đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phường đồng quang tp thái nguyên giai đoạn 2006-2010 - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN THỊ MAI ANH Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHƢỜNG ĐỒNG QUANG
TP. THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60.62.16
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CN - TTCN
:
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
CNHN
:
Công nghiệp hàng năm
CN-XD
:
Công nghiệp-xây dựng
FAO
:
Tổ chức Nông nghiệp thế giới
GDP
:
Tổng sản phẩm quốc nội
TW
:
Trung ương
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
QHSDĐ
:
Quy hoạch sử dụng đất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC HÌNH Hình 4.1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất P. Đồng Quang năm 2005 57
Hình 4.2. Bản đồ quy hoạch P. Đồng Quang đến năm 2010 58
Hình 4.3. Cơ cấu sử dụng đất năm 2010 59
Hình 4.4. Cơ cấu sử dụng đất năm 2005 59 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 0
1.1. Sự cần thiết đánh giá quy hoạch sử dụng đất phường Đồng Quang TP
Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010 1
1.2. Mục tiêu, yêu cầu đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phường
Đồng Quang - TP Thái Nguyên - Thái Nguyên, giai đoạn 2006 - 2010 . 2
1.2.1. Mục tiêu 2
1.2.2. Ý nghĩa 3
1.2.3. Yêu cầu 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN 4
2.1. Khái niệm quy hoạch sử dụng đất 4
2.1.1. Đất đai và chức năng của đất đai 4
2.1.2. Bản chất quy hoạch sử dụng đất đai 5
2.1.3. Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất 7
2.1.4. Đặc diểm của quy hoạch sử dụng dất 8
2.1.5. Nhiệm vụ và nội dung của QHSDĐ 11

4.3. Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Phường
Đồng Quang gia đoạn 2006-2010 50
4.3.1. Nhóm đất nông nghiệp 50
4.3.2. Nhóm đất phi nông nghiệp 52
4.3.3. Nhóm đất chưa sử dụng 56
4.4. Đánh giá công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất Phường Đồng Quang
giai đoạn 2006 – 2010 62
4.4.1.Kết quả kế hoạch sử dụng đất P. Đồng Quang từ năm 2006 - 2007 62
4.4.2. Đánh giá kết quả kế hoạch sử dụng đất P. Đồng Quang 2007 – 2009 65
4.4.3. Đánh giá kết quả KHSDĐ P. Đồng Quang giai đoạn 2006 – 2010 71
4.5. Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất khu dân cư số 1,3,4,5
Phường Đồng Quang, TP Thái Nguyên. 74
4.6. Đánh giá nhu cầu sử dụng đất của người dân sau kì quy hoạch giai đoạn
2006 – 2010 tại Phường Đồng Quang – TP Thái Nguyên 75
4.7. Giải pháp nâng cao hiệu quả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 77
4.7.1. Nguyên nhân những tồn tại chủ yếu trong sử dụng đất 77
4.7.2. Các giải pháp thực hiện quy hoạch. 78
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
5.1. Kết luận 82
5.2. Đề nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất; Thực hiện Nghị quyết HĐND thành phố Thái Nguyên số: 29/2006/NQ-
HĐND ngày 28 tháng 12 năm 2006 và ý kiến thẩm định của Sở Tài Nguyên
và Môi Trường tỉnh Thái Nguyên tại văn bản số 1225/STNMT-QHKH ngày
18 tháng 07 năm 2007. UBND thành phố Thái Nguyên đã thông qua nghị
quyết số 36/HĐND-VP (ngày 16 tháng 10 năm 2007) (phê duyệt quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất chi tiết 18 phường thuộc thành phố Thái Nguyên giai
đoạn 2006 - 2010 và định hướng sử dụng đất đến năm 2020 trong đó có
phường Đồng Quang) [10]. Đến nay, qua 5 năm thực hiện phương án quy
hoạch, kết quả cho thấy trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch, kế
hoạch vẫn bộc lộ một số tồn tại nhất định đặc biệt trong công tác kiểm tra,
giám sát việc thực hiện khiến không điều chỉnh kịp những biến động về sử
dụng đất. Chính vì vậy, việc tiến hành đánh giá các chỉ tiêu, giúp địa phương
nhìn nhận, phân tích, đánh giá các kết quả đạt được và những tồn tại, bất cập,
chưa phù hợp trong quá trình quản lý, thực hiện phương án quy hoạch sử
dụng đất và đề xuất những giải pháp khắc phục là điều cần thiết. Trên cơ sở
thực tiễn đó của địa phương, tôi thực hiện đề tại nghiên cứu: “Đánh giá kết
quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phường Đồng Quang-TP Thái
Nguyên giai đoạn 2006-2010”.
1.2. Mục tiêu, yêu cầu đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phƣờng
Đồng Quang - TP Thái Nguyên - Thái Nguyên, giai đoạn 2006 - 2010
1.2.1. Mục tiêu
- Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu trong phương án quy hoạch sử
dụng đất, kế hoạch sử dụng đất.
- Tìm ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác thực hiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất của phường Đồng Quang – TP. Thái Nguyên giai đoạn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3

2.1.1. Đất đai và chức năng của đất đai
Đất đai là một vùng lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất,
mảnh đất, miếng đất, ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự
nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính, thổ nhưỡng, điều kiện địa hình , địa chất,
thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa
tính, ) tạo ra điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác
nhau. Như vậy, để sử dụng đất cần phải quy hoạch – đây là quá trình nghiên
cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh
thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
môi trường sống của con người cũng như mọi sinh vật, là nguồn cung cấp vật
chất không thể thiếu duy trì sự tồn tại của con người. Vì vậy, ta có thể thấy
đất đai có các chức năng cụ thể:
- Chức năng sản xuất: Đất đai là nền tảng cho hệ thống hỗ trợ sự sống,
thông qua việc sản xuất sinh khối để cung cấp lương thực, thực phẩm chăn
nuôi, sợi, dầu, gỗ và các vật liệu sinh vật sống khác cho con người sử dụng,
một cách trực tiếp hay thông qua các vật nuôi như nuôi trồng thủy sản và
đánh bắt thủy sản vùng ven biển.
- Chức năng về môi trường sống: Đất đai là nền tảng của đa dạng hóa
sinh vật trong đất thông qua việc cung cấp môi trường sống cho sinh vật và
nơi dự trữ nguồn gen cho thực vật, động vật và vi sinh vật, ở trên và bên dưới
bề mặt đất,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
- Chức năng điều hòa khí hậu: Đất đai và sử dụng đất đai là nguồn và
nơi chứa khí ga từ nhà kính hay hình thành một sự công bằng năng lượng toàn
cầu giữa phản chiếu, hấp thu hay chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và
của chu kỳ thủy văn toàn cầu,

trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử
dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã
hội. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể
hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế. Trong đó:
- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai.
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều
tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu
- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng
đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật.
Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các
biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản
lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân
bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng
đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường".
Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích
nhất định.
Tính hợp lý: Đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với
yêu cầu và mục đích sử dụng.
Tính khoa học: Áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và các biện pháp
tiên tiến trong lập quy hoạch, kế họch sử dụng đất
Tính hiệu quả: Đáp ứng đồng bộ các lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường.
Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành
các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối
quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục

hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ
phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế
quốc dân. Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai được thể hiện cụ thể
như sau:
(1). Tính lịch sử - xã hội:
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch
sử dụng đất đai. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản
xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất
đai, cũng như quan hệ giữa người với người. Quy hoạch sử dụng đất đai thể
hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố
thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất. Vì vậy, nó luôn là một bộ phận của
phương thức sản xuất xã hội.
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất
đai mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt
pháp lý. Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử
dụng và quyền lợi của toàn xã hội; Góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản
xuất ở nông thôn; Nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã
hội. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp
phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế - xã hội - môi
trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi
ích khác nhau.
(2). Tính tổng hợp:
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu ở hai
mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, bảo vệ toàn bộ tài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; Quy hoạch sử

mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô,
tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành.
- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng
đất trong vùng;
- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;
- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng;
- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của
phương hướng sử dụng đất.
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược
hoá quy hoạch sẽ càng ổn định.
(5). Tính chính sách:
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính
sách xã hội. Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy
định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ
thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát
triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; đất đai và môi trường sinh thái.
(6). Tính khả biến:
Dưới tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương
diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp
biến đổi hiện trạng sử dụng đất đai sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc
phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển, khoa học
kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự
kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp. Việc chỉnh sửa, bổ
sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là điều cần
thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11

12
cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; Khai thác tiềm năng đất đai và sử
dụng đất đúng mục đích; Hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian
sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi
trường cao nhất.
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp. Ngoài lợi ích
chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích
cục bộ của mình. Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển
khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành
của Nhà nước.
Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp:
toàn quốc (bao gồm cả cấp vùng), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Tuỳ thuộc
vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và
ý nghĩa khác nhau. Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch
sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể
hóa quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô.
2.2. Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2.2.1. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất.
Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như
sau: Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng
nằm trong quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành
chính) cũng như nội dung và phương pháp quy hoạch. Thông thường hệ thống
quy hoạch sử dụng đất được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại
hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử
dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư
liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết kế chi tiết.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



14
Tuy nhiên, có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sử
dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành. Trước tiên, Nhà
nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống
thông tin tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể
sử dụng các loại đất. Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử
dụng đất đai để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù
hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành. Như vậy, quy hoạch tổng
thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất
theo ngành. Nói khác đi, quy hoạch ngành là một bộ phận cấu thành trong quy
hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ.
Trong nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất theo ngành bao gồm quy
hoạch sử dụng đất các vùng sản xuất chuyên môn hoá và quy hoạch sử dụng
đất các xí nghiệp. Quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên môn hoá - sản
xuất hàng hoá có thể nằm gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở
một đơn vị hành chính. Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản
phẩm chuyên môn hóa phải kết hợp phát triển tổng hợp để sử dụng đầy đủ và
hợp lý đất đai. Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp là hệ thống biện pháp về
tổ chức, kinh tế và kỹ thuật nhằm bố trí, sắp xếp, sử dụng các loại đất như tư
liệu sản xuất một cách hợp lý để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá, đem lại
nguồn thu nhập lớn. Nội dung quy hoạch đất đai của xí nghiệp rất đa dạng và
phong phú, bao gồm: Quy hoạch ranh giới địa lý; Quy hoạch khu trung tâm;
Quy hoạch đất trồng trọt; Quy hoạch thuỷ lợi; Quy hoạch giao thông; Quy
hoạch rừng phòng hộ Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp có thể tiến hành
trong các vùng sản xuất chuyên môn hóa hoặc có thể độc lập ở ngoài vùng.
2.2.2. Các loại hình kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất được phân kỳ thực hiện theo kế hoạch 5 năm.
Kế hoạch sử dụng đất cũng được lập theo cấp lãnh thổ hành chính nhưng phải
đáp ứng được các yêu cầu sau:

Quy hoạch các nước phát triển trên thế giới nói chung và các nước châu
Âu nói riêng đó đạt rất nhiều thành tựu thể hiện thông qua các kết quả mà họ
đạt được. Tầm nhìn quy hoạch của họ cao hơn, xa hơn rất nhiều so với chúng
ta. Các quy hoạch không bị chồng chéo, phát triển theo các mô hình hiện đại,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
hợp lý thuận lợi cho sự phát triển. Để đạt được những thành tựu đó đòi hỏi
phải thực hiện tốt tất cả các mặt, từ lập quy hoạch, thực hiện quy hoạch đến
quản lý quy hoạch.
Theo tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), quy hoạch sử dụng đất là
bước kế tiếp của phương pháp đánh giá đất. Kết quả của việc đánh giá đất sẽ
đưa ra một loại hình hợp lý nhất đối với đất đai trong vùng. Phương pháp quy
hoạch đất đai tuỳ thuộc vào đặc điểm đất đai của từng nước, tuy nhiên có hai
loại hình quy hoạch:
- Tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đảm bảo phát triển các
mục tiêu một cách hào hoà, sau đó mới đi sâu vào nghiên cứu quy hoạch
chuyên ngành. Tiêu biểu cho trường phái này là Anh, Úc, Đức.
- Tiến hành quy hoạch nông nghiệp là nền tảng sau đó làm quy hoạch cơ
bản, lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo yêu cầu của cơ
chế kế hoạch hoá tập trung. Trong đó đất đai và lao động trở thành yếu tố cơ
bản của vấn đề nghiên cứu. Tiêu biểu cho trường phái này là Liên Bang Nga
và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây.
Ngoài ra ở một số nước khác còn có các phương pháp quy hoạch mang
tính đặc thù riêng như Bungari và các nước Đông Âu. Ở những nước này quy
hoạch được phân chia thành các vùng đặc trưng gắn với bảo vệ môi trường.
- Ở Angiêri, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo nguyên tắc nhất
thể hoá và đa phái và được tiến hành với sự tham gia của các phương tiện có
liên quan, các tổ chức ở cấp chính phủ, Nhà nước, cộng đồng,…

chính. Những năm 40 trở lại đây, nền kinh tế Đài Loan có tăng trưởng với tốc
độ nhanh, giới công thương đã trở thành ngành nghề chủ lực của Đài Loan,
cũng là sức mạnh căn bản của đất nước. Hơn nữa, nông nghiệp cùng với sự
phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu.

Trích đoạn Nhóm đất nông nghiệp Nhóm đất phi nông nghiệp Các giải pháp thực hiện quy hoạch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status