Công tác thực hiện chính sách hỗ trợ vay vốn cho hộ gia đình nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội - Pdf 43

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi ;
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và xuất phát từ
tình hình thực tế tại địa bàn nghiên cứu
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thanh Vân

1

1


LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đối với Hội
đồng khoa học chuyên ngành “Công tác xã hội” trường Đại học Lao động –
Xã hội, cùng Quý thầy, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ em
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu viết khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Ths. Nguyễn Hồng Linh - Người đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu để
hoàn thành bản khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Võng Xuyên,
Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phúc Thọ, tổ vay vốn xã Võng Xuyên và
các hộ gia đình nghèo tại địa phương đã tạo điều kiện cung cấp những thông
tin, những số liệu quý báu giúp em trong quá trình nghiên cứu và trong quá
trình hoàn thành bài khóa luận.
Em xin cám ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ em trong suốt
thời gian qua.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song những
thiếu sót trong khóa luận là không tránh khỏi. Kính mong nhận được sự đóng
góp và sự chỉ dẫn góp ý và giúp đỡ thêm của quý thầy giáo, cô giáo và các
bạn.

Từ đầy đủ
Chính sách xã hội
Học sinh sinh viên
Mặt trận tổ quốc
Ngân hàng chính sách xã hội
Nước sạch và vệ sinh môi trường
Tiết kiệm và vay vốn
Ủy ban nhân dân

3


MỤC LỤC

4

4


DANH MỤC BẢNG BIỂU
ST
T
1
2
3
4
5
6

5

Đánh giá của hộ nghèo về vay vốn tại xã Võng Xuyên
4
Sự đánh giá về chính sách hỗ trợ vay vốn sản xuất nông
5
nghiệp của các hộ nghèo xã Võng Xuyên
Trình độ văn hóa của các hộ gia đình nghèo đang sử
6
dụng hiệu quả nguồn vốn vay 3 tháng đầu năm 2017
Tỷ lệ các yếu tố tác động đến thực hiện vay vốn của hộ
7
gia đình nghèo 3 tháng đầu năm 2017

6

Số trang

6


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển
con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia. Người nghèo thường không có
điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội như việc làm, giáo dục, chăm sóc sức
khỏe, thông tin, v.v…và những điều đó khiến cho họ càng ít có cơ hội thoát
nghèo. Do vậy, mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực cho người
nghèo là phương thức tốt nhất để giảm nghèo bền vững. Điều này không chỉ
đem lại động lực cho các hộ gia đình vươn lên thoát nghèo mà còn đảm bảo
sự công bằng và độ bao phủ rộng lớn, toàn diện với tất cả các hộ gia đình
nghèo ở khắp mọi nơi.

Xuất phát từ những lý do trên, sinh viên đã lựa chọn đề tài “Công tác
thực hiện chính sách hỗ trợ vay vốn cho hộ gia đình nghèo tại xã Võng
Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” nhằm đánh giá được kết quả
của công tác thực hiện chính sách hỗ trợ vay vốn phát triển nông nghiệp cho
hộ nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
2. Tổng quan đề tài nghiên cứu
Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo là vấn đề của toàn thế giới, quốc gia
và dân tộc. Đó là vấn đề cấp thiết đang đặt ra cho mỗi quốc gia, nhất là các
nước đang phát triển, các nước chậm phát triển và các nước nghèo. Tùy theo
tình hình kinh tế và thực trạng nghèo đói của mỗi nước mà quốc gia có những
hoạch định, giải pháp và những chương trình hành động để xóa đói giảm
nghèo tương ứng cho quốc gia mình.
Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề
nghèo đói. Mỗi công trình nghiên cứu đều đề cập đến tình hình thực tế, từ đó
có các giải pháp giải quyết triệt để một vấn đề cụ thể trong phát triển sản xuất
nông nghiệp. Các giải pháp này đều huy động các nguồn lực, sử dụng đất đai,
tài nguyên, khí hậu, nguồn nhân lực nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói.
Qua nghiên cứu cho thấy, trong các vấn đề về nghèo đói, một trong những vấn
đề nổi bật, cần được quan tâm ưu tiên giải quyết. Đây cũng là mối quan tâm
8


chung của các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà nghiên cứu trong
quá trình nghiên cứu chính sách và hoạch định chính sách để hỗ trợ cho nhóm
đối tượng yếu thế này.
Trong cuốn “Xóa đói giảm nghèo của Việt Nam” do UNDP nghiên cứu
đề cập đến vấn đề về nguồn vốn tín dụng cho người nghèo, nêu lên những vấn
đề bất cập trong việc cho vay vốn và chuyển giao vốn cho người nghèo trong
quá trình thực hiện thực tế.
Trong cuốn “Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam” do Nhà xuất bản chính trị

chính phủ, chính phủ cần có sự can thiệp trực tiếp trong những trường hợp
đặc biệt như khắc phục hậu quả thiên tai hay ưu tiên hỗ trợ vùng sâu vùng xa.
Tuy nhiên chính phủ không nhất thiết phải cung cấp tín dụng với số lượng
nhiều và giá rẻ. Tạo cầu nối giữa tín dụng chính thức và không chính thức ở
những địa phương có trình độ dân trí thấp. Các tổ chức tín dụng chính thức
ngoài việc cho vay cần hỗ trợ hướng dẫn người dân sử dụng vốn vay hợp lý,
có hiệu quả. Bên cạnh đó cũng cần quan tâm nhiều hơn đến các hộ có phụ nữ
nghèo. Cấp tín dụng trực tiếp cho phụ nữ để tăng cơ hội giúp cho họ tham gia
hoạt động kinh tế, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc, nâng cao lòng tự trọng và sự
tự chủ trong gia đình. Đẩy mạnh phong trào huy động vốn tiết kiệm của hộ
nông dân nghèo. Xóa bỏ sự ngộ nhận là người nghèo không thể tiết kiệm.
Điều này khuyến khích các hộ nghèo không chỉ trả nợ đúng hạn mà sử dụng
vốn vay một cách hiệu quả.
Năm 2001, thạc sỹ Nguyễn Ngọc Anh đã tiến hành nghiên cứu về định
chế tín dụng nông thôn Việt Nam. Trong nghiên cứu này tác giả cho rằng hoạt
động của hệ thống tín dụng chính thức đang phát triển trở lại ở nông thôn với
sự tham gia không ngừng của Chính phủ (thông qua ngân hàng nhà nước, quỹ
tín dụng nhân dân), mà còn có sự viện trợ từ NGO qua các chương trình viện
trợ quốc tế có mục tiêu ( hoạt động thông qua hệ thống Ngân hàng mà sử
dụng các tổ chức quần chúng nhân dân, các đoàn thể hiệp hội), các quỹ tín
dụng nhân dân và các ngân hàng cổ phần thương mại trong nước. Trong đó,
đặc biệt hoạt động của Ngân hàng có cải tiến hơn so với những chương trình

10


có cải cách như: chương trình tín dụng cho tầng lớp người dân nghèo, Ngân
hàng di động, cho vay theo nhóm hộ,….
Đối với các hoạt động phi chính thức, tác giả Lâm Chí Dũng (2005) đã
có công trình nghiên cứu về hoạt động tín dụng phi chính thức ở nông thôn

Đề tài “thực trạng hoạt động tín dụng tại xã Tượng Sơn, huyện Thạch
Hà, tỉnh Hà Tĩnh”, tác giả Dương Thị Thùy Dung (2009) đã đánh giá đúng
thực trạng hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng chính thức chính thức
trên địa bàn nghiên cứu. Đi sâu vào phân tích tình hình vay vốn và sử dụng
vốn vay của hộ nông dân và cho thấy được hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ
nông dân xã Tượng Sơn. Đồng thời đưa ra một số giải pháp gắn liền với tình
hình thực tế tại địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ
chức trên địa bàn địa phương. Tuy nhiên khóa luận chưa phản ánh được đầy
đủ về tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn xã. Đặc biệt là
hình thức phường hội, vay nặng lãi… Ngoài ra còn chưa đề cập rõ tình hình
huy động vốn của các tổ chức tín dụng cũng như khả năng tiết kiệm của người
dân.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều viết và nghiên cứu dưới
góc độ kinh tế học. Giải quyết vấn đề này, các tác giả đã bám sát những vấn
đề đặc biệt là vấn đề vốn, bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn vốn của các
tầng lớp khác nhau trong xã hội nông thôn. Riêng việc sử dụng vốn là vấn đề
được quan tâm nhất. Hầu hết các nghiên cứu đều đi từ địa bàn rộng đến các
địa bàn cụ thể ở từng địa phương. Nhưng ngoài các thành tựu đã đạt được thì
các vấn đề nghiên cứu này hầu như chỉ nhấn mạnh đén việc cho vay vốn và sử
dụng vốn vay, và đặc biệt quan tâm đến hiệu quả kinh tế chứ không đề cập
nhiều đến hiệu quả xã hội do việc vay vốn đem lại.
Việt Nam là một trong những quốc gia được xếp hạng trong top các
quốc gia đang phát triển. Xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua
nhiều khó khăn và hứng chịu hậu quả từ chiến tranh kéo dài, tài nguyên thiên
nhiên giàu có tuy nhiên điều kiện tự nhiên phức tạp dẫn đến một bộ phận
không nhỏ người dân còn nghèo, đặc biệt đối với các đối tượng sinh sống tại
miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa, biên giới,…còn gặp nhiều khó khăn
12




- Đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm thực hiện tốt và hiệu quả hơn
công tác thực hiện chính sách hỗ trợ vay vốn cho hộ gia đình nghèo tại xã
Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Công tác vay vốn cho hộ gia đình nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện
Phúc Thọ, thành Phố Hà Nội được thực hiện như thế nào?
- Những yếu tố tác động tới việc thực hiện chính sách hỗ trợ vốn cho hộ
nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành Phố Hà Nội ?
- Có những giải pháp gì để công tác thực hiện chính sách hỗ trợ vốn
cho hộ gia đình nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành Phố Hà
Nội đạt được hiệu quả cao hơn.
6. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác thực hiện chính sách hỗ trợ vay cho hộ gia đình nghèo tại xã
Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành Phố Hà Nội.
6.2 Khách thể nghiên cứu
- Các hộ gia đình nghèo tại xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành
Phố Hà Nội.
- Cán bộ phòng lao động thương binh xã hội tại xã Võng Xuyên.
- Cụm trưởng cụm dân cư trên địa bàn xã Võng Xuyên.
7. Phạm vi nghiên cứu
7.1 Phạm vi không gian
Nghiên cứu trên địa bàn xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố
Hà Nội.
7.2 Phạm vi thời gian
Đề tài nghiên cứu trong thời gian năm 2016

14


15


Xây dựng bảng hỏi với các nội dung phù hợp và tiến hành điều tra trên
thực tế đối với các khách thể cần nghiên cứu. Muc đích sử dụng bảng hỏi để
diễn tả, chỉ dẫn đối tượng nghiên cứu bằng cách điền trực tiếp, từ đó thống kê
số liệu thực tế.
8.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập hoặc rút
ra từ những nguồn tài liệu các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu
Sinh viên nghiên cứu các tài liệu, công trình đã được thực hiện trước
đây về vấn đề có liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu các nghị định, văn bản pháp luật và quy định hiện hành về
hỗ trợ vốn cho hộ gia đình nghèo làm cơ sở vững chắc xuyên suốt quá trình
nghiên cứu, kết hợp với tìm hiểu các tài liệu có nội dung tương tự tại địa
phương, dựa vào đó để tìm ra hướng giải quyết chính xác, khoa học, phù hợp
với địa bàn.
Tiến hành thu thập các văn bản tài liệu cần thiết từ các ban ngành và
các nguồn tin cậy phù hợp với nội dung nghiên cứu.
Ngoài ra, sinh viên tiến hành xem xét các thông tin có sẵn trong tài liệu
để có cái nhìn tổng quan về vấn đề, phục vụ cho mục đích tổng hợp thông tin
và đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài một cách tốt nhất.
8.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Trên cơ sở kết quả của việc điều tra bằng bảng hỏi, người nghiên cứu
thực hiện các kỹ năng như làm sạch phiếu hỏi, tổng hợp, mã hóa và xử lý số
liệu.
9. Mẫu nghiên cứu
Cơ cấu mẫu bao gồm :
+15 phiếu phỏng vấn sâu, trong đó:
- 5 phiếu phỏng vấn sâu với đối tượng là chính quyền địa phương, bao

là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính
phủ.Nó bao gồm các mục tiêu kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường mà chính
phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó”
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1988 “Chính sách là những sách lược và
kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị
và tình hình thực tế mà đề ra” hay “Chính sách là các chủ trương và các biện
pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội”
Theo Franc Ellis cho rằng “trên tầm vĩ mô, chính sách được xem như
đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với quản lý nhà nước về một
lĩnh vực nào đó, có thể là kinh tế, xã hội và môi trường” (Nguồn: Franc Ellish
“Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”, NXB Nông nghiệp
1995, trang 23)
Samuelson cho rằng: “Ngay cả khi Chính phủ không đưa ra một chính
sách trong bối cảnh bất đắc dĩ nào đó để thực hiện mục đích nào đó, thì đó cũng
là một kiểu chính sách” (Nguồn: Paul Samuelson, “Kinh tế học”, Viện kinh tế
học, Bộ Ngoại giao, tập I trang 117)
Theo Jones (1984) thì chính sách luôn gồm các yếu tố bao gồm:
Dự định: Là mong muốn của người làm (hoạch định) chính sách
Mục tiêu: Cụ thể hóa dự định thành tích cần đạt tới
Đề xuất giải pháp: Cách thức tác động để nhằm đạt được mục tiêu
Quyết định lực chọn giải pháp để triển khai thực hiện

18


Theo Ngô Đức Cát và Vũ Đình Thắng cho rằng, chưa có định nghĩa
thống nhất về “chính sách” và đưa ra cách hiểu về “chính sách” là “phương pháp
can thiệp” của Nhà nước nhằm mục tiêu nào đó và trong thời hạn nhất định
Từ những định nghĩa trên, Giáo trình Xây dựng và phân tích chính sách
nông nghiệp, nông thôn của TS.Chu Tiến Quang đã định nghĩa lại một cách

nó.Chính sách sẽ là vô nghĩa hay không khả thi khi nó không xác định được 3
nhóm nhân tố nói trên hay nói cách khác là chính sách bắt nguồn từ ý chí của
chủ thể, không định được khách thể (đối tượng hưởng lợi) và không đưa ra
được mục tiêu cần đạt tới.


Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà
nước thành một hệ thống, quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để
giải quyết những vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên
quan đến công bằng xã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định,
phát triển và tiến bộ xã hội
(Nguồn: PGS.PTS Trần Đình Hoan, Chính sách xã hội và đổi mới cơ chế
quản lý trong việc, NXB Chính trị quốc gia, 1996)
1.1.2 Khái niệm nguồn vốn
Nguồn vốn dưới nhiều góc độ khác nhau sẽ được định nghĩa và được
hiểu theo các hướng khác nhau
Vốn là tiền bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh sinh lời là
tổng thể nói chung những gì sẵn có hay tích lũy được trong một lĩnh vực hoạt
động nào đó (Hoàng Phê, trang 918, từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Đà
Nẵng, 2009)
Vốn trong kinh tế là khái niện để chỉ những vật thể có giá trị có khả
năng đo lường được sự giàu có của những người sở hữu chúng (David
Ricardo, từ điển kinh tế học cổ điển, 2013)
Như vậy, cốn là tài sản được sử dụng nhằm mục đích kinh doanh đầu
tư, với mục đích thu lại lợi nhuận lớn hơn từ số tài sản bỏ ra ban đầu. Nói
cách khác, vốn (nguồn vốn) là tài sản gốc được đưa ra đầu tư nhằm thu lại lợi
nhuận.
20





niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã
được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập
quán của địa phương.
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức
trung bình của cộng đồng.
Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng
cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ
yếu là trong lĩnh vực kinh tế.
Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực,
một vùng.
Các quốc gia đã thống nhất cao cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một
bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con
người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội
phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa
nhận”
Năm 1998 UNĐP công bố một bản báo cáo nhan đề “khắc phục sự
nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau:
+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con
người như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng dồng và
được nuôi dưỡng tạm đủ.
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng
chi tiêu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả
năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu.

tin, không có thời gian và điều kiện để vui chơi giải trí vì chủ yếu là dành thời
gian để đi làm thêm kiếm tiền, ít hoặc không được hưởng quyền lợi, thiếu
tham gia vào phong trào địa phương”.
1.1.5 Khái niệm hộ gia đình nghèo
23


Theo định nghĩa của World Bank, nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở
nhiều phương diện: Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo ra thu nhập, thiếu
tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương
trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và khó khăn
tới những người có khả năng giải quyết.
Thứ nhất, hộ nghèo “chủ yếu là các hộ nông dân”, chiếm trên 80% số
nguời nghèo.Hộ nông dân nghèo với trình độ học vấn thấp, trình độ tay nghề
thấp và khả năng tiếp cận đến các thông tin và kỹ năng chuyên môn, nguồn
vốn bị hạn chế, có ít đất canh tác hoặc không có đất nhưng có rất ít cơ hội có
thể tạo ra thu nhập ổn định từ các hoạt động phi nông nghiệp.Những người
sống dưới ngưỡng nghèo thường là thành viên của những hộ có chủ hộ là
nông dân tự do.
Thứ hai, hộ nghèo “là những hộ không có thu nhập ổn định từ công ăn
việc làm, từ các khoản chuyển nhượng của phúc lợi xã hội”.Tại nhiều quốc
gia, nhiều vùng “chi tiêu có một công việc tốt” hay có “lương hưu” là những
tiêu chuẩn để xếp các hộ vào các nhóm sung túc hơn mặc dù thu nhập từ
những nguồn này thường không cao, song ý nghĩa chủ yếu của chúng là sự ổn
định và đảm bảo.
Thứ ba, Hộ nghèo “là những hộ có trình độ thấp”. Do vậy, bản thân các
hộ nghèo đều hiểu được rằng trình độ học vấn là chìa khóa quan trọng để
thoát nghèo. Ở thành thị, các thành viên trong hộ cần phải có trình độ cao
hơn mức phổ thông cơ sở thì mới có cơ hội kiếm được một công việc ổn
định.Ở nông thôn, các hộ thường gắn tầm quan trọng của học hành với khả

thể khiến họ trượt xuống ngưỡng nghèo.Tính mùa vụ trong nông nghiệp cũng
tạo nên khó khăn cho người nghèo.
Tại Việt Nam, theo dự thảo Quyết định về việc ban hành tiêu chí và
mức chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016 – 2020, hộ gia đình nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách
trở xuống (Từ 1 triệu đồng/người/tháng trở xuống tại thành thị và 800.000
đồng/người/ tháng trở xuống tại nông thôn)
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status