Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố đà lạt, tỉnh lâm đồng (tóm tắt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NỮ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT,
TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội
Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. BÙI ANH THỦY

Phản biện 1: GS.TS. Bùi Thế Cường
Phản biện 2: TS. Nguyễn Hải Hữu

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ...... ,ngày .... tháng..... năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

phần nâng cao chất lượng các dịch vụ xã hội, công bằng xã hội và phát triển kinh tế
- xã hội ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề
hỗ trợ việc làm cho các nhóm đối tượng cụ thể dưới nhiều góc độ khác nhau từ vấn
đề sức khỏe, chăm sóc y tế, chính sách pháp luật đối với lao động nữ. Các vấn đề
về người lao động nói chung và LĐN nói riêng luôn nhận được sự quan tâm đặc
biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài
nước. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích một số
1


công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu như sau:
- Cuốn sách “Tạo việc làm bền vững cho lao động là đối tượng yếu thế” của
Nhà xuất bản Lao động - Xã hội xuất bản năm 2013 do Bộ LĐTBXH biên soạn.
Nghiên cứu “Việc làm cho người khuyết tật và người dễ bị tổn thương khác tại
Quảng Ninh, Hòa Bình và Lâm Đồng” do Ban Công tác xã hội - Trung ương Hội
chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện năm 2010. Bài viết “Chính sách hỗ trợ việc làm:
Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thúy Hà đăng trên cổng thông tin
điện tử của Viện nghiên cứu lập pháp (vnclp.gov.vn). Cuốn sách “Thực trạng lao
động - việc làm và xuất cư 5 năm qua của tỉnh Lâm Đồng” (thời kỳ 2011-2015) của
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng
thực hiện…
Nhìn chung, tác giả của các công trình nghiên cứu ở trên đã có những cách
tiếp cận khác nhau hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp về vấn đề chính sách HTVL.
Đó là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá giúp cho tác giả có những thông tin cần
thiết để kế thừa và phát triển trong luận văn thạc sĩ của mình. Riêng về chính sách
HTVL cho LĐN đã được nhiều đề tài trong nước nghiên cứu dưới các góc độ khác
nhau và từ đó có nhiều đề xuất, đóng góp nhằm cải thiện, hoàn chỉnh việc hoạch
định một số chính sách phù hợp hơn. Nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ việc làm cho

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Tác giả vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy
vật biện chứng để soi sáng vào các luận điểm trong quá trình nghiên cứu, thực hiện
đề tài luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể như phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu,
phương pháp quan sát (thông qua việc tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành về
thực hiện chính sách pháp luật dành cho lao động nữ tại 10 doanh nghiệp trên địa
bàn nghiên cứu), phương pháp xử lý số liệu…thông qua các văn bản, báo cáo của
các cơ quan nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Lạt từ năm 2011-2015.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Giúp hệ thống hóa được các chính sách HTVL dành cho LĐN, thấu hiểu, chia
sẻ và khắc phục những vấn đề, khó khăn trong hỗ trợ việc làm cho LĐN từ đó nâng
cao số lượng và chất lượng giải quyết việc làm. Giúp các cơ quan quản lý nhà nước
ở địa phương trong việc xây dựng, hoạch định, thực hiện và điều chỉnh chính sách
về việc làm một cách hiệu quả và khả thi, phù hợp với thực tiễn nhằm phát huy
được thế mạnh của địa phương góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực
trạng chính sách HTVL đối với LĐN, qua đó có thể bổ sung vào công tác đóng góp
ý kiến, tham vấn chính sách pháp luật cho Nhà nước. Góp phần nâng cao nhận thức
đối với lãnh đạo chính quyền, các tổ chức, hội và đoàn thể các cấp hiểu rõ hơn về
lý luận chính sách HTVL cho LĐN ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và thực tiễn
từ kết quả thực hiện chính sách HTVL cho LĐN tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng, từ đó định hướng góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả của
3



lao động có việc làm. Có nhiều hoạt động hỗ trợ việc làm cho NLĐ nói chung cũng
như cho người phụ nữ nói riêng. Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn này, tác giả
chỉ tập trung nghiên cứu 4 nội dung của chính sách HTVL đối với LĐN là: hỗ trợ tư
vấn việc làm, hỗ trợ giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tự tạo việc làm.
1.1.3. Lao động nữ
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất
4


tự nhiên thành của cải, vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Lao động là điều
kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế,
văn hoá và xã hội.
Luật Việc làm đưa ra khái niệm: Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ
15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc.
Phụ nữ và nam giới là lực lượng lao động quan trọng trong các lực lượng lao
động của xã hội. Cùng với nam giới phụ nữ đóng vai trò hết sức quan trọng trong
quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Như vậy có thể hiểu lao động nữ là những người phụ nữ trong độ tuổi lao
động (từ đủ 15 tuổi trở lên) có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc.
1.1.4. Đặc điểm của lao động nữ
Khi tìm hiểu về phụ nữ, chúng ta thường tìm hiểu trên các đặc điểm sau:
- Xét về phương diện giới tính:
Phụ nữ thường hạn chế về thể lực hơn nam giới và có thêm thiên chức mang
thai, làm mẹ, sinh con và nuôi con. Vì vậy LĐN chỉ phù hợp trong những điều kiện
lao động nhất định. Trong nền kinh tế thị trường thì đây là “điểm hạn chế” của phụ
nữ với tư cách là người đi tìm việc.
- Xét trên phương diện giới:
So với nam giới, điều kiện sinh hoạt của phụ nữ thường phức tạp hơn, cũng
do nhiều nguyên nhân chi phối nên LĐN thường có trình độ học vấn thấp hơn nam
giới, cộng thêm bản tính rụt rè, thiếu tự tin của người phụ nữ đang là những trở

lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm
quyền của mình.
1.1.5.2. Chính sách xã hội:
Chính sách xã hội là công cụ để đảm bảo nền an sinh xã hội. CSXH ở một
nghĩa rộng nhất được hiểu như một bộ phận cấu thành chính sách chung của một
Nhà nước, chính quyền hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết vấn đề liên quan
tới cuộc sống của con người, đến lợi ích của nhóm người trong xã hội góp phần
điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mục tiêu của giai cấp, chính đảng.
Khái niệm CSXH có thể hiểu là sự thể chế hóa, cụ thể hóa các giải pháp của
Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề xã hội liên quan đến từng nhóm người hay
toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, nhằm
hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người.
1.1.5.3. Chính sách hỗ trợ việc làm:
Chính sách hỗ trợ việc làm là một trong các nhóm chính sách xã hội nhằm để
giải quyết vấn đề việc làm cho con người trong xã hội, bao gồm: hỗ trợ tư vấn việc
làm, hỗ trợ giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tự tạo việc làm.
1.1.5.4. Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ:
Theo Từ điển Tiếng việt “Thực hiện” là việc làm cho trở thành cái có thật
bằng hoạt động cụ thể.
Thực hiện chính sách còn gọi là Thực thi chính sách (Policy implementation)
được hiểu là: Một chính sách được thông qua sẽ được chuyển đến cơ quan hành
pháp để huy động các nguồn lực tài chính, nhân lực triển khai thực hiện. Đây là giai
đoạn quan trọng mà chính sách công thực sự tác động đến xã hội nhằm đạt được
các mục tiêu nhà nước đã đề ra và cũng có thể dẫn tới những tác động không mong
6


muốn, thậm chí ngoài dự đoán phân tích ban đầu.
Như vậy có thể hiểu thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho LĐN là thông
qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quyền… các chính sách

lao động đã có những quy định ưu đãi đối với LĐN nhằm giúp họ hoàn thành công
việc và đảm bảo thực hiện tốt thiên chức của mình.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề hỗ trợ việc làm cho lao động nữ. Nhà
7


nước ta đã thể chế hoá nhiều nội dung về việc làm bằng Hiến pháp, các đạo luật và
nhiều văn bản pháp luật khác, cụ thể đó là:
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ
sung mới) đã hiến định rằng công dân nam và nữ bình đẳng về mọi mặt, Nhà nước
có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới, có chính sách tạo điều kiện
để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội và nghiêm
cấm phân biệt đối xử về giới (Điều 26, Chương II). Bộ luật Lao động 2012 đã dành
hẳn Chương X quy định riêng cho lao động nữ. Luật Việc làm 2013 đã có những
quy định cụ thể về dạy nghề và việc làm đối với lao động nữ. Luật Giáo dục nghề
nghiệp có các quy định hỗ trợ giáo dục nghề nghiệp đối với các nhóm đối tượng
đặc thù trong đó có lao động nữ. Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015
của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách
đối với lao động nữ…
Như vậy các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về chính sách hỗ trợ
việc làm cho lao động nữ hiện nay là khá đầy đủ, rõ ràng.
1.2.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với
lao động nữ.
1.2.3.1. Yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là cơ sở quan trọng ban đầu cho phát triển sản xuất, điều
kiện tự nhiên gồm các đặc điểm chung về khí hậu, thổ nhưỡng, sông ngòi, đất
đai…nhằm phát huy mặt thuận lợi và hạn chế mặt không thuận lợi của điều kiện tự
nhiên tác động, chi phối tới nền sản xuất, trên cơ sở đó có định hướng nhằm xây
dựng, hoạch định các chính sách phát triển đúng đắn, mang tính bền vững, khả thi
cao nhằm mục tiêu quan trọng là phát triển con người - chủ thể và động lực chủ yếu

trợ việc làm cho lao động nữ, đó có thể là những yếu tố bên ngoài và cả bên trong
bản thân của chính những người lao động nữ.
1.2.4. Nhận thức của xã hội về công tác xã hội nói chung và công tác xã hội
đối với LĐN nói riêng
1.2.4.1. Nhận thức của xã hội về công tác xã hội
CTXH là một nghề chuyên môn, một khoa học đã xuất hiện trên thế giới hàng
trăm năm. Tùy vào những điều kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như nền
tảng tư tưởng CTXH tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới lại có những đặc
điểm riêng biệt.
Ngày 25/3/2010 Chính Phủ ký Quyết định phê duyệt “Đề án phát triển nghề
công tác xã hội giai đoạn 2010- 2020”, cùng với sự nỗ lực vào cuộc của các cơ
quan ban ngành. Công tác xã hội đã đang nhận được sự quan tâm của toàn xã hội.
Đến nay công tác xã hội đã trở thành một nghề chuyên nghiệp, được nhà nước công
nhận về mặt pháp lý và được xã hội thừa nhận. Những kết quả đạt được bước đầu
ấy đã góp phần hiệu quả trong việc chăm lo đời sống nhân dân, xây dựng hệ thống
an sinh xã hội tiên tiến.
Đến nay nhận thức hiểu biết của cán bộ các ban ngành, đoàn thể, tổ chức hội
và người dân, cộng đồng, xã hội đã có nhiều chuyển biến căn bản, đã có nhiều mô
hình trung tâm công tác xã hội vận hành hoạt động rất hiệu quả như Quảng Ninh,
Bến Tre, Long An, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh… bên cạnh đó hệ thống
đội ngũ nhân viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng
9


được mở rộng, đặc biệt việc xây dựng mạng lưới cộng tác viên trong việc trợ giúp
các nhóm người yếu thế trong xã hội đang được chú trọng triển khai, thực hiện.
Tuy nhiên, để công tác xã hội thực sự đi vào cuộc sống cần phải có cơ chế
chính sách phù hợp, đội ngũ những người làm nghề công tác xã hội cần có chuyên
môn cao, có tâm huyết với nghề đáp ứng với yêu cầu của cuộc sống và xã hội.
Cũng cần có lộ trình cụ thể nhằm gắn kết từng giai đoạn phát triển của Nghề. Điều

10


1.3.2.1. Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng:
Thành phố Đà Nẵng là một thành phố trẻ, thành phố “đáng sống” ở Việt
Nam, vốn nổi tiếng với các chính sách như: “thành phố 5 không” (Không có hộ đói,
không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện
ma tuý trong cộng đồng, không có giết người cướp của) và “Thành phố 3 có” (Có
việc làm, có nhà ở, có nếp sống văn hoá, văn minh đô thị). Có thể thấy, một trong
những thành công lớn nhất của Đà Nẵng là đẩy mạnh hiện đại hóa, đô thị hóa gắn
liền với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, trong đó có công tác hỗ trợ chuyển đổi
ngành nghề, giải quyết việc làm cho NLĐ nói chung trong đó có lao động nữ.
1.3.2.2. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Với đặc thù là thành phố đông dân nhất trong cả nước, thành phố Hồ Chí
Minh đã có nhiều chính sách hỗ trợ việc làm phù hợp và thực hiện có hiệu quả như
tổ chức sàn giao dịch việc làm, phiên giao dịch việc làm gắn kết cung - cầu lao
động, chú trọng công tác tư vấn, giới thiệu việc làm cho lao động thanh niên, lao
động nữ, lao động khuyết tật...
Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG NỮ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT,
TỈNH LÂM ĐỒNG
2.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng
2.1.1. Khát quát tình hình kinh tế - xã hội
Theo phân loại đô thị toàn quốc, Thành phố Đà Lạt là đô thị loại I, thuộc tỉnh
Lâm Đồng có chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của tỉnh; thành phố
Đà Lạt nằm tên cao nguyên LangBiang, có độ cao trung bình so với mặt biển
khoảng 1.500m, không có đường địa giới hành chính chung với các tỉnh lân cận;
phía bắc giáp huyện Lạc Dương, phía đông và đông nam giáp huyện Đơn Dương,

c. Cơ cấu việc làm của lao động nữ theo loại hình kinh tế
Lao động nữ ở các loại hình kinh tế của thành phố Đà Lạt đã có những bước
chuyển dịch đúng hướng. Quá trình này tất yếu làm tăng tỷ trọng lao động trong
các ngành du lịch và dịch vụ - được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố và
của tỉnh.
2.2. Đặc điểm của lao động nữ tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Với đặc thù là một thành phố nông nghiệp, du lịch, dịch vụ là chủ yếu, nông
nghiệp (nông nghiệp công nghệ cao) vẫn là nơi thu hút phần lớn lực lượng lao động
của thành phố, còn các hoạt động phi nông nghiệp thì chiếm lực lượng lao động
nhìn chung có tăng nhưng không đáng kể.
Phần lớn lao động làm việc trong nền kinh tế của thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng vẫn làm những nghề không cần có trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng như
yêu cầu cao về kỹ năng nghề nghiệp, như móc đan len, thêu tranh, trồng, chăm sóc
và thu hoạch nông sản…Trên địa bàn thành phố có các doanh nghiệp sử dụng nhiều
LĐN như Cty XQ Đà Lạt, Công ty TNHH Agrivina (Đà Lạt Hasfarm), Công ty cổ
phần May Đà Lạt…
Với đặc điểm và thực trạng của LĐN tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã
12


phân tích trên, để đạt mục tiêu hỗ trợ, giải quyết việc làm một cách có hiệu quả và
mang tính bền vững, thì việc nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ xã hội về
hỗ trợ việc làm thiết nghĩ có thể triển khai đồng bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho lao động nói chung và LĐN nói riêng có thể dễ dàng tiếp cận và tham gia vào
thị trường lao động.
2.3. Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ
thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
2.3.1. Tổng hợp các chính sách đặc thù về hỗ trợ việc làm cho lao động nữ
được thực hiện tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Từ năm 2011-2015, với chức năng, nhiệm vụ được phân công là thực hiện

tin về thị trường lao động, mở rộng mạng lưới cộng tác viên thông qua các Hội,
đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh. Nội dung tư vấn
gồm: tư vấn hướng nghiệp, tư vấn kỹ năng tìm việc làm phù hợp, tư vấn xuất khẩu
lao động..
2.2.2.2. Chính sách hỗ trợ giới thiệu việc làm
Giới thiệu việc làm giúp LĐN có thể tìm được việc làm phù hợp. Đây là một
hoạt động rất quan trọng trong việc hỗ trợ LĐN có được việc làm ổn định. Hoạt
động giới thiệu việc làm không đơn thuần chỉ là giới thiệu cho LĐN đến những nơi
có nhu cầu tuyển lao động mà còn là sự đánh giá tỉ mỉ giữa khả năng của LĐN và
những yêu cầu của nhà tuyển dụng để từ đó giới thiệu LĐN đến những cơ quan,
doanh nghiệp có những yêu cầu phù hợp với năng lực của LĐN.
2.3.2.3. Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
Hệ thống dạy nghề trên địa bàn thành phố đã được đầu tư, mở rộng về quy
mô và nâng cao về chất lượng nhằm tạo điều kiện thực hiện hiệu quả công tác đào
tạo nghề gắn với giải quyết việc làm. Có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ khuyến
khích đầu tư của các doanh nghiệp trong công tác đào tạo và sử dụng lao động nữ.
Toàn tỉnh hiện có 29 cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ
cấp. Đa số các cơ sở đào tạo lớn của tỉnh ở các trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp
đều tập trung tại thành phố. Đây đươc xem là một lợi thế lớn của thành phố trong
công tác đào tạo nghề nhằm giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn
tỉnh nói chung và thành phố Đà Lạt nói riêng.
Thành phố đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển kinh tế
vườn, kinh tế trang trại, khuyến khích sử dụng lao động trong thời gian nông nhàn,
phát huy các nguồn lực thế mạnh của thành phố như ưu tiên cho vay vốn đầu tư
nâng cấp kinh tế vườn (làm nhà kính, hệ thống nước tưới để trồng bông, hoa, dâu
tây, cây atiso…) áp dụng tiêu chuẩn Vietgap trong các giai đoạn của chu trình sản
xuất để tạo ra những sản phẩm sạch, an toàn mang thương hiệu của thành phố Đà
Lạt...
2.2.2.4. Chính sách hỗ trợ vốn để tạo việc làm
Trong thời gian qua, hoạt động hỗ trợ vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm

tư vấn ban đầu để cung cấp thông tin, tư vấn quyền lợi và trách nhiệm của người
lao động bảo hiểm thất nghiệp và khuyến khích người lao động không làm thủ tục
hưởng BHTN mà tiếp tục tham gia vào thị trường lao động…
2.4.1.2. Hỗ trợ giới thiệu việc làm
Hàng năm, căn cứ chỉ tiêu UBND tỉnh Lâm Đồng giao về giới thiệu việc làm,
theo đó mỗi năm thành phố phấn đầu giới thiệu việc làm cho 4.500 người/năm.
Trong đó XLLĐ là 60 người/ năm. Trong tổng số hơn 20.167 người được giải
quyết việc làm mới từ năm 2011 đến 2015 có khoảng 12.892 người đã được đào
tạo, chiếm 63,93%. Hiện thành phố có 36,62% số người đang làm việc chưa được
đào tạo. Số liệu tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo cho thấy chất lượng
việc làm còn thấp, chưa đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững. Lao động với chất
lượng thấp đồng nghĩa với việc làm không bền vững, việc trả lương thấp và không
đáp ứng được xu thế mới, sử dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất và quản lý.
15


2.4.1.3. Hỗ trợ cho vay vốn tự tạo việc làm:
Từ các nguồn vốn của Trung ương và nguồn vốn ngân sách thành phố,
trong những năm qua (2011-2015) Ngân hàng chính sách tỉnh Lâm Đồng đã
thực hiện cho vay giải quyết việc làm khoảng 999 dự án, với tổng doanh số
cho vay là 19.465 triệu đồng. Đã giải quyết việc làm cho khoảng 2.017 lao
động, trong đó tạo việc làm mới cho khoảng 1.163 lao động. Đã xuất hiện
nhiều gia đình vươn lên thoát nghèo, có cộng sống và việc làm ổn định, làm
giàu từ nguồn vốn vay giải quyết việc làm như: mô hình vườn ươm cây giống
hoa cúc của chị Trương Thị Xuân Dung, ở khu An Sơn, Phường 4, thành phố
Đà Lạt…Tuy nhiên nhu cầu vay vốn của các người dân, doanh nghiệp là số
lương lớn trong khi đó định mức vay của chương trình giải quyết việc làm có
hạn theo quy định của Nhà nước.
2.4.1.4. Hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động:
Từ năm 2011 đến 2015, thành phố đã tổ chức được 55 lớp dạy nghề, với tổng

sống tối thiểu của bản thân và gia đình họ. Nhu cầu tuyển dụng lao động của các
doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh thì nhiều nhưng bản thân người lao động chưa
đáp ứng được yêu cầu về trình độ và kỹ năng tay nghề mà doanh nghiệp đề ra.
Chính sách tín dụng ưu đãi về giải quyết việc làm tập trung nhiều cho hộ gia đình
vay vốn. Riêng các doanh nghiệp chưa thu hút được nhu cầu vay vốn của doanh
nghiệp, mặc dù lãi suất được ưu đãi.
Công tác tuyên truyền các chính sách lao động, việc làm dạy nghề còn hạn
chế, chưa đến được với hầu hết người lao động cũng như người sử dụng lao động.
Vì vậy, việc chấp hành các quy định của nhà nước về pháp luật lao động chưa cao,
vẫn còn xảy ra tình trạng tranh chấp lao động.
Kết luận Chương 2
Trong Chương 2 đã phản ánh một cách cụ thể về thực trạng chính sách HTVL
cho LĐN ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, đồng thời làm sáng tỏ những quan
điểm, cách tiếp cận, các khái niệm về thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho
LĐN đã nêu ở Chương 1.
Cùng với những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại, khó khăn và hạn chế
trong việc thực hiện chính sách HTVL cho LĐN hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu và
nguyện vọng của tất cả người lao động nói chung và LĐN nói riêng trên địa bàn;
vẫn còn những trường hợp chưa được tiếp cận với mạng lưới các dịch vụ xã hội,
đáng chú ý là dịch vụ hỗ trợ việc làm, thiếu thông tin về thị trường lao động. Trước
những hạn chế, bất cập, nguyên nhân từ thực tiễn việc thực hiện chính sách HTVL
cho LĐN trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, đòi hỏi các cơ quan quản
lý nhà nước trên địa bàn phải có những giải pháp kịp thời, phù hợp và đồng bộ
trong quá trình triển khai, thực hiện chính sách HTVL cho LĐN; đó là sự cộng
hưởng và vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị ở địa phương nhằm chung tay
giúp đỡ người lao động trên địa bàn thành phố được tiếp cận với các thông tin về
thị trường lao động để tìm kiếm việc làm phù hợp mang lại nguồn thu nhập và nâng
cao chất lượng cuộc sống.

17

triển và hòa nhập quốc tế của thành phố.
3.1.2.2. Mục tiêu cụ thể:
Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, tập trung ưu tiên nguồn nhân lực cho
các xã, thôn nghèo, vùng đặc biệt khó khăn; chú trọng đào tạo nghề và giải quyết
việc làm cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội. Chú trọng phát triển nguồn
nhân lực trình độ cao.
Phấn đấu mỗi năm, tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo
khoảng 65% so với số người trong độ tuổi lao động, trong đó qua đào tạo nghề là 43%.
18


Giải quyết việc làm mới cho khoảng 4.500 lao động.
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ
3.2.1. Giải pháp chung
3.2.1.1. Phát triển kinh tế để tạo việc làm
Cần tập trung thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội của thành phố nhằm tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động.
3.2.1.2. Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nông nghiệp sang phi nông
nghiệp. Phấn đấu phát triển hệ thống các khu du lịch để đưa du lịch thành ngành
kinh tế mũi nhọn của thành phố và của tỉnh, tạo ra nhiều việc làm mới và nguồn thu
nhập cao cho người lao động. Vì đây là ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động nữ.
3.2.2. Giải pháp cụ thể
3.2.2.1. Nhóm giải pháp để hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao
động nữ
3.2.2.1.1. Xã hội hóa vấn đề dạy nghề, giải quyết việc làm:
Tuyên tuyền và phổ biến rộng rãi về luật Việc làm để chính sách hỗ trợ việc
làm nói chung và cho LĐNnói riêng của Nhà nước, của tỉnh, của thành phố đến
được với doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước, tỉnh, thành phố không chỉ có trách
nhiệm tạo việc làm mà phải có trách nhiệm định hướng phát triển việc làm hướng

Thúc đẩy phát triển các yếu tố thị trường và kết nối liên thông với thị trường
lao động trong tỉnh, cả nước và khu vực, trước mắt tạo điều kiện phát triển thị
trường lao động phù hợp với trình độ phát triển của tỉnh. Chú ý xây dựng và cập
nhật kịp thời các thông tin về giá cả thị trường, cung-cầu lao động, hàng hóa, dịch
vụ. Xây dựng mối liên hệ giữa các trung tâm dịch vụ việc làm nhằm huy động các
nguồn lực, hạn chế sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trong hoạt động dịch vụ việc
làm.
3.2.2.1.4. Triển khai các chương trình về mục tiêu quốc gia về việc làm
Cần có các giải pháp cụ thể nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
vốn vay hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm giải quyết việc làm thông qua Quỹ quốc gia giải
quyết việc làm. Tạo việc làm mới thông qua đề án đào tạo nghề cho lao động nông
thôn và giới thiệu việc làm của thành phố, tỉnh. Tạo việc làm cho LĐN thông qua
xuất khẩu lao động.
3.2.2.2. Nhóm giải pháp nhằm đảm bảo cho việc triển khai các cách tiếp cận,
phương pháp phù hợp đối với lao động nữ
3.2.2.2.1. Nâng cao nhận thức về thực hiện Luật bình đẳng giới và chiến lược
Quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ:
Luật Bình đẳng giới và Nghị quyết 11-NQ/BCT về công tác phụ nữ thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là hai văn bản quan trọng thể
hiện rõ những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và sự chỉ đạo tổ chức thực
hiện của Đảng và nhà nước về bình đẳng giới và công tác phụ nữ hiện nay ở nước
ta. Cần được quán triệt sâu sắc, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, phải
được tuyên truyền rộng rãi và đưa vào chương trình đào tạo bồi dưỡng trong các
trường học thuộc hệ thống giáo dục công dân.
3.2.2.2.2. Quan tâm nâng cao sức khỏe cho lao động nữ:
20


Phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để các nhà hoạch định
chính sách, đặc biệt là nam giới quan tâm, đầu tư hơn nữa, có trách nhiệm hơn nữa

3.3. Lộ trình và điều kiện đảm bảo thực hiện
3.3.1.Giai đoạn 2016-2020
Tiếp tục thực hiện các nội dung, giải pháp thực hiện chính sách hỗ trợ việc
làm cho NLĐ nói chung và LĐN nói riêng.
21


Từng bước triển khai, áp dụng thử nghiệm các chính sách đảm bảo cho nhân
viên CTXH triển khai các hoạt động HTVL, cách tiếp cận và phương pháp phù hợp
đối với lao động nữ. Chuyên nghiệp dịch vụ HTVL cho người lao động nói chung
và LĐN nói riêng trong các Trung tâm Dịch vụ việc làm, Trung tâm Công tác xã
hội để rút kinh nghiệm nhằm điều chỉnh, hoàn thiện chính sách.
3.3.1.2. Giai đoạn 2021-2025
Chuẩn hóa và vận hành chính sách hỗ trợ việc làm mang tính đồng bộ, đảm
bảo cho nhân viên CTXH triển khai các cách tiếp cận, phương pháp CTXH phù
hợp đối với từng nhóm đối tượng cụ thể và chuyên nghiệp dịch vụ HTVL cho
LĐN.
3.3.2. Điều kiện đảm bảo thực hiện
Chính sách việc làm nói chung và hỗ trợ việc làm cho LĐN nói riêng cần phải
phát huy được các nguồn lực của xã hội vào việc tạo việc làm và đảm bảo việc làm.
Tăng cường huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp và các tổ chức và người
dân cho đào tạo nâng cao trình độ người lao động. Thực hiện các cơ chế, chính
sách ưu đãi để khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo với các
hình thức khác nhau như đặt hàng với các cơ sở đào tạo, tự tổ chức đào tạo nhân
lực trong doanh nghiệp và thành lập các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để đào
tạo nhân lực cho bản thân doanh nghiệp và cho xã hội.
Cần có quy định có thể, rõ ràng về vị trí làm việc, vai trò, quyền hạn và trách
nhiệm của nhân viên công tác xã hội.
Kết luận Chương 3
Từ việc thực hiện chính sách HTVL và thực trạng nguồn nhân lực là lao động

triển chung của xã hội, trong thời gian qua địa phương đã triển khai nhiều giải pháp
để từng bước phát triển nghề CTXH và bước đầu nghề CTXH đã đóng góp nhất
định vào việc giải quyết các vấn đề xã hội nói chung và thực hiện thắng lợi mục
tiêu an sinh xã hội.
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy rõ vai trò quan trọng của công tác xã hội
trong các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ. Hoạt động của nghề công
tác xã hội bằng những công cụ đặc thù để đánh giá, phân tích, kết nối nguồn lực, để
LĐN có thể gỡ bỏ được những rào cản từ bản thân, tâm lý tự ti và môi trường xung
quanh để có thể tham gia vào các hoạt động việc làm một cách hiệu quả và bền
vững nhất.
2. Kiến nghị:
- Đối với cấp Trung ương
Trên thực tế, trình độ chuyên môn của một bộ phận lớn LĐN còn rất thấp,
chủ yếu là lao động phổ thông. Vấn đề đặt ra là nhà nước cần có sự điều chỉnh lại
quy mô của các cấp đào tạo để triển khai thực hiện. Việc nâng cao chất lượng của
LĐN làm chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp cần được quan
tâm và giải quyết đồng bộ, chú trọng cả về kỹ thuật lẫn hiểu biết về sản xuất hàng
hóa và nền kinh tế thị trường.
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status