LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Công tác xã hội
trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng
Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi
Người viết cam đoan
Dương Thị Mỹ Duyên
11
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian làm việc, tôi đã cố gắng học tập và làm việc một
cách nghiêm túc, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Công
tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại
xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội”. Để hoàn thành
bài khóa luận này tôi đã nhờ đến sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và bạn
bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa Công tác xã
hội đã tận tình chỉ bảo cho tôi những kinh nghiệm và kiến thức về ngành
Công tác xã hội. Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS. Nguyễn Thị Hương đã trực
tiếp hướng dẫn cho tôi để có thể hoàn thành được bài báo cáo thực tập
này.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới UBND xã Phụng Thượng– Phúc
Thọ - Hà Nội đã tạo điều kiện để cho tôi được về địa bàn làm việc tại đây.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ ban Lao động- xã hội đã
giúp đỡ tôi nhiều về các tài liệu và thông tin liên quan đến vấn đề thực tập.
Và tôi xin cảm ơn sự hợp tác của các đối tượng là các bà mẹ đơn
thân trên địa bàn xã Phụng Thượng đã tận tình phối hợp để có thể trợ giúp
tôi hoàn thành được bài báo cáo này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.
55
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội luôn bắt nguồn từ phạm vi gia
đình và trong suốt cuộc đời của họ thì gia đình là môi trường sống hết sức
quan trọng. mỗi gia đình luôn là một tế bào của xã hội. Vì vậy, mà những
người phụ nữ trong gia đình cũng được ví như những hạt nhân của tế bào
đó. Đồng thời gia đình cũng là nơi thể hiện thực chất sự bình đẳng và nâng
cao địa vị của người phụ nữ . Tuy nhiên hiện nay tình trạng bất bình đẳng
giới đang ngày càng diễn ra phổ biến khắc các khu vực quốc gia và các lĩnh
vực. Mà nạn nhân chính của bất bình đẳng giới chủ yếu là phụ nữ, họ phải
gành chịu những định kiến bất công từ xã hội và bị phân biệt đối xử trong
đời sống xã hội. Trong những năm qua Đảng và nhà nước đã thi hành nhiều
chính sách khác nhau để hướng tới giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới,
giải phóng cho phụ nữ. Tuy nhiên xã hội ngày nay hiện có một bộ phận
những người phụ nữ không có những chỗ dựa về vật chất cũng như tinh
thần đó là phụ nữ đơn thân nuôi con. Họ không chỉ chịu gánh nặng về tài
chính- kinh tế về sức khỏe mà họ còn phải đối diện với rất nhiều những khó
khăn, tủi cực trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực về tâm lý,
tinh thần.
Là phụ nữ ai cũng mong rằng sẽ có một gia đình hạnh phúc bên
người mình yêu thương và con cái mình, sẽ có một chốn để nương tựa để
chia sẻ mọi buồn vui trong cuộc sống. Song không phải phụ nữ nào cũng
đều được may mắn như vậy. Có những người phụ nữ do mang trong mình
những khuyết điểm nào đó hoặc do những điều kiện khách quan mà họ
không có được một gia đình hoàn hảo như bao người khác, không có chồng
nhưng họ vẫn có quyền được làm mẹ và họ quyết định sẽ có con với một
nghiệp trước đây. bà mẹ độc thân cũng sẽ tìm hiểu làm thế nào để tạo ra
một hệ thống hỗ trợ, phát triển tầm nhìn và cải thiện thái độ của họ. Trong
nghiên cứu của bà có nói đến việc trợ giúp những phụ nữ đang gặp rồi loạn
trong việc làm một bà mẹ đơn thân. Thông qua đó để họ có thể tự tin hơn
và thành công hơn trong cuộc sống làm một bà mẹ đơn thân. Nghiên cứu
chỉ ra thấy được những khó khăn về cuộc sống của những bà mẹ đơn thân
về các mặt trong cuộc sống và trong cuốn sách cũng đề cập đến việc hỗ trợ
họ để có thể phát triển hơn.
2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu đầu tiên đó là “ Cuộc sống của những người phụ nữ đơn
thân ở Việt Nam” của trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ
nữ. cuốn sách là công trình nghiên cứu của GS Lê Thi về phụ nữ đơn thân
ở Việt Nam. Tác giả đã tập trung làm rõ các vấn đề như: phụ nứ đơn thân,
thực trạng của họ, những khó khăn mà những người phụ nữ đơn thân phải
đương đầu. Nghiên cứu cũng chỉ ra tâm lý và nhu cầu của người phụ nữ
đơn thân. Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra vai trò của gia đình , cộng đồng
xã hội trong việc hỗ trợ những đối tượng này.
Nghiên cứu“ Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” của trung tâm
7
nghiên cứu Gia đình và Phụ nữ( XB Năm 1996). Nghiên cứu trình bày
những kết quả nghiên cứu của dự án Nghiên cứu những gia đình phụ nữ
thiếu vắng chồng, bắt đầu tiến hành năm 1989, dưới sự tài trợ của tổ chức
SAREC của Thụy Điển. đã trình bày khá chi tiết về cuộc sống của những
gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam trong
bối cành những năm 80 đầu 90. Theo tác giả thì ở khu vực nông thôn miền
Bắc phần lớn những người được hỏi cho rằng vấn đề khó khăn về kinh tế
ảnh hưởng lớn đến cuộc sống gia đình. Đặc biệt nghiên cứu cũng chỉ ra
rằng những người phụ nữ thiếu vắng chồng nhận được rất ít sự trợ giúp từ
TTXVN có bài viết “ LHQ kêu gọi gia tăng quyền lợi cho phụ nữ
vùng nông thôn” (đăng tải ngày 16-12-2102) đã phát động thông điệp
khẳng định việc không ngừng mở rộng quyền và khả năng của phụ nữ nông
thôn. Ngoài ra, thông điệp của ông Banki-moon – Tổng thư kí liên hợp
quốc cũng khẳng định : “ trách nhiệm giải quyết tình trạng phân biệt đối
xử đang thuộc về mọi quốc gia, mọi dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, phải làm
sao để phụ nữ có được tối đa quyền phát triển”, việc này có ý nghĩa đặc
biệt to lớn trong việc xóa bỏ nghèo đói bần cùng và tình trạng phân biệt đối
xử phụ nữ, bất bình đẳng giới cũng có ý nghĩa khi mà hầu hết những phụ
nữ đơn thân nuôi con ở vùng nông thôn đều phải chịu sự phân biệt này.
Quyền của phụ nữ được đề cập đến cả trong Hiến pháp nước
CHXHCN Việt Nam”, bên cạnh những điều khoản thể hiện quyền lợi ích
của công dân nói chung, hiến pháp cũng có những quy định cụ thể về việc
đảm bảo quyền và lợi ích của người phụ nữ. Đây là những căn cứ để chúng
ta có thể trợ giúp cho những người phụ nữ đơn thân trong việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ cũng như bảo vệ lợi ích mà họ được hưởng. Cụ thể trong
điều 40 của hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định “ nhà nước, xã
hội và mọi công dân có trách nhiệm bảo vệ chăm sóc cho bà mẹ và trẻ
em” , trong điều 52, chương 5 – Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy
định “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” . Hay tại điều 63 của
chương này cũng khẳng định : “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau
về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi
hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Lao
động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động
nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và
người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau sinh đẻ mà vẫn được
hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật. Nhà nước và xã hội
tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt , không ngừng phát huy
vai trò của mình trong xã hội”
Vấn đề đơn thân còn được đề cập đến như một hậu quả nặng nề của
nhu cầu của họ rất cấp bách để có thể có cuộc sống tốt hơn mà những đề tài
đa số là nghiên cứu mà chưa triển khai các hoạt động trợ giúp, thực hiện
các vai trò của nhân viên xã hội đối với phụ nữ đơn thân nuôi con. Với đề
tài của tôi ngoài việc tìm hiểu những nhu cầu, khó khăn trong cuộc sống
của phụ nữ đơn thân nuôi con còn có vai trò của nhân viên xã hội đối với
đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con: vai trò kết nối các nguồn lực hỗ trợ,
kết nối với các doanh nghiệp tạo việc làm tăng thu nhập cho họ. Hay cung
cấp các thông tin, chính sách ưu đãi của nhà nước đến với họ.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực tế cuộc sống của phụ nữ đơn
thân nuôi con trê địa bàn xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà
Nội, đề tài tiến hành nhận định, phân tích, đánh giá, từ đó nêu nổi bật được
thực trạng, những khó khăn mà họ gặp phải, những nguyên nhân dẫn đến
những khó khăn đó, những nhu cầu của phụ nữ đơn thân nuôi con và sự cần
thiết phải có sự trợ giúp dành cho các đối tượng này.
10
Đồng thời, đề tài cũng đề xuất xây dựng mô hình CTXH nhằm can
thiệp, hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con để họ có thể vượt qua những rào
cảm từ xã hội và bản thân, khắc phục khó khăn, vươn lên hòa nhập với
cộng đồng xã hội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu một số khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài CTXH ,
phụ nữ đơn thân và các khái niệm có liên quan.
Thông qua khảo sát địa bàn, tiến hành tìm hiểu thực tiễn cuộc sống,
hoàn cảnh của các đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con, phân tích những
khó khăn, những vấn đề mà họ gặp phải trong cuộc sống, những rào cản từ
bản thân họ, từ gia đình, cộng đồng và xã hội đối với những nỗ lực của họ,
nguyên nhân của vấn đề đó.
thuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được các
thông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài và mục tiêu nghiên
cứu. Với đề tài này chúng tôi thực hành khảo sát bằng bảng hỏi đối với 34
chị em là thuộc đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã Phụng
Thượng.
Tổng số phụ nữ đơn thân trên địa bàn xã là 34 nên số bảng hỏi phát
ra sẽ là 34 bảng hỏi cho tất cả phụ nữ đơn thân để khảo sát về vấn đề về
những khó khăn, nhu cầu và những chính sách mà họ được hưởng.
8.3. Phương pháp quan sát.
Quan sát là chú ý đến đặc điểm của người vật hay tình huống và
trong bối cảnh của công tác xã hội. Trong công tác xã hội quan sát là điều
không thể thiếu trong quá trình giao tiếp, khi tiếp xúc với thân chủ nhân
viên xã hội phải quan sát. Vì một trog những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả giao tiếp đó là tâm trạng của thân chủ, tâm trạng ảnh hưởng đến thái
độ, phương pháp truyền đạt, phong cách đối xử, cách phản hồi quan điểm
và cách nhận định vấn đề. Khi tâm trạng của thân chủ không được bình tĩnh
thì dễ xảy ra những hiểu lầm hoặc mâu thuẫn. Vì vậy, trong giao tiếp nhân
viên xã hội phải nắm bắt được tất cả những thông tin, biểu hiện của thân
chủ để có những hành động phù hợp.
Chỉ có thông qua quan sát, nhân viên xã hội mới hiểu được thân chủ
một cách toàn diện vì nhiều khi biểu hiện ngôn ngữ của họ khác xa so với
những gì họ thực chất nghĩ. Khi ta có những thông tin đầy đủ chính xác về
thân chủ qua quan sát ta thêm thấu cảm với họ, giúp họ vượt qua những
khó khăn mà họ gặp phải trong cuộc sống.
Tôi sử dụng phương pháp quan sát để khái quát lại hoàn cảnh và các
mối quan hệ của gia đình thân chủ một cách chính xác và khách quan,
12
không nhận định chủ quan hay đánh giá thân chủ.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON TÌM KIẾM
VIỆC LÀM THÊM.
1.1. Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1 Khái niệm Công tác xã hội
Theo Hiệp hội Công tác xã hội quốc tế và các trường đào tại Công
tác xã hội quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về Công tác xã hội như
sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào quá trình gải quyết vấn
đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội,
tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất
lượng sống của con người. Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành
vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của
con người với môi trường sống.
Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên
nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng
lực đáp ứng nhua cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy
môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân,
gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp
phần đảm bảo an sinh xã hội.
1.1.2 Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con tìm kiếm việc làm
thêm.
* Khái niệm Phụ nữ:
Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con
gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn. Bên cạnh đó từ phụ
nữ, đôi khi dùng để chi đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là
trong nhóm “ quyền phụ nữ “.
Trong bài nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm phụ nữ như sau: “
Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được
cho là người trưởng thành về mặt xã hội. nó cho thấy một cái nhìn trung
lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử
hoặc đi làm xa vắng nhà đã lâu”
Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng chia làm 5 loại:
Phụ nữ có chồng những chồng đã chết; phụ nữ có chồng nhưng
chồng đi làm xa vắng nhà lâu ngày; phụ nữ có chồng nhưng đã li thân,bị
chồng ruổng bỏ; phụ nữ đã li dị với chồng; và phụ nữ chưa kết hôn nhưng
đã có con.
Tóm lại, phụ nữ đơn thân là những người chưa lấy chồng hoặc
không lấy chồng nhưng vẫn có con; và những người có chồng nhưng đã
góa bụa, hoặc ly thân, ly hôn sau đó nuôi con một mình. Đó là những cá
nhân độc lập về kinh tế, tình cảm, có cuộc sống tự do không phụ thuộc vào
người khác. Vậy nên, họ phải tự mình trang trải cuộc sống nuôi chính bản
thân mình và nuôi con cái của họ. Với hoàn cảnh trớ trêu họ vừa là một
người cha vừa phải là một người mẹ, người trụ cột kinh tế trong gia đình, là
chỗ dựa của con cái họ. Điều kiện kinh tế của các hoàn cảnh là mẹ đơn thân
15
hầu hết đều khó khăn bởi không có người giúp đỡ vừa chăm con vừa kiếm
tiền mà phụ nữ thì rất cần chỗ dựa về mọi mặt.
*Khái niệm việc làm.
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới nói
chung và con người nói riêng. Hoạt động kiếm sống của con người nói
chung là việc làm
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu
của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia
công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang
tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm
thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình.
Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã
1.2 Các lý thuyết áp dụng đối với phụ nữ đơn thân nuôi con tìm kiếm
việc làm thêm.
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu.
Năm 1943, Nhà tâm lý học Abraham Maslow đã phát triển một trong
các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Đó là
lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Trong
lý thuyết này, ôGng sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống
trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì
các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước. Theo lý thuyết
của Maslow thì các nhu cầu cơ bản của chúng ta hình thành trong một hệ
thứ bậc các nhu cầu (needs hierachy) - các nhu cầu bẩm sinh của chúng ta
được xếp trong một chuỗi các giai đoạn từ nguyên thuỷ đến tiến bộ. 5 bậc
thang nhu cầu của Maslow là phát hiện xã hội quan trọng mang tính học
thuật cơ bản có khả năng ứng dụng thực tiễn rất cao, giúp các nhà quản lí
có nhân sinh quan soi sáng vào quan điểm lãnh đạo của mình và hình thành
phương pháp hoàn thiện trình độ quản lí. (Học thuyết Maslow và việc phát
triển kỹ năng khuyến khích nhân viên, 2007)
17
Hình 1.1.2: Tháp nhu cầu của A. Maslow
Thứ nhất là: Nhu cầu cơ bản (basic needs): Nhu cầu này còn được
gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological
needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ,
không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây
là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.
Thứ hai là: Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi
không đơn giản có nghĩa là nhuộm tóc lòe lẹt, hút thuốc,…
*Áp dụng lý thuyết vào trường hợp nghiên cứu.
Nhu cầu của mỗi người là khác nhau do vậy phải xét xem nhu cầu
của các đối tượng ra sao để có được những thông tin và lên kế hoạch hành
động trợ giúp được. Qua khảo sát ban đầu thì vấn đề kinh tế đang là vấn đề
cần thiết và hầu hết đều được họ quan tâm bởi vì, một mình họ làm kinh tế,
trụ cột gia đình là việc thật sự khó khăn. Ngoài vấn đề về kinh tế họ muốn
được như bao người khác đó là được mọi người quan tâm, không miệt thị,
coi thường họ vì không phải ai cũng có cuộc sống bằng phẳng có người số
phận trớ trêu nên phải chấp nhận. Những nhu cầu của họ đã được xác định
dựa vào đó để đánh giá xem nhau cầu chính, cấp bách nhất đối với họ là
vấn đề gì? Để lên kế hoạch phối hợp với các tổ chức hỗ trợ họ để giải quyết
được vấn đề.
1.2.2 Lý thuyết hệ thống.
Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác
động qua lại nhau một cách có qui luật để tạo thành một chỉnh thể, từ đó
làm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là ”tính trồi”, đảm bảo thực hiện
những chức năng nhất định. Các đặc trưng, căn cứ để xác định một hệ
thống - Trong một hệ thống có nhiều bộ phận và nhiều phẩn tử hợp thành.
Giữa các bộ phận và các phần tử đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác
động qua lại nhau một cách có qui luật. - Bất kỳ sự thay đổi nào về lượng
cũng như về chất của một phần tử đều có thể làm ảnh hưởng đến phần tử
19
khác và toàn bộ hệ thống và ngược lại, nếu có sự thay đổi về lượng cũng
như về chất của hệ thống đều có thể làm ảnh hưởng đến các phần tử của hệ
thống. Các phần tử hợp thành một thể thống nhất, tạo ra tính chất ưu việt
hơn hẳn từng phần tử tồn tại riêng lẻ không có, đây là tính trồi của hệ thống
nhằm thực hiện những chức năng hay mục tiêu nhất định.
20
+ Tư vấn/ tham vấn hướng dẫn làm các thủ tục hành chính (Hồ sơ xin
việc, hợp đồng lao động,..).
+ Tư vấn/ tham vấn tâm lý cho PNĐT nuôi con trong quá trình làm
việc.( Thay đổi môi trường làm việc, mẫu thuẫn với đồng nghiệp,…)
1.3.2 Biện hộ/ vận động chính sách cho đối tượng:
Hoạt động CTXH thứ hai trợ giúp cho PNĐT đó chính là biện hộ/ vận
động chính sách cho đối tượng. Có rất nhiều các bà mẹ đơn thân không
được hưởng đúng những chính sách của Nhà nước. Chính vì vậy, với vai
trò là nhà biện hộ nhân viên CTXH sẽ là người bảo vệ quyền lợi cho PNĐT
nuôi con để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ
đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ
ra họ được hưởng.
Xét theo điều kiện thực tế ở huyện Phúc Thọ, nhân viên CTXH sẽ thực
hiện hoạt động biện hộ/ vận động chính sách của mình với các chính sách
sau:
+Hỗ trợ kinh phí nuôi dạy con cái.
+Giảm học phí cho con.
+Hỗ trợ tín dụng ưu đãi
+ Hỗ trợ sản xuất
+ Dự án “ Mái nhà tình thương”
+ Dự án “ Nước sạch”
1.3.3 Tổ chức các sinh hoạt nhóm đồng đẳng nhằm tạo ra môi trường
đồng cảm, chia sẻ giúp đỡ nhau trong cuộc sống nói chung và tìm
kiếm việc làm nói riêng cho PNĐT nuôi con:
Công tác xã hội nhóm được coi là một trong những phương pháp can
thiệp chính của nghề CTXH trên thế giới. Những hoạt động nhóm sẽ giúp
cho từng cá nhân nâng cao được khả năng hoàn thành nhiệm vụ giảm bớt
Tổ chức sinh hoạt nhóm đồng đẳng, nhân viên CTXH có thể là người
nhóm trưởng, trực tiếp điều hành nhóm, hoặc có thể là bầu chọn người
trưởng nhóm trong số những người PNĐT nuôi con.
Xét theo tình hình thực tế ở huyện Phúc Thọ, PNĐT nuôi con đã được
tham gia các loại hình nhóm như sau:
+ Sinh hoạt trong nhóm đồng đẳng “Kết nối yêu thương”
+ Sinh hoạt cùng với các hội viên trong Hội phụ nữ xã.
1.3.4. Kết nối nguồn lực hỗ trợ cho PNĐT nuôi con, tìm kiếm việc
làm.
Ở hoạt động này, nhân viên CTXH sẽ có vai trò là người vận động và
kết nối nguồn lực hỗ trợ cho các bà mẹ đơn thân tìm kiếm được một việc
làm phù hợp với khả năng cũng như sức khỏe của họ để từ đó có thể ổn
định cuộc sống cho PNĐT và con của họ.
Với vai trò là người vận động nguồn lực: Nhân viên CTXH sẽ giúp
cho các bà mẹ đơn thân tìm kiếm các nguồn lực về việc làm (nội lực, ngoại
lực). Nguồn lực này có thể bao gồm con người, tài chính, thông tin, sự ủng
hộ về chính sách ,….
Còn với vai trò là người kết nối: Nhân viên CTXH là người có được
những thông tin về các chính sách, dịch vụ việc làm chính vì vậy sẽ giới
thiệu cho PNĐT nuôi con tới các tổ chức, cơ quan, đơn vị đào tạo nghề để
22
họ có thể tiếp cận với các cơ hội việc làm một cách nhanh chóng nhất,
không tốn nhiều thời gian và công sức.
Trong hoạt động kết nối, nhân viên CTXH có thể thực hiện với các
hình thức như sau:
+ Cho vay vốn
+ Giới thiệu việc làm
+ Kết nối với các đơn vị đào tạo nghề trên địa bàn xã, huyện
trợ chỉ trong khoảng 200.000 - 300.000 đồng/người/tháng cho các trường
hợp này là quá ít.
Ngày 27/7, thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 40/2011/QĐTTg quy định về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành
nhiệm vụ trong kháng chiến. Theo quy định này, mức trợ cấp cũng như
quyền lợi của các cựu thanh niên xung phong sẽ được nâng cao hơn trước
đây.
Theo quy định, đối tượng được hưởng chính sách là những thanh
niên xung phong tập trung tham gia kháng chiến trong thời gian từ
15/7/1950 đến 30/4/1975, đã hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương mà
không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độ
bệnh binh, chế độ thương bin, người hưởng chính sách như thuông binh,
chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.
Các đối tượng trên sẽ được hưởng trợ cấp 1 lần, tính theo số năm
thực tế trực tiếp tham gia kháng chiến. Cụ thể, từ đủ 2 năm trở xuống
hưởng mức lương trợ cấp bằng 2,5 triệu đồng/ người. Như vậy, so với
quyết định 104/QĐ- TTg thì mức trợ cấp một lần đã tăng 1 triệu
đồng( trước đây là 1,5 triệu đồng). Nếu trên 2 năm thì từ năm thứ 3 trở đi
mỗi năm được cộng thêm 800.000 đồng.
Khi tính thời gian thực hiện chế độ trợ cấp 1 lần, nếu có tháng lẻ thì
đủ 6 tháng trở lên tính tròn 1 năm, dưới 6 tháng được tính nửa năm.
Trường hợp thanh niên xung phong đã từ trần thì vợ hoặc chồng, bố
mẹ đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của người từ trần được
hưởng trợ cấp 1 lần bằng 3,6 triệu đồng.
Về chế độ trợ cấp hàng tháng, quy định nêu rõ: trường hợp thanh
niên xung phong không con khả năng lao động, sống cô đơn không nơi
nương tựa thì được xét trợ cấp hàng tháng với mức 360.000 đồng và được
điều chỉnh mức trợ cấp tăng thêm khi Chính phủ điều chỉnh mức lương
hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng.
Ngoài ra còn có hàng loạt các mô hình trợ giúp cho nhóm đối
chọn ra 1 số hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và sẽ hỗ trợ kinh phí để xây
nhà cho các hộ xây mới nhà là 20 triệu đồng, còn sửa chữa nhà ở là 10 triệu
đồng. Số tiền này là hỗ trợ nên các hộ này không phải hoàn trả.
Thứ hai, dự án “ Nước sạch” theo dự án này những gia đình, hộ
nghèo, phụ nữ đơn thân có nhu cầu vay vốn với lãi xuất ưu đãi với mức
0.6. Mỗi hộ sẽ được vay với 16 triệu/ lần từ ngân hàng chính sách. Dựa án
được hội liên hiệp phụ nữ xã phổ biến cho người dân những hộ trong diện
được vay nếu có nhu cầu vay để phát triển kinh tế.
Thứ ba, tại Thôn Đông, có quỹ để giúp đỡ những gia đình khó khăn,
những phụ nữ đơn thân đang nuôi con gặp khó khăn về kinh tế. Mỗi gia
đình sẽ đóng góp 500.000 đồng thành lập quỹ. Tổng số tiền là 20 triệu với
số tiền ấy sẽ cho những gia đình nghèo, phụ nữ đơn thân nuôi con có hoàn
cảnh khó khăn vay với lãi xuất thấp đó là 0.4 để họ có thể nuôi con và trang
trải cho cuộc sống.
25