóa trong Luật Người
khuyết tật năm 2010.
9
10
hiện một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục
vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày nên cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm
sóc. Mặc dù khó khăn trong các hoạt động hằng ngày tuy nhiên người khuyết tật
nặng hoàn toàn có học nghề hay lao động tạo thu nhập.
- Người khuyết tật nhẹ khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận có khả
năng tự phục vụ sinh hoạt hoặc suy giảm khả năng lao động dưới 61%. Người
khuyết tật nhẹ chiếm gần 50% trong tổng số người khuyết tật trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng. Người khuyết tật hoàn toàn có thể có khả năng tự phục vụ bản thân cũng
như học tập và làm việc.
Trong khuôn khổ luận văn này đối tượng nghiên cứu hướng đến là người
khuyết tật nặng và nhẹ vẫn còn khả năng học tập và lao động.
1.1.2. Đặc điểm và nhu cầu của người khuyết tật
* Đặc điểm tâm lý của người khuyết tật
Người khuyết tật là đối tượng thuộc nhóm yếu thế, họ gặp khó khăn về nhiều
mặt trong cuộc sống, trong đó có khó khăn về học tập, việc làm, hôn nhân, bị kỳ
thị... Những đặc điểm tâm lý cũng như thể chất của người khuyết tật luôn ảnh
hưởng đến hoạt động trợ giúp họ. Sự khiếm khuyết về thể chất dẫn tới khả năng
hoạt động chức năng của người khuyết tật có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều
khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập… Chẳng hạn, do bị bệnh tật,
khó khăn đi lại hoặc giao tiếp nên hoạt động học tập, lao động, giao lưu của người
khuyết tật hạn chế hơn nhiều so với người không khuyết tật. Bên cạnh đó, sự thiếu
hụt về thể chất dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động nên người khuyết
tật thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy…Vì thế,
người khuyết tật có đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị.
Bộ phận, giác quan này mất đi thì một hoặc nhiều bộ phận hay giác quan
khác sẽ phát huy mạnh hơn vai trò hay thể hiện rõ nét hơn chức năng của nó. Các cơ
quan còn lại này rất phát triển và sự nhận biết thế giới xung quanh thực hiện chủ
những kỹ năng xã hội cần thiết, ít tiếp cận được với các chính sách hỗ trợ, các trung
tâm tư vấn giới thiệu việc làm, các cơ sở dạy nghề hoặc ngân hàng chính sách xã
hội, thiếu thông tin từ các nhà tuyển dụng.
Nếu sống trong những gia đình khó khăn, người khuyết tật có cảm giác mình
bị bỏ rơi. Đa số người khuyết tật chưa được đi học hoặc học nghề đến nơi, đến chốn
là do tâm lý gia đình ít quan tâm đến nhu cầu đi học, việc làm của người khuyết tật.
12
* Nhu cầu của người khuyết tật
Nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được coi là thiết yếu
cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì khác [5, tr.4].
Theo quan điểm của nhà tâm lý học A. Maslow, con người có 5 bậc thang nhu cầu
được xếp theo thứ tự từ nhu cầu vật chất cơ bản cần thiết đến nhu cầu tinh thần nâng
cao như sau:
- Nhu cầu về sinh lý: đây là các nhu cầu cần thiết để con người sống và tồn tại
như ăn, uống, tình dục, không khí sạch,…khi các nhu cầu này được thoả mãn, thì
con người có xu hướng tìm kiếm các đáp ứng nhu cầu cao hơn.
- Nhu cầu về an toàn: đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống an
toàn, bình yên, ổn định, được sống trong sự bình ổn về kinh tế, về pháp luật, về trật
tự xã hội, không bị đe dọa…, khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn mà nhu cầu an
toàn chưa được đáp ứng, thì các nhu cầu an toàn sẽ là động lực điều khiển hành
động của con người. Con người mong muốn một thế giới bình yên, mọi sự mất ổn
định đều làm cho người ta lo lắng sợ hãi.
- Nhu cầu về xã hội: đây là nhu cầu được yêu thương, được kết bạn, được giao
tiếp, được tham gia vào các nhóm gắn bó về tình cảm. Những nhu cầu này giúp con
người có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, con người thấy được giá trị của mình qua tương
tác với những người khác, và họ cũng học được qua người khác, hiểu và biết cách sống
chung cùng người khác, biết hoà nhập với mọi người, với cộng đồng, xã hội.
- Nhu cầu được tôn trọng: đây là nhu cầu giúp con người sống bình đẳng, tự
khả năng người khuyết tật có được việc làm sẽ cao hơn nhiều.
1.2. Lý luận về hỗ trợ kết nối học nghề với việc làm cho người khuyết tật
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm học nghề
Từ điển Việt Nam định nghĩa về học như sau: “Học là thu nhận kiến thức,
luyện tập kĩ năng được truyền giảng hoặc từ sách vở” [16, tr.357].
Trong nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Bích Phượng (2013) về Hoạt động tạo
việc làm cho người khuyết tật huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình, tác giả có đưa ra định
nghĩa về học nghề như sau “Học nghề được hiểu như là khái niệm chỉ việc học có
tính bài, có cơ sở dạy nghề, giáo viên, giáo cụ, theo một chương trình và phương
pháp căn bản, có dạy lý thuyết và thực hành nghề”.
14
Học nghề có thể hiểu là quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi
các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích và có thể liên
quan đến việc tổng hợp các loại thông tin khác nhau từ sách vở hoặc sự truyền dạy
từ giáo viên, những người am hiểu về các ngành nghề.
* Khái niệm đào tạo nghề
Cuốn “Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam” của Viện Khoa học lao động và
Xã hội và Tổ chức GIZ phối hợp xây dựng đã định nghĩa: “Đào tạo nghề là việc
cung cấp kỹ năng, kiến thức một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho các cá nhân
có đủ khả năng thực hiện công việc, nghề nghiệp hoặc một nhóm công việc, nghề
nghiệp phù hợp” [28, tr.29]. Theo Luật giáo dục nghề nghiệp, “Đào tạo nghề
nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau
khi hoàn thành khóa học để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [20]. Khái niệm “Đào
tạo nghề nghiệp” theo Luật giáo dục nghề nghiệp là một khái niệm mới, đầy đủ và
bao quát nhất.
hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định” [16, tr.457]. Các hoạt động tư vấn trong
thực tế như tư vấn xây dựng, tư vấn pháp luật, tư vấn việc làm,...
Tư vấn việc làm được xem như là hoạt động cung cấp thông tin về thị trường
lao động, cho lời khuyên về học nghề, về công việc, trợ giúp những khó khăn tâm lí
hay hướng dẫn cho người lao động khi họ có nhu cầu tìm việc làm sau khi học nghề
hoặc chưa xác định được ngành nghề phù hợp để học.
* Khái niệm giới thiệu việc làm
Giới thiệu việc làm là hoạt động trong đó các tổ chức hoặc cá nhân có những
thông tin về chỗ việc làm còn trống và giới thiệu cho người tìm việc đến địa chỉ của
người sử dụng lao động để tìm hiểu và có thể đi đến thỏa thuận về việc làm; hoặc
thông tin về người có nhu cầu làm việc cung cấp cho người sử dụng lao động tiếp
xúc và có thể đi đến những thỏa thuận tuyển dụng [17, tr.32].
* Khái niệm kết nối học nghề với việc làm cho người khuyết tật
Theo Từ điển tiếng Việt: “Kết nối là làm cho các phần đang tách rời nối liền
lại, gắn liền lại với nhau” [16, tr.576].
Trong công tác xã hội kết nối là một trong những vai trò quan trọng trong
các hoạt động trợ giúp của nhân viên công tác xã hội, có thể kể đến các hoạt động
16
cụ thể như khai thác, giới thiệu thân chủ tiếp cận tới các dịch vụ, chính sách nguồn
tài nguyên đang sẵn có trong cộng đồng.
Trên thế giới thuật ngữ kết nối học nghề với việc làm được hiểu theo nhiều
cách khác nhau. Như trong báo cáo tại hội nghị của ILO về phục hồi chức năng học
tập và làm việc cho người khuyết tật có đề cập đến việc trợ giúp kết nối học nghề
với việc làm: “các cá nhân, tổ chức, cộng đồng thực hiện các hình thức hỗ trợ khác
nhau nhằm phục hồi chức năng học tập của người khuyết tật từ đó bảo vệ, duy trì,
cải thiện sự tham gia làm việc, giúp người khuyết tật có thể hội nhập, đóng góp cho
xã hội”. [32, tr.4].
nhân viên công tác xã hội đến người khuyết tật, thể hiện khả năng đón nhận và hiểu
những thông điệp mà người khuyết tật truyền đạt. Lắng nghe ở đây có nghĩa là lắng
nghe với một thái độ tích cực để người khuyết tật cảm thấy họ an toàn và được tin
tưởng, đặt ra bên ngoài những định kiến của cá nhân (định kiến về giới tính, địa vị,
tôn giáo, vùng miền, việc làm...). Để lắng nghe người khuyết tật có hiệu quả thì cần
chú ý các yếu tố sau: Tập trung chú ý khi trò chuyện với người khuyết tật; Chú tâm
để hiểu quan điểm và ý nghĩa đằng sau lời nói của người khuyết tật (hiểu thật, hiểu
rõ con người họ); và Phản hồi để hiểu thêm thông tin, ý kiến và cảm xúc của người
khuyết tật [6, tr. 61]. Như vậy, có thể thấy lắng nghe người khuyết tật là một điều
kiện bắt buộc với nhân viên công tác xã hội.
Nguyên tắc thứ ba: trung thực, chân thành với người khuyết tật
Người khuyết tật thường gặp nhiều khó khăn trong việc thỏa mãn các nhu cầu
cũng như sự tự chủ so với người không khuyết tật, đặc biệt là người khuyết tật về trí
tuệ, khuyết tật vận động. Chính vì thế mà nhân viên công tác xã hội cần phải thực
hiện nguyên tắc trung thực, chân thành với người khuyết tật. Việc người khuyết tật
được nhận những thông tin đầy đủ, trung thực giúp họ có thể lường trước được
những khó khăn cũng như điều bất trắc có thể xảy ra với họ, để họ tăng cường giải
pháp đề phòng.
Đây là một số nguyên tắc cơ bản mà nhân viên công tác xã hội cần nắm vững
trong quá trình làm việc với người khuyết tật [6, tr. 62].
Nguyên tắc thứ tư: thỏa hiệp dựa trên sự đồng ý của các bên
Đây là nguyên tắc mà nhân viên công tác xã hội luôn luôn phải nhận thức và
chú trọng trong quá trình làm việc. Bởi thông thường người khuyết tật luôn mong
muốn nhân viên công tác xã hội giúp mình tìm việc làm với những yêu cầu vô lý
18
như công việc nhẹ nhàng, lương cao và điều kiện làm việc tốt, mát mẻ…. thậm chí
trong khi học nghề người khuyết tật còn đòi hỏi phải được nhận lương trong quá
trình đi học.
giới thiệu việc làm sau khi học nghề, hỗ trợ tìm kiếm nguồn lực để giải quyết việc
làm tại chỗ cho người khuyết tật sau đào tạo.
* Hỗ trợ tư vấn việc làm trước và sau khi học nghề
Trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau nên người khuyết tật còn e
ngại chưa quyết định xem có nên đi làm hay không. Một số người khuyết tật còn
chưa nắm được thông tin về loại hình công việc và tự kỳ thị về vấn đề khuyết tật
của mình nên e ngại trong các vấn đề việc làm. Hỗ trợ tư vấn việc làm nhằm giúp
người khuyết tật lựa chọn nghề, trình độ đào tạo, nơi học phù hợp với khả năng và
nguyện vọng; lựa chọn công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng; kỹ năng
thi tuyển; tạo việc làm, tìm việc làm. Do đó, hỗ trợ tư vấn việc làm rất quan trọng,
trước hết là để xóa bỏ những mặc cảm khiến người khuyết tật còn chưa muốn tiếp
cận với việc làm, thứ hai là để làm rõ các băn khoăn, thắc mắc cho người khuyết
tật từ đó khích lệ, động viên người khuyết tật về quyền của họ trong các hoạt động
việc làm.
Sau khi được học nghề đây cũng là giai đoạn khó khăn với người khuyết tật
vì họ không biết sẽ làm việc được không, môi trường làm việc như thế nào hay
làm thế nào họ có thể đi làm được. Nhiều vấn đề đặt ra cần sự tư vấn, hướng dẫn
của nhân viên công tác xã hội để họ có thể an tâm tìm kiếm và làm việc như
những người bình thường.
Trên thực tế hoạt động tư vấn việc làm hiện nay còn nhiều hạn chế do việc tư
vấn đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhiệt tình và nhiều kiến thức kỹ năng chuyên môn mà
không phải cán bộ nhân viên nào cũng có. Tuy nhiên nếu người khuyết tật không
được tư vấn, không được gỡ bỏ những rào cản về tâm lý và những thiếu hụt về
thông tin thì kể cả họ “được” đi làm thì cũng mang tính chất ép buộc, bị động và sẽ
không duy trì được việc làm lâu dài.
Với các nội dung của hoạt động tư vấn, vai trò của nhân viên xã hội được thể
hiện một cách cụ thể như sau:
- Vai trò người tạo sự thay đổi: Nhân viên xã hội bằng các kiến thức và kỹ
năng chuyên môn sẽ đưa ra những can thiệp để giúp người khuyết tật nhận thức ra
Với các nội dung của hoạt động giới thiệu việc làm, vai trò của nhân viên xã
hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:
21