BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẶNG THỊ THUỶ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HUYỆN CẨM KHÊ,
TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2001 – 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60.85.01.03 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS. Trần Viết Khanh
THÁI NGUYÊN - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Bộ môn
Quy hoạch đất đai nói riêng, Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa đào tạo Sau đại
học - Trường Đại học Thái Nguyên nói chung.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ,
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ và bạn bè đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin, tài liệu, nghiên cứu làm luận văn.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả luận văn
Đặng Thị Thuỷ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vniii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
3.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, môi trƣờng 45
3.2 Hiện trạng sử dụng các loại đất 47
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp: 47
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp: 49
3.2.3 Đất chƣa sử dụng 53
3.3 Tình hình quản lý đất đai 54
3.3.1 Công tác xác định địa giới, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính 54
3.3.2 Công tác khảo sát đo đạc, lập bản đồ địa chính 54
3.3.3 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 55
3.3.4 Công tác đánh giá phân hạng đất 55
3.3.5 Công tác giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất 56
3.3.6 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 57
3.3.7 Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và dồn đổi ruộng đất. 58
3.3.8 Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 58
3.3.9 Quản lý tài chính về đất đai 59
3.3.10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất 59
3.4 Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đã đƣợc duyệt 59
3.4.1 Đánh giá tình hình thực hiện phƣơng án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-
2010 đã đƣợc phê duyệt đến hết năm 2005 59
3.4.2 Đánh giá tình hình thực hiện Phƣơng án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2010 đã đƣợc phê duyệt 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnv
3.4.3 Đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 –
2010 huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 73
3.4.4 Một số đề xuất nhằm nâng cao khả năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất
huyện Cẩm Khê giai đoạn 2011 – 2020 huyện Cẩm Khê 76
KẾ T LUẬ N VÀ KIẾN NGHỊ 81
QH
Quy hoạch
QHSDĐ
Quy hoạch sử dụng đất
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TT
Thị trấn
TTCN
Trung tâm công nghiệp
UBND
Uỷ ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnvii
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
3.1 Một số chỉ tiêu về khí hậu của huyện Cẩm Khê từ 2005 - 2010
3.2 Các loại đất huyện Cẩm Khê 29
3.3 Số liệu tài nguyên khoáng sản huyện Cẩm Khê 31
3.4 GTSX và tăng trƣởng GTSX qua các giai đoạn huyện Cẩm Khê 34
3.5 Cơ cấu kinh tế huyện Cẩm Khê qua một số năm 34
3.6 Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp, thủy sản qua một số năm 35
3.7 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp huyện Cẩm Khê năm 2010 47
2010 53
3.4 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu QHSDĐ nông nghiệp đến hết năm
2005 60
3.5 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu QHSDĐ phi nông nghiệp đến hết năm 2005 62
3.6 Kết quả thực hiện QH đất chƣa sử dụng đến hết năm 2005 64
3.7 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu ĐCQHSDĐ nông nghiệp đến hết năm 2010 66
3.8 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu ĐCQHSDĐ phi nông nghiệp đến hết năm 2010 70
3.9 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu ĐCQHSDĐ đƣa đất chƣa sử dụng vào sử dụng
đến hết năm 2010 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, các cơ sở
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, là nguồn lực to lớn của đất nước. Cho nên
chúng ta cần phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, để đất đai ngày càng
được quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả; trong đó, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là
một nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II,
Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật
nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”. Luật Đất đai năm 2003, từ
Điều 21 đến Điều 30 quy định về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét
duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp.
được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt tại Quyết định số 3787/QĐ-UB ngày 19 tháng 12
năm 2000 và được điều chỉnh tại Quyết định số 3465/QĐ-UBND ngày 12 tháng 12 năm
2006 của UBND tỉnh Phú Thọ. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để địa phương thực hiện
việc quản lý và sử dụng đất từ năm 2001 đến hết năm 2010. Sau một thời gian thực hiện
phương án quy hoạch sử dụng đất, huyện Cẩm Khê đã đạt được nhiều thành tựu trong
phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, một số nội dung của phương án quy hoạch sử dụng
đất chưa được thực hiện triệt để, do nhiều nguyên nhân, dẫn đến tính khả thi của phương
án quy hoạch chưa cao.
Để giúp địa phương nhìn nhận đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch
sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010, phân tích đánh giá những kết quả đã đạt được và
những tồn tại, bất cập trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất; khắc
phục những tồn tại, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của phương án quy
hoạch sử dụng đất của huyện Cẩm Khê giai đoạn tiếp theo (2011 – 2020), góp phần đắc
lực vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện.
Đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Cẩm
Khê, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2010” là thiết thực và cần thiết đối với huyện Cẩm
Khê, tỉnh Phú Thọ.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất trên địa
bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 - 2010, làm rõ những ưu điểm đạt được,
những tồn tại trong thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất và nguyên nhân của những
tồn tại; đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của phương án
quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo (2011 - 2020), góp phần đắc lực vào sự nghiệp
phát triển kinh tế xã- hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện Cẩm Khê, đưa công tác
quản lý nhà nước về đất đai vào nền nếp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
địa hình, mặt nước (hồ, sông suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước
ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của
con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san
nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )
Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài
người được thể hiện theo các mặt sau: sản xuất; môi trường sự sống; cân bằng sinh thái;
điều tiết khí hậu; tàng trữ và cung cấp nguồn nước; dự trữ (nguyên liệu và khoáng sản
trong lòng đất); kiểm soát ô nhiễm và chất thải; Không gian sự sống; bảo tồn - bảo tàng sự
sống; phân dị lãnh thổ.
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ
sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Các Mác đã nhấn mạnh “ Đất là mẹ, lao
động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”.
Đối với các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò là cơ sở không gian để thực
hiện các quá trình lao động, là kho tàng dự trữ các tài nguyên trong lòng đất. Trong nông
nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm phục vụ đời
sống của con người và xã hội. Năng suất và chất lượng của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều
vào chất lượng đất. Đất nông nghiệp là yếu tố đầu vào quan trọng tác động mạnh mẽ đến
hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
1.1.2 Những nhân tố ảnh hƣởng đến sử dụng đất
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện và
quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và
các yếu tố kỹ thuật. Theo nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch đất đai Tổng cục Địa
chính có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất, bao gồm: điều kiện tự nhiên, điều
kiện kinh tế xã hội và nhân tố không gian.
1.1.2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Quá trình sử dụng đất đai cần phải chú ý đến các đặc tính và tính chất đất đai để
xác định yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc sử dụng đất hợp lý như chế độ nhiệt, bức xạ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.2 3 Nhân tố không gian
Tính chất không gian bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích. Đất
đai không thể di dời từ nơi này đến nơi khác. Đất đai phải khai thác tại chỗ, không thể
chia cắt mang đi. Trong thực tế, bất kỳ ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công nghiệp,
xây dựng, khai thác khoáng sản ) đều cần đến đất đai là điều kiện không gian cho các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn6
hoạt động. Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử
dụng đất, các nhân tố không gian có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sử dụng đất, nó sẽ
gián tiếp quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, các yếu tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh
tế xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai.
Tuy nhiên, mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau. Trong đó, điều kiện tự
nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể
và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp; Điều kiện kinh tế sẽ ảnh hưởng tác động
của con người trong việc sử dụng đất; Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau
cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất. Vì vậy, cần phải dựa vào
quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các
nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai.
Sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi phương
thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống
cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất,
các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện theo 4 mặt sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử
dụng đất;
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ
cấu kinh tế sử dụng đất;
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử
nâng cao môi trường. Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà được các mục tiêu kinh tế -
xã hội và môi trường, giải quyết mâu thuẫn, sung đột và hài hòa giữa 3 lợi ích.
1.1.4 Quản lý bền vững tài nguyên đất
Quản lý bền vững tài nguyên đất là quy trình được xây dựng trên nền tảng kiến
thức giúp tích hợp quản lý đất đai, nước sạch, đa dạng sinh học và môi trường (bao gồm
cả các ảnh hưởng ngoại sinh đầu vào và đầu ra) để đáp ứng nhu cầu thực phẩm và vải vóc
đang tăng lên trong khi vẫn duy trì các dịch vụ hệ sinh thái, quản lý bền vững tài nguyên
đất là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu dân số đang gia tăng. Cách quản lý đất không hợp
lý có thể dẫn đến thoái hóa đất và giảm năng lực sản xuất và dịch vụ. Quản lý bền vững
tài nguyên đất bao gồm các hoạt động:
- Duy trì và phát huy tiềm năng sản xuất của đất trồng trọt, đất rừng và các bãi
chăn thả ( như vùng cao, vùng đất dốc, vùng bằng phẳng và vùng đất trũng).
- Duy trì năng lực của đất rừng sản xuất và các nguồn dự trữ rừng thương mại và
phi thương mại tiềm năng.
- Duy trì tính nguyên vẹn của các thác nước để vừa cung cấp nước và đáp ứng nhu
cầu thủy điện, đồng thời duy trì các khu vực trữ nước.
- Duy trì năng lực của các tầng ngập nước đề đáp ứng nhu cầu trồng trọt và các
hoạt động sản xuất khác.
- Quản lý bền vững tài nguyên đất còn bao gồm các hoạt động nhằm chấm dứt và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn8
cải thiện tình trạng suy thoái đất hoặc ít ra là giảm thiểu những tác động bất lợi từ những
cách thức sử dụng không hợp lý trước đó.
Các hoạt động sử dụng đất đã làm biến đổi một phần lớn diện tích đất trên bề mặt trái
đất. Với việc phát quang các khu rừng nhiệt đới, sản xuất nông nghiệp để sinh tồn, tập trung sản
xuất trang trại, mở rộng trung tâm thành thị, con người đang biến đổi cảnh quan thế giới.
1.2 Cơ sở lý luận, ý nghĩa và tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất các cấp
1.2.1 Cơ sở lý luận của quy hoạch sử dụng đất
phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất
nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai. Yêu cầu cấp thiết phải làm quy
hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải
nâng cao kỹ năng sử dụng đất”.
“Quy hoạch sử dụng đất là bản “tổng phổ” của phát triển, trong đó phản ánh cụ thể các ý
tưởng về tương lai của các ngành các cấp nhịp nhàng và cân đối, thông qua những trình tự hành
chính và pháp lý nhất định để trở thành quy chế xã hội, mọi người đều có quyền và nghĩa vụ
thực hiện. Quá trình tổ chức thành lập, thực hiện điều chỉnh quy hoạch là quá trình huy động lực
lượng xã hội vào sự nghiệp công cộng theo phương thức dân chủ, nên đó cũng là quá trình xây
dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân. Do đó quy hoạch sử dụng đất vừa là phương
thức để phát triển vừa là công cụ để xây dựng và củng cố Nhà nước”.
Từ đó có thể hiểu: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật
và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và
có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và
các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường” .
Sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả được hiểu là: mọi loại đất
đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định; các đặc điểm tính chất tự nhiên,
vị trí, diện tích phải phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng; áp dụng thành tựu khoa
học - kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến; đáp ứng đồng bộ cả ba lợi ích kinh tế - xã hội -
môi trường.
Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết
định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất,
thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng
đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết
hợp bảo vệ đất và môi trường.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ
chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất
đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông
nghiệp (đặc biệt là diện tích đấ t lúa và đất có rừng phòng hộ, đặc dụng); ngăn chặn các
Đối tượng của QHSDĐ theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ. Tuỳ
thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, QHSDĐ theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết
khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ
phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước.
Mục đích của QHSDĐ theo các cấp lãnh thổ hành chính là: Đáp ứng nhu cầu đất đai
cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân; cụ thể hoá một bước
QHSDĐ của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; làm căn cứ, cơ sở để các ngành
(cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai QHSDĐ của ngành và địa phương
mình; làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (căn cứ để giao cấp đất, thu hồi đất
theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai); phục vụ cho công tác thống nhất quản
lý nhà nước về đất đai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn11
- Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia: được xây dựng căn cứ vào nhu cầu của nền
kinh tế -xã hôi, trong đó xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ sử dụng đất cả
nước nhằm điều hòa quan hệ sử dụng đất giữa các ngành, các tỉnh và thành phố trực thuộc
Trung ương; đề xuất các chính sách, biện pháp, điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và thực
hiện quy hoạch.
- Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh: xây dựng căn cứ vào QHSDĐ toàn quốc và quy
hoạch vùng; cụ thể hóa các chỉ tiêu chủ yếu của quy hoạch cả nước kết hợp với đặc điểm
đất đai và yêu cầu phát triển KT-XH trong phạm vi tỉnh.
- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện: xây dựng trên cơ sở định hướng của QHSDĐ
cấp tỉnh nhằm giải quyết các mâu thuẫn về quan hệ đất đai. Căn cứ vào đặc điể m nguồn
tài nguyên đất, mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và các điều kiện cụ thể khác
của huyện, đề xuất các chỉ tiêu và phân bổ các loại đất; xác định các chỉ tiêu định hướng
về đất đai đối với quy hoạch ngành và xã, phường, thị trấn trên phạm vi của huyện.
- Quy hoạch sử dụng đất cấp xã: xã là đơn vị hành chính cấp cuối cùng. Vì
vậy, trong quy hoạch cấp xã vấn đề sử dụng đất đai được giải quyết rất cụ thể, gắn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội
quan trọng, xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất, đề ra các phương hướng,
chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế
hoạch sử dụng đất ngắn hạn.
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để thự c hiệ n chiế n lượ c phát triển
KT-XH. Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian
dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến. Thời hạn của quy hoạch sử dụng đất thường từ
trên 10 năm đến 20 năm hoặc xa hơn.
1.2.1.3.4 Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, QHSDĐ chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi
phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự
kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi). Vì vậy, QHSDĐ
mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương
hướng và khái lược về sử dụng đất.
1.2.1.3.5 Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội.
Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất
đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu
phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các
quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái.
1.2.1.3.6 Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện
khác nhau, QHSDĐ chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang
trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi
xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay
đổi, các dự kiến của QHSDĐ không còn phù hợp. Việc điề u chỉ nh, bổ sung, hoàn thiện
quy hoạch là biện pháp thực hiện và cần thiết . Điều này thể hiện tính khả biến của quy
hoạch, QHSDĐ luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc "quy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
* Trình tự, nội dung lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối
- Điều tra, thu thập thông tin, dữ liệu;
- Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14
- Xây dựng kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối;
- Đề xuất các giải pháp thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối .
* Trình tự, nội dung điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
- Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất:
+ Điều tra, phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố làm thay đổi
cơ cấu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch sử dụng đất của huyện đã được xét duyệt;
+ Xây dựng phương án điều chỉnh phân bổ quỹ đất trong thời gian còn lại của
kỳ quy hoạch sử dụng đất cụ thể đến từng đơn vị hành chính cấp dưới;
+ Xây dựng bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất.
- Điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất:
+ Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch tính đến thời điểm
điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất;
+ Xác định phần chỉ tiêu chưa thực hiện đối với diện tích đất được phân bổ cho
các nhu cầu sử dụng, diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng tính đến thời điểm
điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất;
+ Tổng hợp chỉ tiêu trong phương án điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất;
+ Xác định các chỉ tiêu có khả năng thực hiện để bố trí trong thời gian còn lại
của kỳ kế hoạch; các chỉ tiêu không có khả năng thực hiện thì điều chỉnh cho kỳ kế
hoạch sau hoặc công bố huỷ bỏ;
+ Chỉ tiêu sử dụng đất của phương án điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất được
phân bổ cụ thể cho từng năm còn lại của kỳ kế hoạch;
+ Xác định danh mục các công trình, dự án có tầm quan trọng trong thời gian
còn lại của kỳ kế hoạch;
cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Trong
đó, có đề cập đến dự kiến sử dụng đất đai ở mức độ phương hướng với một số nhiệm vụ chủ
yếu. Còn đối tượng của quy hoạch sử dụng đất là tài nguyên đất. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là
căn cứ vào yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội điều
chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng đất; Xây dựng phương án quy hoạch phân phối sử
dụng đất thống nhất và hợp lý. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch tổng hợp
chuyên ngành, cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nội dung của
nó phải được điều hoà thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.1.7.2 Với quy hoạch các ngành
* Với quy hoạch phát triển nông nghiệp
Quy hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
đối với sản xuất nông nghiệp để xác định hướng đầu tư, biện pháp, bước đi về nhân tài,
vật lực đảm bảo cho các ngành trong nông nghiệp phát triển đạt tới quy mô các chỉ tiêu về
đất đai, lao động, sản phẩm hàng hoá, giá trị sản phẩm trong một thời gian dài với tốc độ
và tỷ lệ nhất định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn16
Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng của
quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất tuy dựa trên quy hoạch và dự báo yêu
cầu sử dụng đất của các ngành trong nông nghiệp, nhưng chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ
mô, khống chế và điều hoà quy hoạch phát triển nông nghiệp. Hai loại quy hoạch này
có mối quan hệ qua lại vô cùng mật thiết và không thể thay thế lẫn nhau.
* Với quy hoạch đô thị
Căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và phát triển
của đô thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô, phương châm xây dựng đô
thị, các bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách hợp lý toàn diện, bảo đảm cho
sự phát triển đô thị được hài hoà và có trật tự, tạo ra những điều kiện có lợi cho cuộc
sống và sản xuất. Tuy nhiên, trong quy hoạch đô thị cùng với việc bố trí cụ thể khoảnh