Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại xã hát môn – huyện phúc thọ thành phố hà nội - Pdf 34

MỤC LỤC

1


DANH MỤC BẢNG

2


LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung quan trọng trong công tác

quản lý nhà nước về đất đai. Quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài, việc thực hiện đúng phương án quy hoạch
đóng vai trò quyết định tính khả thi và hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất.
Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phải phù hợp với yêu cầu thực tế phát
triển kinh tế xã hội của từng địa phương. Việc sử dụng đất phải triệt để tiết kiệm, tránh
lãng phí quỹ đất, phân bổ hợp lý quỹ đất cho nhu cầu sử dụng khác nhau của nền kinh
tế
Hát Môn là một xã thuộc huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Xã có diện tích 4,33 km², dân số năm 2014 là 8440 người, mật độ dân số đạt
1.949 người/km².
-

Phía Đông giáp xã Trung Châu, xã Thọ An thuộc huyện Đan Phượng
Phía Tây giáp xã Thượng Cốc
Phía Nam giáp xã Thanh Đa, xã Ngọc Tảo

VÀ PHÝÕNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch
sử dụng đất xã Hát Môn – huyện Phúc Thọ - thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 2015
- Phạm vi nghiên cứu trên địa giới hành chính xã Hát Môn – huyện Phúc
Thọ
- Toàn bộ quỹ đất sử dụng trên địa bàn xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành
phố Hà Nội.
1.2. Nội dung nghiên cứu
1.2.1. Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
-

Đánh giá về điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thuỷ

-

văn.
Đánh giá đúng thực trạng tình hình quản lý và sử dụng đất ở địa phương.
Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: Cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động, trình
độ dân trí, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, dịch vụ và cơ sở hạ tầng (giao thông,

-

thuỷ lợi, công trình phúc lợi...)
Đánh giá những cơ hội và thách thức đối với phát triển nông nghiệp bền vững.
1.2.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất năm 2015, biến động đất đai giai đoạn
2010 – 2015, tiềm năng đất đai

-


cầu của con người. Đối chiếu với kết quả nghiên cứu của công tác điều tra nội
nghiêp, đồng thời xử lý những sai lệch nhằm nâng cao độ chính xác của các số
liệu thu được.
1.3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình xây dựng bản đồ từ các
tư liệu, số liệu đã thu thập được, bằng phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu,
chọn lọc và loại bỏ các yếu tố không cần thiết để xử lý thành các số liệu hợp lý,
có cơ sở khoa học chung với thực tiễn khách quan.

6


CHƯƠNG II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hát Môn nằm về phía Đông của huyện Phúc Thọ, cách thị trấn Phúc
Thọ 12 km. Diện tích tự nhiên của xã là 433.59 ha, chiếm 3,7% diện tích tự
nhiên của huyện Phúc Thọ. Ranh giới của xã giáp các đơn vị hành chính sau:
-

Phía Đông giáp xã Trung Châu, xã Thọ An thuộc huyện Đan Phượng
Phía Tây giáp xã Thượng Cốc
Phía Nam giáp xã Thanh Đa, xã Ngọc Tảo
Phía Bắc giáp xã Vân Nam
Xã Hát Môn có địa lý không thuận lợi do nằm xa trung tâm huyện Phúc
Thọ, cách quốc lộ 32 khoảng 6 km và cách tỉnh lộ 417 hơn 1 km. Do vậy xã có
nhiều hạn chế trong việc lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế xã hội.
2.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Hát Môn nằm trong vùng trọng điểm của phân lũ nên địa hình tương đối

Hướng gió
Hát Môn chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông
Bắc và gió Đông Nam.
Nhìn chung khí hậu của xã Hát Môn là tương đối thuận lợi cho việc phát
triển nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng.
2.1.1.4. Thủy văn
Đầu nguồn của dòng sông Đáy xuất phát từ xã Hát Môn, do đó có chế độ
thuỷ văn rất khác biệt. Mùa mưa sông Đáy có dòng chảy lớn, mùa cạn trở thành
dòng sông khô. Trong xã có 2 tuyến mương tiêu B1 và B2 của huyện chảy qua.
Nguồn nước ngầm đang được người dân khai thác sử dụng, chất lượng
đảm bảo cho sinh hoạt. Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có hệ thống ao, hồ dùng
vào nuôi cá cũng góp phần rất lớn vào việc ổn định chế độ thuỷ văn của xã.
2.1.1.5. Các nguồn tài nguyên



Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/10.000 của huyện, xã
Hát Môn huyện Phúc Thọ có các loại đất chính sau:
Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua (Pe)
Đất nằm trong đê nên hàng năm không bị ảnh hưởng bởi ngập lụt của
sông. Đây là loại đất phù sa màu mỡ, dung tích hấp thu và mức độ bão hòa bazơ
cát pha đến thịt trung bình, phản ứng đất từ trung tính đến kiềm (p

:

7,73 - 8,09). Hàm lượng chất hữu cơ rất nghèo.
Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua là loại đất tốt, màu mỡ nên
được sử dụng rất đa dạng: lúa 2 vụ, lúa màu 2 - 4 vụ, hoa màu và cây công
nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, rau đậu các loại... Đây là loại đất cho năng suất

Nguồn nước ngầm: đã được nhân dân trong xã sử dụng tương đối tốt, chất lượng
khá đảm bảo đặc biệt là nước sạch, nước ngọt và mát, tuy nhiên trong tương lai



phải chú ý bảo vệ nguồn nước chống sự ô nhiễm.
Tài nguyên nhân văn
Xã Hát Môn có đền thờ Hai Bà Trưng được xếp hạng cấp Nhà nước vào
năm 1964. Lễ hội mang tính chất cấp vùng do UBND xã và các tổ chức ở địa
phương mở hội vào ngày 6 tháng 3 âm lịch hàng năm. Lễ hội mở lớn thường vào
những năm chẵn và những năm có ngày kỉ niệm lớn.
Năm 2013, đền Hai Bà Trưng được công nhận là di tích quốc gia Đặc biệt
và được đổi tên thành đền Hát Môn. Đây là tài nguyên nhân văn vô giá cần được
tu bổ, mở rộng và bảo tồn di tích lịch sử văn hóa. Ngoài ra, xã còn có chùa Bảo
Lâm Tự, nhà thờ Thiên Chúa giáo.
Với lịch sử văn hiến, người dân trong xã cần cù, sáng tạo trong lao động
sản xuất; anh dũng kiên cường trong đấu tranh và trong công cuộc đổi mới. Vì
9


vậy, nhân dân xã Hát Môn huyện Phúc Thọ đã được Đảng, Nhà nước, cấp trên
ghi nhận và đã được tặng thưởng nhiều bằng khen…
2.1.1.6. Thực trạng môi trường
Các công trình vệ sinh hộ gia đình đảm bảo vệ sinh môi trường, địa
phương đã có điểm thu gom rác thải, các cụm dân cư đều có tổ thu gom rác về
đúng nơi quy định; nghĩa trang nhân dân được quy hoạch, đầu tư xây dựng đảm
bảo đúng quy định, các chất thải, nước thải được thu gom, xử lý đảm bảo tốt vệ
sinh môi trường xanh, sạch, đẹp. Trong năm 2010, xã đã hợp đồng với công ty
môi trường đô thị Sơn Tây vận chuyển xử lý rác.
Để phát triển bền vững và đảm bảo sức khỏe cho người dân, trong thời

100% kế hoạch, vụ xuân 254 ha đạt 100% kế hoạch. Diện tích cây trồng: Lúa
324 ha, ngô 130 ha, đậu tương 145 ha, rau màu và cây ăn quả 107 ha.
Năng suất cây lúa 63,5 tạ/ha, so với cùng kỳ tăng 2,4%, cây đậu tương 20
tạ/ ha, so với cùng kỳ tăng 11%, cây ngô 55 tạ/ha, cây rau màu năng suất về giá
trị đạt 40 triệu đồng/ha.
Bên cạnh đó quan tâm công tác phục vụ dịch vụ trong nông nghiệp, đầu tư,
cung cấp giống mới có năng suất, chất lượng cao và có nhiều mô hình sản xuất
như: Thâm canh bưởi diễn, sản xuất 100 ha lúa, hàng hoá chất lượng cao, đầu tư
giống đậu tương phục vụ sản xuất, quy hoạch những vùng trũng sang mô hình
trang trại và quy hoạch 50 ha rau an toàn từng bước có sự chuyển dịch cơ cấu cây
trồng.
Đặc biệt năm 2013 - 2014 nhân dân đã thực hiện tốt công tác dồn điền đổi
thửa nên thuận lợi trong sản xuất cây trồng. Cơ giới hoá trong nông nghiệp đã
được thực hiện từng bước có hiệu quả, cụ thể từ năm 2013 đã triển khai mô hình
mạ khay máy cấy, máy gặt đập liên hoàn phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Tổng thu trồng trọt đạt 31,7 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 2,9%; trong đó
thu về lương thực đạt 3078 tấn quy về giá trị đạt 18,9 tỷ đồng, thu về giá trị rau
màu, cây ăn quả và dịch vụ nông nghiệp 12,8 tỷ đồng.
Chăn nuôi:
Tại thời điểm 30/11/2014, đàn lợn có 2981 con (trong đó đàn lợn nái là
385 con), đàn bò 84 con, đàn gia cầm 43750 con, đàn chó trên 2000 con, diện
tích nuôi thả cá 12,8 ha. So với cùng kỳ đàn lợn giảm 1,2%, đàn bò tăng 9%,
đàn gia cầm tăng 17%.
Tổ chức tiêm phòng trên đàn gia súc, gia cầm được 18,423 lượt con, trong
đó 5505 lượt con lợn, 300 lượt con bò, 12000 con gia cầm và 618 con chó. Đồng
11


thời thực hiện 6 đợt tiêu độc khử trùng vệ sinh môi trường ở nơi công cộng, thực
hiện công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, trên địa bàn không có dịch bệnh lớn


Kinh doanh dịch vụ - thương mại :
Hoạt động kinh doanh buôn bán, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận tải… phát
triển mạnh từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Tổng thu trong kinh doanh
dịch vụ ước đạt 94,4 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 3,2%.
Quỹ tín dụng nhân dân duy trì hoạt động kinh doanh với tổng nguồn vốn
75,3 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 14,1%; số vốn huy động tiền gửi 69,5 tỷ
đồng, so với cùng kỳ tăng 19,9%. Số dư nợ cho vay 51,7 tỷ đồng, trong đó vay
sản xuất chăn nuôi 20,9 tỷ đồng, kinh doanh dịch vụ 30,8 tỷ đồng.
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, các loại hình dịch vụ
trên địa bàn xã đã có những bước phát triển mới. Các ngành nghề kinh doanh
chủ yếu ở đây là: Kinh doanh dịch vụ tại chỗ, buôn bán tạp hóa, đồ gỗ, bảo quản
nông sản…
2.1.2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập năm 2014


Dân số năm 2014
Tổng dân số xã Hát Môn huyện Phúc Thọ năm 2014 có 8440 khẩu, với
2102 hộ gia đình, cư trú tại các thôn.
Dân số, số hộ phân theo các cụm như sau:
Bảng 01. Tổng hợp dân số năm 2014
STT

Cụm

1
2
3
4
5

240
942
250
974
242
971
240
942
209
819
230
1005
2102
8440
(Nguồn: Số liệu Thống kê xã Hát Môn huyện Phúc Thọ năm 2014)

Năm 2014, xã đã tổ chức 1 buổi truyền thông về mất cân bằng giới tính và
01 buổi tuyên truyền sức khỏe tiền hôn nhân cho hơn 100 đối tượng. Mở 3 chiến
dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình, tổng số người thực
13


hiện các biện pháp tránh thai là 348 người, đạt 102% kế hoạch. Tỷ lệ phát triển
dân số tự nhiên là 0,6%. Số trẻ sơ sinh 140, giảm 5 trẻ so với cùng kỳ, số sinh
con thứ 3 trở lên là 12 người, so với cùng kỳ giảm 12 người.


Lao động, việc làm năm 2014
Xã Hát Môn huyện Phúc Thọ có 4851 người trong độ tuổi lao động,
chiếm 57,48% so với tổng số dân. Số lao động có việc làm thường xuyên là

hoàn thiện, đặc biệt là mạng lưới giao thông cơ bản đã được bê tông hóa.
Nhà ở mặt đường giao thông, hoặc mới cấp chia lô có xu hướng xây dựng
theo kiểu đô thị, nhà hiện đại, nhiều nhà đã được xây dựng với diện tích sử dụng
lớn, cao tầng, mức độ hoàn thiện cao nhưng vẫn còn tình trạng tùy tiện, lộn xộn
hình dáng kiến trúc tự phát, không ăn nhập. Một số nhà ở mới xây dựng ở mặt
đường, tự xây theo kiểu chia lô vừa ở vừa kinh doanh nhỏ, dịch vụ, nhà 2 - 3
tầng khép kín hiện đại. Trong các khu dân cư cũ ở các thôn xóm, phần lớn nhà ở
được xây dựng theo kiểu nhà vườn có diện tích khuôn viên lớn. Hệ thống rãnh
tiêu thoát nước thải trong khu dân cư đã được cải tạo đảm bảo hợp vệ sinh. Các
hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã đều có cam kết bảo vệ môi trường, không
có hoạt động suy giảm môi trường.
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2014, toàn xã hiện có 116,23 ha đất ở
nông thôn, chia thành 10 cụm, chiếm 26,81% diện tích tự nhiên toàn xã. Trong
tương lai, việc phát triển thêm đất ở mới để đápứng nhu cầu thực tế là tất yếu
khách quan không thể tránh khỏi, cũng như việc đầu tư nâng cấp xây dựng mới
các công trình hạ tầng kỹ thuật khu dân cư nông thôn là hết sức cần thiết.
2.1.2.5. Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội


Hệ thống giao thông
Toàn xã có 27,9 km đường giao thông nông thôn, trong đó:

-

Đường trục xã, liên xã: gồm 4 tuyến với tổng chiều dài 6,36 km, đã bê tông hóa

-

được 6,36 km (chiếm 100%).
Đường trục thôn, liên thôn: gồm 14 tuyến với tổng chiều dài 9,24 km, đã bê tông

của nhân dân.
Kênh mương:
Toàn xã có 16,4 km kênh mương do xã quản lý, đã kiên cố hoá 14,2 km



kênh mương (đạt 86%).
Hệ thống điện
Xã Hát Môn có 100% số hộ được sử dụng từ nguồn điện lưới quốc gia,
cấp 24/24 giờ mỗi ngày, giá bán điện được tính theo TT05/2011/TT-BCT ngày
25/02/2011. Hệ thống lưới điện ở xã Hát Môn hiện tại do Công ty điện lực Phúc
Thọ quản lý.
Lưới điện 0,4 KV với chiều dài 15,75 km, lưới điện 22KV với chiều dài
4,433 KV; lưới điện 35 KV với chiều dài 1.225 km.
Toàn xã có 6 trạm biến áp với tổng công suất 1.630 KVA. Thực hiện
chương trình xây dựng NTM xã đã cải tạo, nâng cấp 2 trạm biến áp (Trạm biến áp
cụm 3 và trạm biến áp Hát Môn 3); đồng thời xây mới 3 trạm biến áp (Trạm biến
áp cụm 5 với công suất 250 KV/h phục vụ khu sản xuất rau an toàn, trạm biến áp
cụm 2, trạm biến áp cụm 7), nâng tổng số lên 9 trạm biến áp đảm bảo đáp ứng nhu
cầu sử dụng điện của nhân dân.
Năm 2014, toàn bộ hệ thống đường dây điện cũ của xã đã được thay thế
bằng hệ thống đường dây mới theo tiêu chuẩn của ngành điện. Xã đã có hệ thống
chiếu sáng công cộng hoàn chỉnh ở tất cả các trục đường làng, ngõ xóm.
Hiện nay hệ thống điện của địa phương đảm bảo sử dụng ổn định, an toàn
với 100% số hộ dùng điện.
16



-

dựng 330 m², nhà mái che ngoài trời. Các hạng mục công trình khác có 6 phòng,
diện tích 200 m².
Hiện tại trường còn thiếu một số hạng mục như: các phòng học, 5 phòng
chức năng, khu hiệu bộ, phòng ăn giáo viên, nhà bếp, kho ẩm thực. Trang thiết
bị của trường chưa đáp ứng được yêu cầu do đã bị hỏng và thiếu nên cần được
tiếp tục đầu tư và mua sắm.

17


Nhìn chung hệ thống trường, lớp tại Hát Môn đã được kiên cố hóa và còn
sử dụng tốt. Tuy nhiên còn thiếu một số phòng chức năng và thiếu cơ sở vật chất
đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chí nông thôn mới.


Cơ sở y tế
Xã có 1 trạm y tế, diện tích khuôn viên là 1.247 m², với 8 giường bệnh, đã
đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Công tác y tế xã Hát Môn đã được quan tâm.
Toàn xã có 8440 người, trong đó 6059 người (đạt 71,79%) tham gia bảo
hiểm y tế dưới nhiều hình thức như: 100% trẻ dưới 6 tuổi được cấp bảo hiểm
khám chữa bệnh miễn phí, 61,7% học sinh đang học tại các trường tiểu học,
trung học cơ sở, trung học phổ thông, đội ngũ sinh viên của các trường đại học,
cán bộ nghỉ hưu mất sức, cán bộ công chức Nhà nước, người già, gia đình chính
sách, nông dân và các đối tượng khác đều tham gia đóng bảo hiểm y tế và các
ban ngành, đoàn thể vận động nhân dân, hội viên tham gia bảo hiểm y tế tự
nguyện.
Năm 2013 trạm y tế xã được cấp trên công nhận xã đạt chuẩn về y tế theo
chuẩn mới. Mạng lưới y tế dự phòng, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được
chú trọng phát triển. Nhiều chương trình được triển khai tốt như tiêm chủng mở
rộng, chương trình phòng chống sốt rét, phòng chống suy dinh dưỡng, phòng

-

Cơ sở văn hóa
Xã có 1 điểm bưu điện văn hóa, đã được kết nối Internet đến trung tâm xã,
diện tích 100 m², ở gần chợ. Tỷ lệ hộ có sử dụng điện thoại (cố định và di động)
đạt 100%. Tỷ lệ số thôn có hệ thống đài truyền thanh đạt 100%. Tỷ lệ số hộ có
máy thu hình là 98%.
Phong trào văn nghệ được khơi dậy trong các tổ chức chính trị - xã hội,
trường học. Hàng năm xã đều đạt 85% hộ gia đình văn hóa. Các hoạt động văn
hóa, văn nghệ, thể dục thể thao đều được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Xã
đã thành lập được 13 câu lạc bộ hoạt động sôi nổi. Năm 2014 xã đạt chuẩn văn
hoá nông thôn mới; Trường Mầm non và trạm y tế đạt danh hiệu văn hoá. 7/10
cụm dân cư (đạt 70%) số cụm dân cư đạt danh hiệu cụm dân cư văn hóa theo tiêu
chí làng văn hoá.



Chợ nông thôn
Xã có 01 chợ (chợ Hát Môn), diện tích mặt bằng là 5.900 m², chợ có 6
dãy bán hàng được xây dựng kiên cố theo kiểu ki ốt làm bằng cột bêtông, khung
mái thép lợp tôn, nền đổ bêtông, ngoài ra còn có các khu mua bán ngoài trời
dành cho các hộ buôn bán nhỏ, một nhà quản lý chợ và 4 địa điểm gửi xe. Hiện
có 257 hộ kinh doanh tại chợ, bán hàng đảm bảo chất lượng, không bán hàng
giả, hàng cấm.
Trong thời gian tới cần bố trí thêm quỹ đất và xây dựng chợ mới với đầy
đủ các hạng mục cơ sở vật chất cần thiết như: các kiốt bán hàng, công trình vệ

19



trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ. Các mặt giáo dục, y tế văn hóa xã hội
được quan tâm hơn. Đời sống dân cư được cải thiện rõ nét theo xu thế chung của

-

huyện.
Xã đã làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện văn minh
trong việc tang lễ, đã dần dần chuyển đổi hình thức mai táng từ hung táng sang
hoả táng, trong năm 2013 - 2014 đã có 7 trường hợp người chết được đưa đi hoả

-

táng.
Nông nghiệp, nông thôn Hát Môn trong những năm gần đây đã có những bước
tiến đáng kể. Hạ tầng kinh tế xã hội của xã đã và đang được đầu tư trong những
năm gần đây đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của

-

địa phương.
Đặc biệt, xã có đền Hát Môn đã được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt,
hàng năm thu hút hàng nghìn khách du lịch, tạo điều kiện phát triển kinh tế địa
phương.
20


-

An ninh chính trị luôn được giữ vững ổn định, không có đơn thư khiếu kiện vượt
cấp, đông người, trật tự an toàn xã hội luôn được đảm bảo. Ý thức trách nhiệm

Các bước tiến hành công tác xây dựng Nông thôn mới ban đầu còn lúng túng,
việc triển khai thực hiện đề án vừa phải lập quy hoạch và khảo sát đánh giá thực
trạng để xây dựng đề án mất nhiều thời gian kéo dài nên khi thực hiện xây dựng
Nông thôn mới cũng còn chậm.


-

Đánh giá về phát triển kinh tế gây áp lực trong lĩnh vực đất đai
Kinh tế của xã trong thời gian tới sẽ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng trong lĩnh vực tiểu thủ công
nghiệp, xây dựng cũng như thương mại - dịch vụ. Sự chuyển dịch cơ cấu như
vậy đòi hỏi phải bố trí quỹ đất cho các lĩnh vực này, chuyển mục đích sử dụng

-

một phần lớn quỹ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.
Sự phát triển kinh tế theo mô hình nông thôn mới sẽ hình thành các trung tâm
phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, là tiền đề cho việc hình thành các điểm dân
cư tương đối tập trung. Hơn nữa, hàng năm dân số của xã sẽ tăng thêm cần tính
toán dành quỹ đất ở cho các nhu cầu này.
21


-

Để thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn,
định hướng xây dựng nông thôn mới thì hệ thống cơ sở hạ tầng phải được nâng
cấp mở rộng và xây dựng mới; quỹ đất dành cho phát triển hạ tầng trong kỳ quy




2.2.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính.
Xã đã xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 phục vụ cho
công tác kiểm kê đất đai, và công tác quản lý đất đai trên xã. Hoàn thành việc
xác định địa giới hành chính theo Chỉ thị 364/CP của Chính phủ. Hồ sơ địa
chính của xã được lưu trữ ở các cấp.
2.2.3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất
và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra
xây dựng giá đất
-

Được sự đầu tư của Nhà nước địa phương đã xây dựng được bản đồ địa chính,
làm cơ sở để quản lý đất đai đến từng thửa đất.

-

Trên địa bàn xã Hát Môn đã được đo đạc bản đồ địa chính 1/2.000 hệ tọa độ HN
- 72 phủ trùm toàn xã cho khu vực đất nông nghiệp và phi nông nghiệp năm
1996.

-

Năm 2010 đã xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 phục vụ cho
công tác kiểm kê đất đai và công tác quản lý đất đai trên địa bàn xã.
Nhìn chung, công tác khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên
đất; điều tra xây dựng giá đất được triển khai khá tốt, cơ bản đáp ứng được mục
tiêu của nghành.


2.2.6. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
Địa phương đã có những chính sách phù hợp để giải quyết vấn đề nhà ở
cho người bị thu hồi đất. Đã thực hiện việc chi trả tiền giải phóng mặt bằng cho
các hộ có đất thu hồi.
Phối hợp với ban giải phóng mặt bằng trong việc kiểm đếm, chi trả tiền hỗ
trợ cây cối hoa màu tuyền đường dẫn về Đền Hát Môn.
Phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất thực hiện công tác kiểm đếm,
chi trả tiền giải phóng mặt bằng và tổ chức đấu giá khu đất xen kẹt sau trường
THCS Hát Môn. Thực hiện giải phóng mặt bằng trạm biến áp và dự án rau an
toàn.
2.2.7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Công tác đăng ký đất đai, cấp GCN QSDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính
được tổ chức thường xuyên, gắn với công tác giao đất, cho thuê đất.
Trên xã Hát Môn hiện nay cơ bản đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo thông tư 23/2014/TT-BTN&MT cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng
đất ở, đất vườn, đất nông nghiệp.
Tổng số thửa đất ở cần phải cấp GCN QSDĐ trên địa bàn xã: 1518 thửa.
Số thửa đã kê khai đăng kí cấp GCN: 1518 thửa.
-

Số thửa đã được cấp GCN: 1380 thửa tương đương với 1760 GCN QSDĐ

-

Số thửa chưa được cấp: 138 thửa

-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status